Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
II. Người trên trái đất


Các nhà siêu-hình-học đều công nhận rằng Ðại-lục Mu cũng tên là Lemuria, trong quá khứ là nơi phát nguyên nền văn minh. Ðại lục ấy là một vùng đất đai rộng lớn đi từ bắc California đến nam Peru bao gồm một phần lớn Thái Bình Dương mà những đảo Hawaii, Tahiti, Polynesia và Easter là những di tích còn sót lại. Từ miền tây California, bấy giờ thuộc bờ biển của Lemuria sang đến Bắc mỹ là biển cả trong đó có vùng Hồ Mặn (Great Salt Lake) tại Utah. Lưu vực sông Mississippi là bờ biển phía tây của lục địa Hoa Kỳ ngày nay. Nhưng khi Lemuria bị chìm xuống và đất nhô lên thành dãy núi Rocky và Appalachian thì trong một thời gian, sông Mississippi đổ vào những Ðại Hồ (Great Lakes), trước khi một thiên tai khác, một lần nữa, thay đổi địa thế.

Các dẫn-đạo-sư ước rằng người thái-cổ đã có ở trên trái đất từ năm đến bảy triệu năm sau khi những bán-nhân thô lỗ đã được sinh ra từ nhiều triệu năm trước. Người đầu tiên là Amelius có thân hình nhẹ nhàng, có thể hiện diện tức thì tại bất cứ nơi nào trên trái đất. Amelius và những người sau cũng có thân hình nhẹ như thế, đều có khả năng chuyển ý nghĩ thành sự thật và di chuyển những vật nặng bằng cách phân tán ra và kết hợp lại những nguyên tử của vật ấy. Chính Amelius cũng là một ý nghĩ của Thượng-Ðế chuyển thành sự thật.

Theo dẫn-đạo-sư nhiều người thái-cổ cao trên ba thước rưỡi và những loài thú, cá, chim, phối hợp với họ để sinh sản ra những con dị hình to lớn, một số những con này có nhiều tài lạ khiến chúng được tôn thờ trong thần thoại Hy-Lạp và La-Mã.

Trong thời Amelius sống trên trái đất với hình thể nhẹ nhàng, con người không bị bám chặt trên mặt đất vì sức hút của từ lực nên không nặng nề. Amelius là một thư-hùng lưỡng-thể, nghĩa là có đủ âm lực và dương lực là một người mẫu hoàn toàn, chỉ trừ không thể ăn uống, tiêu hoá và sinh sản, bản năng này chỉ được phú cho người sau này khi đã được phân chia nam nữ. Những người bất tử đầu tiên ấy luôn luôn ở trong tình trạng trẻ trung không già không chết như người vật chất. Họ muốn đến đâu là tức thì đến đó, cũng như hình ảnh ti-vi được thấy tại tất cả mọi nơi nếu có máy thích hợp. Họ ở Atlantis, Lemuria, ở Mỹ Châu, Á châu, ở đâu họ cũng tìm cách an ủi và dạy bảo những kẻ dị hình.

Ðến khi Thượng-Ðế đặt ra luật loại nào sinh sản ra loại ấy, khiến cho không thể trộn lẫn hai loại khác nhau thì người không còn phối hợp được với thú, chim, cá và sinh sản ra loại dị hình nữa. Từ khi có Adam và Eve đầu tiên đã phân chia nam nữ, sinh sản loài người lan tràn trên mặt đất và thời kỳ vàng son trên Lemuria lý tưởng quá sức tưởng tượng của người hiện đại, đến nay đã hơn bốn triệu năm.

Những người đầu tiên sinh sản nhanh chóng vì sự sinh nở tự nhiên không khó khăn nên có nhiều phụ nữ sinh mấy chục con trong đời họ. Sự hoà nhịp với thiên nhiên được hoàn toàn nên không có tật bệnh và họ có thể ở trong thân hình rất lâu. Nhưng về sau họ bị ràng buộc vào vật chất nên thể chất họ trở thành nặng nề hơn và khả năng bảo vệ đời sống giảm dần đi.

