Chưa xemBởi Duyên Ngộ
Chùa Thắng Nghiêm thuộc địa phận thôn Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; cách trung tâm Thủ đô khoảng 15 kilômét về phía Nam. Chùa nằm trong quần thể Thánh tích làng Khúc Thủy, một địa phương mang đậm bản sắc văn hoá tâm linh Phật giáo với những danh thắng nổi tiếng như chùa Linh Quang, chùa Thắng Nghiêm, chùa Phúc Khê (tức chùa Dâu); đình, đền, miếu, văn chỉ, nhà thờ dân và nhà thờ các dòng họ lớn trong làng v.v… Chùa là nơi trụ xứ tu hành của nhiều bậc danh Tăng, danh Tướng thời Lý (1009-1225) và thời Trần (1225-1400) như: Khuông Việt Quốc sư, Vạn Hạnh Quốc sư, Trùng Liên Bảo Tích Quốc sư, Đạo Huyền Quốc sư, Huyền Thông Quốc sư (tức Linh Thông Hòa thượng Đại vương), Hưng Đạo Đại vương… Trải qua bao biến thiên của lịch sử, chùa Thắng Nghiêm đã mang nhiều tên gọi khác nhau như: chùa Bụt, chùa Pháp Vương tức chùa Bà Chúa Hến (thời nhà Đinh), chùa Thắng Nghiêm (thời nhà Lý), chùa Trì Long, chùa Trì Bồng (thời nhà Trần), chùa Liên Trì (thời nhà Lê), chùa Phúc Đống (thời nhà Nguyễn) và danh hiệu Phật Quang Đại Tùng Lâm là tên gọi chung cho cả quần thể Thánh tích.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Trần Liễu thời Lý được phong làm Phụng Càn vương. Năm 1228, vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) phong Liễu làm Thái úy. Đến năm 1234, Thái thượng hoàng Trần Thừa băng hà, Trần Liễu lên làm Phụ Chính vương (sách sử còn gọi là Hiển Hoàng).

Năm 1236, Trần Liễu phạm cung cấm bị giáng xuống làm Hoài vương. Năm 1237, Trần Thủ Độ ép vua Trần Cảnh lấy Thuận Thiên (là vợ Trần Liễu đang có mang 3 tháng, vì vợ vua Trần Cảnh là Lý Chiêu Hoàng chưa có con). Mất vợ, Trần Liễu nổi loạn. Do sợ bị diệt vong, Trần Liễu sai em gái là Thụy Bà Công chúa (hay còn gọi là Đoan Bà) đưa con trai là Trần Quốc Tuấn đi lánh nạn. Đoan Bà cùng gia nhân giả làm thương gia đưa Trần Quốc Tuấn đến chùa Trì Long, thuộc trang Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Nam Thượng. Khi đó, chùa Thắng Nghiêm do Thiền sư họ Lý, pháp hiệu Đạo Huyền trụ trì. Ông là vị danh Tăng tinh thông Tam tạng, Giới đức trang nghiêm, uy tín bậc nhất thời đó. Đoan Bà giao Trần Quốc Tuấn, khi đó khoảng 7 tuổi, cho Thiền sư Đạo Huyền nuôi dưỡng. Thiền sư nhìn Trần Quốc Tuấn mỉm cười mà nói rằng: “Thật đúng là duyên mệnh Phật Trời đã định sẵn”. Từ đó, ngày qua tháng lại, Thiền sư Đạo Huyền truyền dạy cho Trần Quốc Tuấn Tam tạng Thánh điển, pháp thuật bí truyền. Với trí tuệ siêu phàm, chẳng bao lâu Quốc Tuấn đã tinh thông giáo pháp, văn võ kỳ tài không ai sánh kịp.

Lại nói, sau khi Trần Liễu nổi loạn bị giáng xuống làm Hoài vương, vua Trần Thái Tông không những tha không giết mà còn phong vương, cấp cho đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc Đông Triều, Quảng Ninh) để Trần Liễu về trấn giữ và phong tước hiệu qua các thời kỳ là Hiển Hoàng, Hoài vương, An Sinh vương. Nội cung yên ổn, Trần Liễu cùng đoàn tùy tùng tới trang Khúc Thủy, chùa Trì Long cảm tạ ơn dưỡng dục và thỉnh Thiền sư cùng đón Trần Quốc Tuấn hồi cung, năm đó Quốc Tuấn tròn 21 tuổi.

