- Thứ 3 Tháng 12 02, 2008 10:23 pm
CHA TÔI VÀ NHỮNG CHUYỆN TÂM LINH
Cha tôi là một sĩ quan trong chế độ Sài Gòn. Ông có thói quen là thích đọc sách và tin vào Đạo Phật, không thích uống rượu như những người xông pha trận mạc ngày xưa. Khi tôi còn nhỏ, thường nhớ mỗi khi hành quân, ông thường đeo một cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm (loại xếp gọn nhỏ bằng ba ngón tay) trước ngực và một sợi dây chuyền có tượng Quan Thế Âm Bồ tát.
Chính ông đã kể lại cho tôi nghe hai chuyện liên quan đến Đức Quan Thế Âm Bồ tát như sau:
1/ Trong trận đánh ở Ban Mê Thuột vào năm 1968, căn cứ của ông bị tràn ngập. Lúc đó ông và viên sĩ quan chỉ huy cùng núp trong hai cái hầm kế nhau. Ở bên đây, ông rất sợ và cầm sợi dây chuyền có Quán Thế Âm lên niệm liên tục, xin Ngài cứu giúp. Trong lúc đó, vị chỉ huy bên kia bị phá hầm và bắn chết tại chỗ. Nhưng không hiểu sao, khi đến hầm của ông thì không có ai thấy, hoặc do bên kia gấp rút gì đó mà ông chỉ nghe tiếng loáng thoáng “thôi đi nhanh đi”... rồi êm luôn. Ông núp ở đó, tay cầm chặt sợi dây chuyền Phật Bà mà muốn xỉu. Phải đến gần chiều tối mới có đoàn Tank của HK kéo vô giải tỏa căn cứ và ông được cứu.
2/ Sau năm 1975, khi ở trại Bù Gia Mập - Phước Long, ông cho biết trong một đêm buồn tủi và thương cho những đồng đội không còn (do vượt trại, do bệnh tật…), ông lén đứng dưới gốc cây và khóc thầm, miệng thì niệm Quan Thế Âm Bồ tát. Lời ông kể lại, ngay lúc đó có một mùi hương thơm ngào ngạt từ đâu đó ở trên không tỏa xuống làm tâm hồn ông cảm thấy an lạc, bình tĩnh trở lại.
3/ Sau ngày trở về gia đình, trong một đêm cầu cơ do cô của tôi tổ chức (chẳng qua để hỏi là vượt biên có an toàn không). Cơ này do một em gái bà con của tôi lúc đó chỉ mới khoảng 10 tuổi cầm cơ. Còn tôi và nhiều người khác đứng xung quanh. Riêng chị của tôi thì cầm một cuốn tập và cây viết để ghi lại khi cơ chạy.
Phải nói thật là có nhiều chuyện huyền bí xung quanh bàn cơ này mà ký ức của tôi còn ghi lại. Đầu tiên, cha tôi bĩu môi cái trò này “tụi bây đi cầu mấy cái vong tầm bậy tầm bạ” Nhưng được một lúc sau, có một vong nhập cơ và xin nói chuyện với ông. Cơ chạy bằng tiếng Anh thật nhanh, chị tôi ghi lại mà không hiểu gì. Cha tôi lúc đó mới giật mình và hỏi đáp với cơ bằng tiếng Anh (vì ông xuất thân từ Hội Việt Mỹ và năm 1970 có đi du học ở HK 02 năm ). Cả hai “nói chuyện” gần nửa tiếng và ông cho biết được gặp trực tiếp một người bạn là phi công đã tử trận (qua cơ). Sau vụ này, cha tôi đăm chiêu ghê lắm vì chắc đã cảm nhận được gì từ thế giới vô hình. Cuốn sổ ghi chép đó gia đình tôi vẫn còn giữ để làm kỷ niệm cho đến sau này.
Sau thời gian dài qua định cư tại California - HK, cha tôi trở lại Việt Nam và việc đầu tiên là đến thăm Sư Ông ở chùa Pháp Tựu tại Quận 8 - Sài Gòn. Đây cũng là ngôi chùa mà khi tôi mới được thôi nôi thì bà nội của tôi đã ẵm lên chùa để quy y và xin pháp danh.
Vừa mới gặp, Sư Ông đã nhìn cha tôi và nói một câu :- Lúc này con tu dữ lắm hay sao mà Trí Huệ tăng nhanh quá?