Từ khi trái đất dần nguội lạnh, vỏ ngoài co lại thành những nơi lồi lên lõm xuống, những lồi lõm ấy đã thay đổi nhiều lần, khiến nên nơi này đất liền chìm xuống biển, nơi khác đất từ biển nổi lên. Dẫn-đạo-sư nói rằng gần cuối thế kỷ này một thiên tai như thế sẽ xảy ra, nhiều lục địa sẽ biến thành biển cả và biển cả trở thành lục địa, nơi băng giá sẽ nóng bức và vùng nhiệt đới sẽ đông lạnh. Một số nhà địa-chất-học cũng công nhận rằng trái đất đã thay đổi trục nhiều lần trong quá khứ, bằng chứng là thấy có vết tích cây cối, động vật và khủng long dưới những lớp băng đá dày tại nam bắc cực. Bác-sĩ Frank Hibben ước tới bốn mươi triệu thú vật đã bị chết cứng đột ngột trong lần đổi trục cuối cùng trước đây.
Dẫn-đạo-sư khuyên những ai lo sợ thảm họa ấy hãy nhớ rằng đời sống vật chất chỉ là đời sống mỏng manh. Mục đích của chúng ta là thực hiện sự toàn thiện để cho không phải trở lại đời vật chất nữa. Càng bám vào của cải trần gian thì càng cản trở bước tiến của tâm linh. Trong đời sống tâm linh, của cải không có nghĩa gì vì mọi vật đều do ý nghĩ sinh ra, muốn gì có nấy tức thì. Những ai lo sợ hủy diệt vật chất nên biết rằng thân xác tuy mất nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại đời đời.

Lý do duy nhất năm giống người khác nhau được tạo lên là để giúp cho con người thích nghi với khí hậu. Màu da của người da đen cần để che thân dưới mặt trời gay gắt miền nhiệt đới và cũng để dễ dàng ẩn náu trong rừng rậm âm u của Phi-Châu. Người da trắng ở nơi giá lạnh mùa đông tuyết phủ, cần ít màu sắc để che thân dưới ánh mặt trời xiên nghiêng. Mầu nâu được dành cho những người ở vùng bán-nhiệt-đới Thái Bình Dương nhiều gió bão. Màu đỏ để hoà đồng với đất đỏ châu Atlantis và châu Mỹ. Sau cùng mầu vàng cho người phương đông hợp với đất vàng và mặt trời ít gắt. Mỗi giống có một thủy tổ Adam hay muốn gọi tên gì cũng được và một Eve tượng trưng cho sự tạo thành con người hoàn toàn có bộ phận loài vật.

Dẫn-đạo-sư đồng ý với Edgar Cayee rằng Amelius tái sinh là Adam và Eve, cả hai đều tái sinh nhiều triệu năm sau là Jesus và Mary. Về điểm dẫn-đạo-sư ước từ năm đến bảy triệu năm từ khi có người thái-cổ trên trái đất, tác giả vẫn còn thắc mắc cho đến ngày 31-10-1975 được đọc một bài báo Associated Press như sau: "Các nhà bác học đã tuyên bố hôm qua rằng xương người cổ xưa nhất đã được tìm thấy tại một lòng sông khô cạn miền đông Phi Châu. Những răng và xương hàm đã hóa thạch của 11 người đã được ước lượng chính xác bằng kỹ thuật phóng xạ, có từ 3.350.000 đến 3.750.000 năm. Ðây là di tích cổ xưa nhất thế giới.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
III. Đại lục Lemuria


Trong buổi sơ khai của nền văn minh trên đại lục Lemuria, những loại cây có nhiều đời sống không khó nhọc. Sau vì nhân số gia tăng, những người thái-cổ phải cố gắng để có thêm thực phẩm. Trước còn là đời sống vô định, nay đây mai đó, về sau họ phải gom hạt giống để trồng loại cây có nhân như hạt dẻ. Nông nghiệp bắt đầu từ đó và là một bước tiến phi thường cũng như ngày nay bay lên mặt trăng.

Nhiều dân Lemuria làm nghề đánh cá và tỏ ra có tài trên mặt biển. Thoạt đầu, họ ở những vùng bờ biển rồi sau di chuyển vào nội địa. Họ nuôi cừu (trừu) và gia súc mà họ coi như là anh em nhưng khi dân số càng đông thì họ giết để ăn thịt. Tuy rằng đa số cao lớn hơn người ngày nay rất nhiều nhưng trong thời kỳ thí nghiệm ấy, cũng có những người nhỏ bé hơn người lùn bây giờ. Tất cả những người ấy đều ưa thích hát và nhảy múa theo nhịp sáo và nhịp trống.