Sau khi hồi cung, Trần Quốc Tuấn được mời vào nội điện ra mắt vua Trần Thái Tông. Vua nhận thấy Quốc Tuấn tướng mạo phi phàm, tài trí vẹn toàn, thật xứng danh là bậc kỳ tài trong thiên hạ, bèn phong làm tướng trấn giữ biên ải phương Bắc.

Năm Mậu Ngọ (1258), quân Nguyên Mông đem hơn 30 vạn quân tiến qua biên ải, Trần Quốc Tuấn được phong Tiết chế kiêm Tả hữu thủy lục tướng quân, chỉ huy quân đội đánh giặc. Ngày 12 tháng 3 năm đó (1258), Trần Quốc Tuấn dẫn quân về Khúc Thủy, Khê Tang thành lập tinh binh trên dòng Nhuệ giang, chiêu hiền giúp nước. Khúc Thủy tuyển được 370 người, Khê Tang tuyển được 271 người gia nhập đội quân tinh nhuệ. Trần Quốc Tuấn đem 16 vạn tinh binh đóng đồn từ Tam Đái đến cửa sông Vọng Đức, Bạch Đằng, Lục Đầu Giang để đánh đuổi quân xâm lược. Sau khi thắng trận trở về, nhân dân ca khúc khải hoàn, Vua xuống chiếu sắc phong Ngài là Hưng Đạo Đại vương. Hưng Đạo Đại vương ban thưởng cho Khúc Thủy, Khê Tang 100 lượng vàng và đích thân đứng ra tu sửa chùa Trì Long.

Năm 1284, vua Nguyên lại sai Thái tử Trấn Nam vương Thành Hoan (chính sử ghi là Thoát Hoan) đem trăm vạn tinh binh một lần nữa xâm lược nước ta. Với tài thao lược binh cơ, Hưng Đạo Đại vương thống lĩnh ba quân, lĩnh mệnh chinh Nguyên, tiến hành thủy chiến trên sông Bạch Đằng, lập chiến công vô cùng hiển hách.

Ngay sau khi bại trận về nước, năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngũ, bổ sung lực lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thảo để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288. Cũng giống như hai lần trước, chúng đã bị quân dân Đại Việt đánh cho tan tác và từ đó không dám gây chiến với Đại Việt nữa.

Đất nước thanh bình thịnh trị, Hưng Đạo Đại vương trở về thăm lại chùa xưa. Năm 79 tuổi, Ngài xin về Vạn Kiếp an dưỡng tuổi già. Năm 82 tuổi, ngày 10 tháng 8 mùa thu, Ngài lâm bệnh, thị tịch ngày 20 tháng 8, giờ Ngọ. Vua phong cho Ngài mỹ hiệu “Quốc lão Hiển tướng Đại vương”, cho Khúc Thủy, Khê Tang làm “Hộ Nhi hương”, thờ Quốc Tuấn Đại vương làm Thượng Đẳng thần, cử trọng thần Xuân Thu Nhị Kỳ về tế lễ.


Ngược dòng thời gian, sau khi Thiền sư Đạo Huyền cùng Trần Quốc Tuấn về triều yết kiến Thái Tông Hoàng đế, Đạo Huyền được phong làm Quốc sư, phò Vua, giúp nước. Từ đây, trong Thiền phả không thấy nhắc đến các sư kế đăng trụ trì, mãi đến đời thứ 11 nhà Trần (vua Thuận Tông, húy Ngung, con trai út vua Nghệ Tông), mới có Linh Thông Hòa thượng Đại vương về trang Khúc Thủy thắp sáng ngọn đèn thiền.


Thiền phả chép: “Linh Thông Hòa thượng Đại vương thuộc thời Trần, xét xưa kia nước ta mở vận hơn hai nghìn năm lấy hiệu là Hùng Vương, trải qua các triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều có các minh quân (vua sáng) trị vì đất nước”. Khi ấy, ở trại Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, xứ Nam Định, có gia đình họ Trần đời đời làm quan tướng trong triều. Nhà Lý trải qua tám đời vua, vận nước cáo chung mới có nữ quân là Chiêu Hoàng lên ngôi. Trần Thủ Độ làm quan trọng thần trong triều, đưa cháu ruột là Trần Cảnh vào cung, ép gả Chiêu Hoàng. Việc nhà Trần kế nghiệp đế vương nhà Lý mà không hề có nghiệp chiến tranh, đó há chẳng phải là trời đất giao hòa sao?...