Tôi ngồi gần đó, ngạc nhiên vì cha của mình có tu cái gì mà sao không nghe kể, nhưng Sư Ông trụ trì đã nhìn là biết ?
Khi về nhà, ông lại kêu vợ tôi đến gần và chỉ cách niệm Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát. Vợ tôi định tâm và niệm theo ông một lúc thì thấy Phật hiện ngay ở giữa chân mày (mãi sau này tôi mới biết chuyện này). Lúc đó tôi mới biết ông đã tu tại gia ở HK và biết là ông theo Mật Tông, nhưng không biết có phải là Mật Tông của Thầy Già hay không?
Vì cha tôi tụng những bài chú bằng tiếng Phạn hàng tràng dài, không có tụng bằng tiếng Hán Việt. Đồng thời ông cũng kể cho tôi nghe kinh nghiệm xuất hồn của mình. Lúc đó tôi thấy ông lạ lắm vì không theo con đường truyền thống của gia đình là Tịnh Độ Tông nữa mà tu theo kiểu gì lạ quá. Mãi đến sau này tôi mới biết đó là Mật Tông vậy.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, giờ đây tôi mới được tập tễnh bước vào con đường Mật Tông của Thầy Già. Sư tỷ Tami có nói một câu: Duyên Cha đã đưa đẩy để người con cùng theo tu tập một con đường.
Bốn mươi mấy năm làm người, một thời ngã mạn vì chỉ biết đến kinh điển Đại thừa, một vài lý thuyết Thông Thiên Học…. giờ đây tôi mới biết trời cao ở đâu? Đất dày ở đâu?… khi đến với Mật Tông của Thầy Già.
Một vài kỷ niệm về cha tôi mà tôi nhớ mãi để bây giờ thật hối hận trong lòng là sao không được ông chỉ điểm sớm để tu tập theo Mật Tông từ mười năm trước.
Để giờ đây, nhờ duyên mới gặp được chư huynh đệ, sư tỷ trong hệ thống của Thầy Già chỉ điểm từng bước đường tu.
Tôi không dám mong cầu nhưng ước gì ai có thể giúp tôi gặp được ông và biết ông đang ở cõi giới nào chỉ để nói một câu: Dù lúc đó cha không chỉ con đường đi đến Chân lý cho con nhưng con đã bước chân vào Mật Tông rồi như cha vậy!
Cha tôi là một sĩ quan trong chế độ Sài Gòn. Ông có thói quen là thích đọc sách và tin vào Đạo Phật, không thích uống rượu như những người xông pha trận mạc ngày xưa. Khi tôi còn nhỏ, thường nhớ mỗi khi hành quân, ông thường đeo một cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm (loại xếp gọn nhỏ bằng ba ngón tay) trước ngực và một sợi dây chuyền có tượng Quan Thế Âm Bồ tát.
Chính ông đã kể lại cho tôi nghe hai chuyện liên quan đến Đức Quan Thế Âm Bồ tát như sau:
1/ Trong trận đánh ở Ban Mê Thuột vào năm 1968, căn cứ của ông bị tràn ngập. Lúc đó ông và viên sĩ quan chỉ huy cùng núp trong hai cái hầm kế nhau. Ở bên đây, ông rất sợ và cầm sợi dây chuyền có Quán Thế Âm lên niệm liên tục, xin Ngài cứu giúp. Trong lúc đó, vị chỉ huy bên kia bị phá hầm và bắn chết tại chỗ. Nhưng không hiểu sao, khi đến hầm của ông thì không có ai thấy, hoặc do bên kia gấp rút gì đó mà ông chỉ nghe tiếng loáng thoáng “thôi đi nhanh đi”... rồi êm luôn. Ông núp ở đó, tay cầm chặt sợi dây chuyền Phật Bà mà muốn xỉu. Phải đến gần chiều tối mới có đoàn Tank của HK kéo vô giải tỏa căn cứ và ông được cứu.
2/ Sau năm 1975, khi ở trại Bù Gia Mập - Phước Long, ông cho biết trong một đêm buồn tủi và thương cho những đồng đội không còn (do vượt trại, do bệnh tật…), ông lén đứng dưới gốc cây và khóc thầm, miệng thì niệm Quan Thế Âm Bồ tát. Lời ông kể lại, ngay lúc đó có một mùi hương thơm ngào ngạt từ đâu đó ở trên không tỏa xuống làm tâm hồn ông cảm thấy an lạc, bình tĩnh trở lại.