Những người Lemuria đầu tiên có đời sống tâm linh cao. Họ hòa nhịp với Thượng-Ðế, nghĩa là hiểu những gì Thượng-Ðế truyền dạy bằng cách truyền tư tưởng. Dần dần họ bị ràng buộc vào trái đất, khiến thân hình nặng nề hơn và con mắt thứ ba, là mắt sáng suốt hiểu biết mọi sự, bắt đầu lu mờ. Một số sống thanh đạm, ăn dè dặt và luôn luôn tưởng niệm đến Tạo-Hóa nên vẫn có thể thông cảm với Thượng-Ðế. Họ không dự vào những thú vui của người trần tục để giữ cho tâm linh họ gần với Thượng-Ðế. Họ dạy bảo dân chúng những điều trong sạch, ngay thẳng nên được dân chúng kính nể và chia sẻ hoa lợi mùa màng với họ. Từ đấy phát sinh giới thầy tu đầu tiên.

Những người cao siêu ấy còn giữ được khả năng phân tán nguyên tử và di chuyển những tảng đá lớn. Ðến đây, tác giả hỏi đến nguyên lai những đầu khổng lồ trên cù lao Easter. Dẫn-đạo-sư nói: Ðó là những tảng đá rất lớn đánh dấu nơi công trường vĩ đại mà dân từ khắp nơi trên đại lục Lemuria kéo đến tụ họp trong những cuộc đại lễ. Những đầu to lớn ấy với những nét mặt khác nhau tượng trưng các vị thần, mỗi vị ngự trị trên một phạm vi riêng biệt và hướng về một phương trời. Những đầu ấy được dựng lên trong thời sơ khai, khi con người chưa bị ràng buộc vào sức thu hút của từ lực và như thế được tạo lên dễ dàng.

Dẫn-đạo-sư kể lại một sự tích về những khối đá khổng lồ ấy. Trong thời kỳ giới thầy tu được nhiều uy tín, có những kẻ ghen ghét muốn làm giảm uy tín ấy. Họ thách đố những thầy tu trong ngôi đền tại vị trí hiện nay của cù-lao Easter: Ai có thể di chuyển một cái đầu khổng lồ từ nơi này qua nơi kia thì sẽ được nhận đồ dâng cúng và được quyền ưu đãi hơn người khác. Những kẻ thách đố xảo quyệt ấy đã biết cách di chuyển những vật to lớn bằng một phương pháp huy động tinh thần gần như thôi miên, góp sức nhiều người cùng nhau tác động. Một số đông tụ họp lại và đến giờ đã định họ đều bước tới, niệm câu thần chú và cùng nhau ghé vai vào dưới cằm một cái đầu bằng đá, nâng bổng lên được vài phân nhưng rồi kiệt lực đều té cả xuống. Ðến lượt các thầy tu, họ dùng khả năng phân tán nguyên tử, cùng nhau hát lên, ngước mắt nhìn trời, cử động bàn tay (Có lẽ là hộ thần là bất quyết), tức thì đầu đá khổng lồ biến mất. Tất cả đám đông hoảng hốt kêu lên: "Trả lại đầu đá cho chúng tôi." - Xin vâng, thầy tu vừa nói xong, đầu đá hiện ra trên một ngọn đồi khác. Những kẻ thách đố xấu hổ và từ đấy uy tín các thầy tu càng cao.

Thời bấy giờ có những linh hồn từ các hành tinh khác đến thăm. Mặc dù họ mang hình thể khác hẳn trên hành tinh của họ nhưng họ có thể biến thành hình người thái-cổ khi họ đến trái đất. Vì những thân hình của họ nhẹ gần như bóng sáng, cũng như Amelius và những người thái-cổ đầu tiên, nên họ có thể đi về trong thời gian ý nghĩ phóng ra. Dẫn-đạo-sư giải thích rằng vì họ có khả năng phân tán và kết hợp nguyên tử nên họ thoát ra ngoài ảnh hưởng từ lực của trái đất, họ nhẹ hơn không khí, tùy ý muốn biến hiện chính thân mình hoặc những tảng đá lớn lúc nào cũng được, đến nơi nào cũng được. Những kim-tự-tháp Ai-Cập và các di tích khổng lồ khác đã được tạo dựng lên bằng phương pháp ấy.
Ðại lục Atlantis là một nơi thiên đường không nóng không lạnh, dân chúng thuộc giống người da đỏ và cũng có những bán nhân thân hình thô kệnh, là dòng dõi của những người đã phối hợp với cầm thú. Không như người Lemuria chịu khó dạy dỗ và nâng cao những kẻ dị hình ấy, người Atlantis đối đãi với họ như những con vật để khuân vác nặng nề và làm những việc ti tiện.