Trích lịch sử chùa Thắng Nghiêm.
(Sa môn Thích Minh Thanh ghi lại lịch sử)
Chưa xemBởi Duyên Ngộ
Trích "Ngọc phả Tiết chế Quốc lão hiển tướng đại vương triều Trần" tại Đền Bắc Lãm, thuộc thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Bản Ngọc phả này gần như còn nguyên vẹn, được cổ nhân viết trên giấy dó thể chữ chân, khổ 15 x 20, gồm 15 tờ được các nhà nghiên cứu văn hóa dịch nghĩa và gửi tham gia Hội thảo Hán Nôm học năm 2008:

"Nước Việt xưa, trời Nam mở vận, Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn hai nghìn năm, Hùng Vương dựng hiệu, trải đến các vị minh quân triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều chuẩn cho huyện Chí Linh, phủ Thiên Tường, xứ Nam Định, tức Mặc Trại có họ Trần, vốn là đại thần của Lý đế. Khi ý trời cáo chung, cơ đồ nhà Lý mạt, Nữ quân Chiêu Hoàng lên ngôi, Trần Thủ Độ phụ chính, điều hành quốc sự. Khi ấy có cháu là Trần Dung công vào làm Nội thị, dung mạo khác thường, Nữ quân Chiêu Hoàng vui vẻ nhường ngôi, thiên tâm đã định ở nhà Lý, nhà Trần không chiến mà thành, há chẳng phải ý của đất trời! Vậy có thơ rằng:

    "Phút chốc khuynh thành há chiến tranh
    Thiên tử đăng ngôi tự nhiên thành
    Đều do thiên mệnh lòng người thuận
    Bách quỹ qui về bậc đức danh".

Lại nói, Trần Thái Tông nối nghiệp Lý gia (vua họ Trần, húy Dung, tiên tổ họ Mân, 4 đời sống ở Lang Mặc, cha là Trần Thừa, mẹ là Lê Thị An, vua là con thứ, anh trai là Liễu công, chú là Trần Thủ Độ. Vua ở ngôi 33 năm, thọ 60 tuổi. Vua thuở nhỏ thông minh thánh triết, đại độ chí nhân, có khí tượng của bậc đế vương). Thời ấy, anh vua là Trần Liễu công, tuổi ngoại 30, phụ mẫu trước đây đều là dân miền sông nước, mộng thấy giao long nhập miệng mà sinh Liễu công, ông tính bẩm thông minh trí tuệ, tài đức hơn người. Khi vua được nước mà lên ngôi phong Liễu huynh làm Thái úy, nhậm phủ Thanh Hóa. Liễu công lấy gia nữ họ Lã ở trại Vạn Kiếp làm Chính phi (húy Hồng), nên vợ nên chồng qua khoảng mấy năm uyên ương thắm thiết, cầm sắt giao hòa, sớm ứng mộng lân. Một hôm, Lã nương nằm ở phía lầu tây rồi ngủ thiếp đi, mộng thấy mây ngũ sắc bay từ trên trời giáng xuống hoá thành người đi đến trước mặt, trong mây lại thấy hai thanh đồng, một người mặc áo xanh, một người mặc áo đỏ. Đồng tử áo xanh, tay cầm trượng đỏ đầu vàng, đồng tử mặc áo đỏ cầm kim đao. Hai đồng tử giao chiến, đồng tử áo đỏ thua chạy, đồng tử áo xanh truy đuổi trảm được đồng tử áo đỏ rồi mang đầu đi bộ trở lại nhập thẳng vào bụng Lã nương. Phi tỉnh giấc biết đó là mộng, thế rồi đem việc đó kể với Liễu công. Liễu công bèn bảo với Phi rằng: “Nhà ta phúc hậu mà trời ban cho, việc ấy tất có thiên thánh giáng trần, ắt sinh ra tuấn kiệt, không phải là cái mộng bình thường”. Sau đó, Lã nương có mang 13 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm Ất Mão thì sinh hạ được một người con trai, thể mạo sáng ngời, tư chất vời vợi, mặt như chữ điền, ngũ nhạc chầu thiên, mi Nghiêu mắt Vũ, vai Vũ mày Thang, thật là kỳ nhân trên đời. Trong lúc sinh, mây hồng một phiến từ trời giáng xuống nhập thẳng vào phòng, ánh sáng huy hoàng, ngát thơm khắp phòng. Sau khi sinh được trăm ngày, cha mẹ yêu quý như châu ngọc bèn đặt tên là Tuấn công.