3/ Sau ngày trở về gia đình, trong một đêm cầu cơ do cô của tôi tổ chức (chẳng qua để hỏi là vượt biên có an toàn không). Cơ này do một em gái bà con của tôi lúc đó chỉ mới khoảng 10 tuổi cầm cơ. Còn tôi và nhiều người khác đứng xung quanh. Riêng chị của tôi thì cầm một cuốn tập và cây viết để ghi lại khi cơ chạy.
Phải nói thật là có nhiều chuyện huyền bí xung quanh bàn cơ này mà ký ức của tôi còn ghi lại. Đầu tiên, cha tôi bĩu môi cái trò này “tụi bây đi cầu mấy cái vong tầm bậy tầm bạ” Nhưng được một lúc sau, có một vong nhập cơ và xin nói chuyện với ông. Cơ chạy bằng tiếng Anh thật nhanh, chị tôi ghi lại mà không hiểu gì. Cha tôi lúc đó mới giật mình và hỏi đáp với cơ bằng tiếng Anh (vì ông xuất thân từ Hội Việt Mỹ và năm 1970 có đi du học ở HK 02 năm ). Cả hai “nói chuyện” gần nửa tiếng và ông cho biết được gặp trực tiếp một người bạn là phi công đã tử trận (qua cơ). Sau vụ này, cha tôi đăm chiêu ghê lắm vì chắc đã cảm nhận được gì từ thế giới vô hình. Cuốn sổ ghi chép đó gia đình tôi vẫn còn giữ để làm kỷ niệm cho đến sau này.
Sau thời gian dài qua định cư tại California - HK, cha tôi trở lại Việt Nam và việc đầu tiên là đến thăm Sư Ông ở chùa Pháp Tựu tại Quận 8 - Sài Gòn. Đây cũng là ngôi chùa mà khi tôi mới được thôi nôi thì bà nội của tôi đã ẵm lên chùa để quy y và xin pháp danh.
Vừa mới gặp, Sư Ông đã nhìn cha tôi và nói một câu :- Lúc này con tu dữ lắm hay sao mà Trí Huệ tăng nhanh quá?
Tôi ngồi gần đó, ngạc nhiên vì cha của mình có tu cái gì mà sao không nghe kể, nhưng Sư Ông trụ trì đã nhìn là biết ?
Khi về nhà, ông lại kêu vợ tôi đến gần và chỉ cách niệm Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát. Vợ tôi định tâm và niệm theo ông một lúc thì thấy Phật hiện ngay ở giữa chân mày (mãi sau này tôi mới biết chuyện này). Lúc đó tôi mới biết ông đã tu tại gia ở HK và biết là ông theo Mật Tông, nhưng không biết có phải là Mật Tông của Thầy Già hay không?
Vì cha tôi tụng những bài chú bằng tiếng Phạn hàng tràng dài, không có tụng bằng tiếng Hán Việt. Đồng thời ông cũng kể cho tôi nghe kinh nghiệm xuất hồn của mình. Lúc đó tôi thấy ông lạ lắm vì không theo con đường truyền thống của gia đình là Tịnh Độ Tông nữa mà tu theo kiểu gì lạ quá. Mãi đến sau này tôi mới biết đó là Mật Tông vậy.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, giờ đây tôi mới được tập tễnh bước vào con đường Mật Tông của Thầy Già. Sư tỷ Tami có nói một câu: Duyên Cha đã đưa đẩy để người con cùng theo tu tập một con đường.
Bốn mươi mấy năm làm người, một thời ngã mạn vì chỉ biết đến kinh điển Đại thừa, một vài lý thuyết Thông Thiên Học…. giờ đây tôi mới biết trời cao ở đâu? Đất dày ở đâu?… khi đến với Mật Tông của Thầy Già.
Một vài kỷ niệm về cha tôi mà tôi nhớ mãi để bây giờ thật hối hận trong lòng là sao không được ông chỉ điểm sớm để tu tập theo Mật Tông từ mười năm trước.
Để giờ đây, nhờ duyên mới gặp được chư huynh đệ, sư tỷ trong hệ thống của Thầy Già chỉ điểm từng bước đường tu.
Tôi không dám mong cầu nhưng ước gì ai có thể giúp tôi gặp được ông và biết ông đang ở cõi giới nào chỉ để nói một câu: Dù lúc đó cha không chỉ con đường đi đến Chân lý cho con nhưng con đã bước chân vào Mật Tông rồi như cha vậy!