Văn minh trên lục địa Lemuria lên đến cực điểm. Nền giáo dục rất cao, những người trưởng thành có trình độ ngang với tiến sĩ ngày nay, nhiều người còn tiến xa hơn về cảm giác và ý thức. Chính quyền rất dịu dàng, hòa hoãn, hàng ngày ít việc làm vì không có tội ác, không có thù hận. Nếu ai có điều bất hòa nhất thời với một người khác thì người trọng tài giải thích rõ ràng quan điểm của đôi bên. Không người nào bị giam vào tù ngục vì người ấy có thể thoát ra khỏi tức thì, bởi lẽ ai cũng có thể chuyển ý thành sự thực. Hình phạt về một hành động sai lầm chỉ là lời khuyên nhủ khiến họ hiểu tính chất của điều lầm lỗi và tránh không tái phạm.

Về luật luân hồi nhân quả, dẫn-đạo-sư nói rằng luật ấy đã có từ trước khi linh hồn nhập vào thân xác thịt. Ðó là luật trời, nếu ai làm trái thì phải đền tội. Amelius và những người sinh ra cùng thời đầu đã hiểu luật ấy. Một số vì cám dỗ mà giao hợp với cầm thú đã gây nhân xấu nó theo chúng ra ngoài thân xác cho đến thân sau, khi đời sống đã bị Thượng-Ðế rút ngắn. Khi tái sinh ra thành những Adam, Eve và thân hình khác, họ đã phải cố gắng xoá cái nợ luân hồi ấy bằng cách đối xử tốt với loài vật. Nhưng bấy giờ Satan lợi dụng cơ hội để điều khiển những kẻ làm sai ý muốn của Thượng-Ðế. Vị thần sa ngã ấy quyến rũ những linh hồn xấu xa, càng ngày càng đông bộ hạ, đi ngược lại con đường dự định của Thượng-Ðế, có lúc tưởng chừng như y có quyền năng mạnh hơn cả Thượng-Ðế, nhưng không phải. Thượng-Ðế vẫn toàn năng, vẫn theo dõi kẻ lạc đường nhất thời và khi một linh hồn biết hối cải và hồi đầu về Cha, tức thì có sự lạ chờ đón y. Do đó mà có luân hồi, là chuyện đáng buồn cho người đời cứ phải trở lại nhiều lần vào cái thân vật chất, nhất quyết rửa sạch vết xấu xa trong tâm thức. Một số linh hồn đã tiến cao đến toàn thiện, đã hoàn tất bánh xe luân hồi, không phải trở lại đời vật chất nữa.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
IV. Dòng dõi thiên thần

Văn minh trên trái đất chưa bao giờ lại được tiến bộ như thời vàng son trên đại lục Lemuria và Atlantis. Ða số dân chúng có trình độ trí thức cao và nhờ sự cần cù của họ, cây cối tốt tươi bao phủ khắp mặt đất.

Nhưng không phải là tất cả đều thơ mộng. Nhờ sự phồn thịnh do sức người tạo lên, có vài giống vật sinh sản nhanh hơn loài người. Ðiểu thú khổng lồ phá hoại mùa màng, thằn lằn to lớn từ biển bò lên đầy mặt đất và những con khủng long với thân vĩ đại và đầu nhỏ bé, hung bạo đến nỗi người phải họp nhau lại trong những khu bảo vệ chặt chẽ. Tại Lemuria tình trạng rất nguy nan, khiến người ta phải đào hầm dưới đất hoặc moi rộng hang ở sườn núi để ẩn náu.