Thời ấy, Thái úy Liễu công vâng mệnh vua đi chinh phạt Chiêm Thành, khi dẹp xong trở lại kinh đô, vua tái phong làm Càn vương, cung phi làm Chánh thái hậu. Khi ấy ông đã thôi nhiệm phủ Thanh Hóa. Bấy giờ, Thái Tông nghe nhiều gian mưu của Thủ Độ, muốn cướp thiếp của Liễu huynh (tức là cung phi của triều Lý) cưới làm vợ lẽ. Lòng Liễu công đại giận, làm loạn Văn Giang, ông gửi Tuấn công sống với cô ruột (tức là muội của Liễu công) là Thuỵ Ba công chúa. Năm ấy Tuấn công bảy tuổi, thật là người có anh tài, dũng lược, mưu trí khác người thường. Cũng vì Liễu công hận vua mà làm loạn Văn Giang nên Công chúa Thuỵ Ba lo sợ bụng dạ Trần Thủ Độ, không bắt Liễu công ắt bắt con của ông mà hành tội, bèn đem Tuấn công chạy tìm nơi khác để giấu nuôi dưỡng. Hôm đó, Thụy Ba công chúa sai thân nhân giả làm người buôn bán đem ông (tức Tuấn công) giấu đi. Một hôm, có người đưa ông đến xã Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam Thượng. Bấy giờ, đất Khúc Thủy có một ngôi chùa lớn cạnh đường cái ven sông, gọi là chùa Trì Long (sau này Lê Thái Tổ đổi làm chùa Trì Bồng), có người họ Lý làm Thống nhân giữ chùa tên là Đạo Huyền, người này có kỳ binh linh nghiệm, dị thuật kỳ tài. Thống nhân nhìn thấy ông hỏi rằng: “Phụ mẫu của ông xứ nào, có thể cho biết danh tính được không?”. Tuấn công trả lời: “Cha mẹ vốn là thường dân buôn bán, bởi bị thua lỗ mà nợ nhiều, cho nên dắt đem con thơ trốn đi nơi khác để nuôi dưỡng vậy”. Thống nhân nghe vậy lại nhìn thể mạo khôi ngô của ông, trong lòng thương cảm bèn bảo người kia rằng: “Ta muốn truyền đạo pháp cho đứa bé này, hôm nay gặp gỡ tất là từ tâm dẫn đến cửa thiền, muốn nuôi dưỡng có được không?”. Người kia trả lời: “Vâng!”. Rồi đồng ý gửi ông ở đó và trở về. Từ đó, ông theo Thống nhân thụ truyền đạo pháp, trải qua ba năm tâm truyền khẩu thụ kỳ môn, dị thuật, ông đều nhập hết trong lòng, đã đắc được cái đạo ấy.