Những con khủng long khổng lồ lang thang khắp nơi, đạp đổ cây cối, tàn hại hoa màu, phá hoang vườn tược mà người ta tốn công trồng tỉa để có thức ăn và bóng mát. Chúng giày xéo lên tất cả mọi vật trong tầm của chúng, một ngón chân của chúng có thể đè nát một đứa trẻ con. Chúng thường đánh nhau kịch liệt để tranh giành miếng mồi ngon như người hoặc thú vật. Ðuôi lớn của chúng quạt khắp rừng rậm và sông ngòi để tìm miếng ăn.
Ðể tránh các thú dữ ấy, người phải sống trong những hang mà cửa vào thấp nhỏ. Ðó là một thế giới trong bóng tối. Chỉ có đàn ông mới dám đi ra để kiếm mồi khi những thú dữ không có ở gần. Họ sống bằng thịt săn và ít rau cỏ trồng quanh cửa hầm. Phụ nữ cả đời chỉ được trông thấy bóng người đi qua cửa hang. Họ nói với những bóng ấy, tưởng đó là những tâm linh của thế giới khác đến nói chuyện với họ, không biết rằng đó là bóng của những người có thân hình như thường đứng trước họ và quay lưng ra ánh sáng. Trẻ con dám phiêu lưu ra ngoài, khi không trông thấy có con vật khổng lồ nào từ xa mới chui ra khỏi cửa hang. Mắt họ bị chói lòa vì không quen với ánh sáng mặt trời.

Những gia đình ấy hôn phối lẫn nhau trong những buổi lễ ngắn ngủi tổ chức bởi những thầy tu là những người còn nhớ đến đời sống tâm linh xưa kia. Trước mặt thầy tu, đôi trai gái nắm tay nhau và tất cả cùng hát những câu chúc tụng. Nếu có người săn được một con vật, nhỏ như con thỏ hoặc lớn như con trâu thì đó là một đại tiệc. Họ ăn, họ ngủ, họ nói chuyện, họ sinh sản. Ðó là đời sống âm thầm tăm tối của những người Lemuria ít may mắn.
Vậy mà họ là dòng dõi thiên thần! Trước khi một số gan dạ cố gắng trừ khử những con vật kinh khủng ấy, tưởng chừng ít có hy vọng cho sự tiến hoá của loài người.

Dẫn-đạo-sư kể lại một gia đình Lemuria chừng 20 người cả con và cháu, sống cách đây khoảng 60 ngàn năm. Họ ở trong hang đào sâu trong đất dưới một ngọn đồi, cửa hang rất thấp, ra vào phải bò, để giữ cho những con vật to lớn không thể vào được. Họ ngủ trên những chiếu đan bằng cỏ mọc quanh hang, sống bằng hạt dẻ và trái cây, đôi khi có thịt do đàn ông săn được. Họ sống trong bóng tối lờ mờ, chỉ có chút ánh sáng nơi gần cửa vào và những khi đốt đuốc, cây đuốc làm bằng mỡ những con vật đã chết nhưng đuốc ấy tỏa nhiều khói quá chỉ dùng khi nào rất cần.

Một ngày kia, trong khi đàn ông ra ngoài săn bắn, một con khủng long to lớn đánh hơi biết có người trong hang, nó lách cái đầu nhỏ của nó vào cửa hang, cố sức cạy ra một lỗ lớn để vào. Tất cả đàn bà, trẻ con trong hang sợ hết hồn nhưng cũng phải can đảm lấy gậy đập vào đầu nó trong khi miệng nó phun ra khói. Ðàn ông nghe tiếng ồn ào chạy về, lấy giáo nhọn đâm vào nó hàng trăm nhát cho đến khi nó chết. Rồi mấy chục người ở những hầm quanh đấy phải họp nhau lại lôi xác nó ra xa vừa để tránh mùi hôi thối, vừa để những con vật khác khỏi đến gần.

Ðó là cảnh sống hằng ngày của những gia đình thời bấy giờ, luôn luôn ở trong tình trạng sợ hãi. Họ ao ước được thấy cảnh đẹp bên ngoài, cũng như ngày nay một người già bệnh tật ao ước được lên cõi trời. Chỉ có những người đánh cá là không phải ở trong cảnh sợ hãi tối tăm ấy vì vùng bờ biển cây cối thưa thớt, những con khủng long và mam-mút (là loại voi khổng lồ có nhiều lông và ngà cong lên) thường không lui tới. Nhưng vì đông dân cư quá nên chỉ có một số ít được hưởng cái tự do ấy.

Thật là một ngày quan trọng vô cùng khi một chiếc máy bay đầu tiên đáp xuống hồ Chalda trên đại lục Lemuria, đem lại hy vọng cho những kẻ khốn khổ, dòng dõi của những bậc trí thức cao mà ngày nay sa xuống gần ngang súc vật, với đời sống trong tăm tối không có tương lai. Họ hết sức vui sướng khi được biết rằng những người Atlantis muốn cộng tác với họ để triệu tập một đại hội thế giới bàn cách trừ khử những con vật khổng lồ.

Máy bay có thể đáp xuống bãi biển không sợ nguy hiểm vì những con vật khổng lồ không ở nơi bãi cát. Khi những người Atlantis đầu tiên đặt chân lên Lemuria, tin tức lan ra rất nhanh trên khắp đại lục, phá tan không khí buồn tẻ trong nhiều thế hệ. Tin tức được loan ra bằng hệ thống một loại dây leo truyền âm do một nhạc khí tựa như cái trống của bộ lạc Phi Châu, trống nọ truyền đến trống kia đi xa hàng trăm dặm. Những người mới đến chào hỏi người Lemuria như là những anh em lâu ngày mới gặp lại nhau. Người Lemuria chạy vội đến nơi đón khách quý, vui mừng khôn tả.

Khi người Atlantis nói đến những điều mới lạ trên đất họ, người Lemuria sụt sùi khóc vì cảm thấy khác biệt một trời một vực giữa cảnh xa hoa của người và cảnh khốn khổ của mình. Chẳng khác nào một người mọi Phi Châu chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng, nay được nghe tả cảnh phồn hoa Nữu Ước và Luân Ðôn. Một số những người niên trưởng Lemuria đi theo đám quý khách trở về Atlantis để cùng họp với những người từ các nước phương xa đến hội. Atlantis có nhiều tàu, nhiều khinh-khí cầu nên việc triệu tập dễ dàng nhanh chóng và những thanh niên được đưa đi học về kỹ thuật và hóa học.

Phi công lái chiếc máy bay tên là Drofus. Cùng với y có hai nhà bác học để điều khiển quả cầu pha lê nhỏ trong máy bay cho phù hợp với một tia sáng của quả cầu lớn trung ương. Ðây là một phương pháp tinh vi mà ngày nay không ai hiểu được. Muốn bay từ Lemuria hoặc một nơi khác xa Atlantis, thì phải sửa soạn rất công phu, để điều hợp quả cầu nhỏ trong phi cơ với một tia sáng của quả cầu lớn, khiến cho phi cơ tự động theo hướng mà bay trở về. Nguyên tắc những quả cầu pha lê có nhiều mặt phẳng đã bị chôn vùi với đại lục Atlantis, ngày nay không ai biết cách tạo lên và xử dụng những quả cầu ấy.
Người Atlantis bấy giờ là những người tốt bụng. Họ thấy đời sống khốn khổ mà những con vật khổng lồ đã gây cho người Lemuria, họ thúc giục những người này di cư sang nước họ và họ dạy cho cách đóng những chiếc tàu lớn để có thể đi xa. Nhưng họ không cho ai biết bí mật Quả cầu Pha lê, nó giúp họ điều động các máy bay và tàu ngầm của họ. Vì họ có phương tiện vận chuyển nhanh chóng tiện lợi nên những lần triệu tập hội đồng cũng được nhanh chóng.

Có những máy bay loại nhẹ chở vài ba người, buộc vào một quả cầu, chỉ cần một khu nhỏ để đáp xuống và bốc lên, lại có bộ phận điều khiển luồng gió, đại khái như máy trực thăng ngày nay, để di chuyển gần. Những máy lớn và mạnh hơn điều khiển bằng tia sáng loại laser do Quả cầu Pha-lê phát ra, cần phi đạo dài hơn, như máy phản lực hiện thời. Những sân bay được xây tại nhiều nơi để chở người đi dự hội và để tiếp tế hàng hóa vì khi ấy Atlantis giữ địa vị lãnh đạo trong việc sáng chế và sản xuất các loại hàng. Lemuria trong những ngày cuối được coi như một bà mẹ khôn ngoan và dịu hiền, cố gắng dạy bảo những nước nhỏ nhưng bọn này ưa thích đời sống tối tân của Atlantis hơn là triết lý của Lemuria. Ðiều này khiến chúng ta nghĩ đến bọn trẻ tại Hoa-Kỳ ngày nay.