Khi ấy, đất xã Khê Tang có cây cổ thụ, tán kéo dài hai ba nơi, gốc ở đường ngõ bản ấp, thường có yêu khí tụ tập ở đây. Nhiều người trong ấp bị hại, yêu khí biến hiện bất thường, có thể làm tật bệnh lây truyền. Lúc này, nhân dân nghe ở chùa Khúc Thủy có vị Thống nhân trụ trì, đạo cao, đắc pháp, nhân dân xa giá đến đón. Chẳng may, vị Thống nhân đi trợ giúp nơi khác, đường xa chưa về, chỉ có Tuấn công ở đó, nhân dân hỏi ông: “Sư thống du ở phương nào, thanh tiểu có thể cho biết được không?”. Ông trả lời: “Tôi không phải là Thanh đồng, không phải tiểu trong chùa. Nhân dân có việc gì mà hỏi Sư trưởng, nếu có thể giúp, tôi nguyện thay ông cũng giúp được vậy!”. Nhân dân nghe vậy, ngầm nghĩ Thanh đồng tuổi nhỏ, ngôn ngữ chẳng phải người thường lấy làm việc lạ. Nhân dân lại hỏi rằng: “Nhân dân địa ấp nhiều người bị tật bệnh hoành hành, ông có thể giúp được không?”. Ông lại nói:“Việc nước phải giúp yên ổn há yêu khí nào mà làm khó được”. Nhân dân nghe vậy liền đón ông về ấp. Hôm đó, ông về đến địa ấp (tức Khê Tang) thì tối, nhân dân trong ngõ ấp nghe tiếng của nhiều người khóc lóc, tiếng nói trong ấp ngoài ngõ, trên tường, trong cổng cùng nói rằng: “Dân chúng nay có chủ quản đến nắm giữ, chúng ta chạy mau, nếu còn kéo dài tất bị chủ quản bắt tội”. Nói xong, lại khóc ầm ĩ rồi thi nhau bỏ chạy. Nhân dân cho đấy là việc lạ, cùng họp lại nói với Tuấn công. Vừa sáng sớm, ông truyền nhân dân thiết lập đàn tràng, trai giới cầu đảo, tế lễ trời đất, truyền nhân dân mua giấy ngũ sắc rồi đứng trước đàn (đàn tràng dựng ở đầu ngoài phía phải bãi đất, bên trái nơi đường ngõ dân đi, giữa gốc cây cổ thụ nơi phát ra yêu khí), miệng niệm thần chú, đặt giấy ngũ sắc ở trong đàn, thiết lập một đàn nhỏ. Ông niệm chú xong, một trận gió nổi, lôi đình dữ dội, trời đất u minh, cây cổ thụ bị hủ mục rồi gãy, rồi thấy giấy ngũ sắc tán bay hết lên trời, được một lát trời lại sáng trở lại, xuất hiện một con đại xà dài hơn mười trượng nằm chết ở gốc cây, giấy ngũ sắc quấn quanh thân con xà, trong khoảnh khắc con xà biến thành nước. Từ đó nhân dân yên ổn, mãi mãi không còn yêu khí hoành hành. Hôm đó, nhân dân (tức Khê Tang) hành lễ tạ ơn và xin làm tôi con của ông, ông bèn bảo với nhân dân rằng: “Ta nay trong bước tang bồng, vả lại gia thế lại có phúc hậu đều là vì dân, há lại ở trên dân được chăng! Nay đến với nhân dân, cậy nhờ Đạo sư học đạo ở Khúc Thủy đắc đạo pháp để giúp hoạn nạn của dân kết thành nghĩa lớn, há chẳng phải đạo trời dẫn đến, nhân dân ở đây đã có lòng hậu báo, ta cũng bằng lòng”. Ông viết thêm cho nhân dân mỹ tự, tên huý để nhân dân phụng tự và trấn yêu tinh không thể phục khởi. Ông lại nói với nhân dân rằng: “Dựng một nhà nhỏ, mỗi tháng hai kỳ đến ngày sóc vọng thiết lập hiệu của ta, bí mật nguyện cầu ta đến để giữ trấn yêu tinh rồi sau tự sẽ ổn”. Nhân dân, phụ lão đều theo mệnh ông. Xong việc, ông trở về chùa Khúc Thủy, khi đó bỗng thấy binh sỹ loan giá đến đón ông, người đứng đầu thưa với ông rằng: “Nay vua đã dụ Càn Vương hồi triều, tái thăng làm Hiển hoàng, nay mệnh tiểu thần đón ông về triều thống soái nhân dân”. Nhân dân Khúc Thủy và Khê Tang thấy vậy, tất cả đều tròn mắt kinh ngạc, ngay hôm trước đó (tức ngày 10 tháng Giêng) hành lễ bái lạy chúc mừng. Ông tạ lễ trước Phật và đón Thống sư về kinh thành để báo đáp đạo thầy phụng dưỡng (sau này, Thống sư hoá tại Hoan Châu, tức đất Nghệ An, cũng có lập miếu phụng tự ở đất Khổng Tước, Hoan Châu). Việc trong chùa đều ủy thác cho nhân dân bảo giữ. Từ đó, nhân dân xã Khúc Thủy, xã Khê Tang biết Tuấn công là chi phái của tông thất hoàng gia đều nhất mực kinh sợ, nguyện theo làm tôi con của ông.

Lại nói, từ khi theo giá hồi triều, năm đó Tuấn công đã 21 tuổi mới nhập điện vua, khấu tạ bệ ngọc, diện kiến mặt rồng. Vua thử tài năng của ông thì quả thực là anh hùng quán thế, dũng lược hơn người, thật là có kỳ mưu dị thuật, bèn ban chỉ và sủng ái, ông sớm tối bên cạnh vua, triều đình cử ông làm Hành khiển điển vệ tướng quân, phòng ngự biên giới phía bắc..."

Trích thông báo Hán Nôm học 2008.