Trong những hội họp quốc tế, có người đưa ra ý kiến dò tìm đến tổ những con vật khổng lồ để diệt con nó ngay khi còn nhỏ. Người Atlantis chế ra một hơi độc để "thổi" vào tổ chúng khi thuận chiều gió, cách ấy tỏ ra có hiệu quả với những con nhỏ nhưng không đủ sức sát hại những con lớn. Dẫn-đạo-sư tả khí cụ được dùng tựa như cặp đũa để tìm mỏ hay mạch nước ngày nay nhưng tinh vi hơn nhiều, để tìm ra tổ khủng long và mam-mút, những đũa ấy giúp cho những người liều mạng đi tìm đích xác vị trí và thổi thuốc vào tổ nó. Những người gan dạ đã đi tìm khắp các nơi trên thế giới.

Cuộc chiến đấu với khủng long và các vật khổng lồ khác đã kéo dài nhiều thế kỷ và đã có nhiều cuộc hội họp quốc tế để bàn cách giải phóng đất đai nhanh chóng hơn. Người ta đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trong việc diệt trừ những vật khổng lồ khiến chúng đã giảm bớt, trước khi một thiên tai xảy đến, đáy biển trồi lên, lục địa chìm xuống, chôn vùi đại lục và chôn luôn cả những vật khổng lồ. Khi một giống nào làm nguy hại cho giống khác, thì giống ấy không thể tồn tại lâu bền trên trái đất. Cái luật ấy là một sự cảnh cáo cho nhân loại hiện nay đương làm cho đất đai, sông biển và không khí nhiễm độc nguy hại cho các loài khác.

Ðược hỏi tại sao Thượng-Ðế đã sinh ra những vật khổng lồ ấy rồi lại khiến cho chúng bị diệt chủng như thế có phải là Thượng-Ðế đã lầm không? Dẫn-đạo-sư nói: Thượng-Ðế không lầm. Tạo-Hoá là một phòng thí nghiệm trường kỳ. Thoạt đầu con người cao hơn ba thước hoặc thấp hơn một thước, rồi sau trở lại trung bình hơn một thước rưỡi và trong mấy ngàn năm gần đây lại cao hơn trước. Nhưng nếu nhân loại cứ tiếp tục nhiễm độc trái đất, làm nguy hại cho các giống khác thì sẽ phải chịu số phận như loài khủng long. Mình được sống thì phải để cho kẻ khác cùng sống với mình, đó là luật chung của vũ-trụ, nếu chỉ phá hoại, tàn hại giống khác, sẽ không tồn tại lâu trên trái đất.

Khi những vật khổng lồ bị giảm sút dần đi thì đời sống con người đỡ khổ, họ đã có thể hưởng ánh sáng mặt trời và gió mát. Dân số tăng rất nhanh chóng, những phụ nữ có hàng chục đứa con. Việc sinh sản không khó khăn và không cần săn sóc như ngày nay vì đó là sự tự nhiên, cũng như loài vật sinh con đẻ trứng chẳng cần ai săn-sóc và dạy cách nuôi con.

Trẻ con lớn lên được dạy bảo nhờ những người còn nhớ đời sống tâm linh và cảm thông với các linh hồn như ta nói chuyện với hàng xóm. Chúng được dạy cho biết lý do tại sau chúng thác sinh ra đời vật chất và chúng phải làm việc thiện để hoàn tất sứ mệnh theo luật Trời. Những bậc cha mẹ cũng hiểu rằng con họ cũng là những linh hồn ngang tuổi với họ, đã chọn họ làm cha mẹ để học hỏi và tiến hóa trong thân xác thịt. Những trẻ con Lemuria có lẽ là những kẻ hoàn toàn nhất trong nhân loại, chúng gần như không biết đến tội lỗi đối với cha mẹ, thầy dạy và bạn bè.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
V. Những máy bay thời thượng cổ


Atlantis là một đại lục huyền ảo, lý tưởng, xưa nay không đâu bằng, với rừng rậm thâm u, với cánh đồng bát ngát, với khe nước suối và một con sông lớn ngăn cách Poserdia với phần đất đai còn lại. Thật là một cõi thần tiên! Vua Atlantis tên là Atlas tức là một Adam, vợ là Heputh.

Châu Atlantis chạy dài từ duyên hải đông Hoa Kỳ, gồm những vùng bờ biển Georgia, Carolina, Virginia, west Indies và Braril, băng qua Ðại Tây Dương đến gần duyên hải tây Phi Châu. Những vua đầu tiên là những linh hồn tiến hóa cao, còn nhớ đời sống tâm linh và có thể cảm thông bằng tư tưởng. Vua Atlas phóng những luồng điện và những người dưới bắt luồng điện ấy hiểu được ý vua không cần nói hay viết.

Nhưng đó không phải là một trạng thái thôi miên, chỉ là sức mạnh của ý nghĩ. Sức mạnh ấy tỏa ra từ Atlas qua các con cháu, trở thành năng lực linh động, từ ấy nảy sinh ra những sáng chế kỳ lạ, chưa bao giờ có từ khi châu ấy bị chìm. Vua Atlas phóng ra một tư tưởng, những người khác bắt được làn sóng tư tưởng ấy đưa đến chỗ thực hiện ý nghĩ thành sự thật. Có như thế, những người Atlantis trong nhiều ngàn năm, đã sáng chế ra máy bay, tàu ngầm, tàu nổi và tia điện như loại tia laser ngày nay, đưa đến một nền văn minh cao tột bực chưa từng có.

Atlas và Heputh sinh ra 24 người con và có nhiều cháu, đều có trình độ tâm linh cao. Mỗi người con là một ông Hoàng cai quản khu vực của mình. Anh quốc ngày nay nằm trong phạm vi của một khu vực, trước khi bị loạt thiên tai nhận chìm tất cả đất đai từ Hoa Kỳ đến Anh, Bồ Ðào Nha và miền tây Phi Châu. Thời bấy giờ người sống rất lâu, hàng triệu năm, nên chưa có vấn đề thừa hưởng và chẳng bao lâu vua Atlas có hàng trăm con cháu.
Tác giả nhận thấy rằng những điều Dẫn-đạo-Sư nói trên tương tự với sự tích Atlantis mà nhà học giả Hy-lạp trứ danh Plato đã để lại cho văn minh tây phương. Plato được biết sự tích ấy do luật gia đại tài Solon ở thành Athens 600 năm trước kỷ nguyên, ông nầy đã sang Ai-Cập mười năm và đã học nhiều sự tích Atlantis do các thầy tu thành Sais, thủ đô Hạ Ai Cập. Theo Plato kể lại, vị thần Poseidon sinh ra năm đứa con trai sinh đôi, người con trưởng là vua Atlas có nhiều con cháu tiếp tục trị vì vương quốc trong nhiều thế kỷ.
Dẫn-đạo-Sư nói thêm rằng Atlas là con cháu là dòng giống thuần túy không bao giờ ô nhiễm vì chung sống với những bàn-nhân đã có từ lâu trên Atlantis trước thời Atlas. Người Atlantis coi những bàn-nhân thô lỗ ấy như loài vật để làm việc nặng, như khuân vác, cày bừa và sau này vận chuyển máy móc.

Tuy có sự phân biệt giữa hai hạng người và bàn-nhân, nhưng lúc đầu họ không cảm thấy bị lạm dụng vì mỗi bên đều làm hết sức mình. Nhưng mấy chục ngàn năm sau, sinh ra có sự tranh chấp, không những giữa người và bàn-nhân, mà còn ngay chính giữa loài người vì bấy giờ đã mất quan niệm họ hàng và quan niệm đồng nhất. Khi ấy Atlas và con cháu gần đã qua đời lâu rồi, dân chúng đã đông đầy trên đại lục, đồng thời những chim và thú khổng lồ đã sinh sôi nảy nở ra nhiều, trở thành mối đe dọa tiêu diệt nhân loại.

Ðược hỏi rõ hơn về sự cấu tạo loài người, Dẫn-đạo-Sư nói: Người ta lúc đầu chỉ là những hình bóng do ý nghĩ của Thượng Ðế mà thành nhưng từ khi phối hợp với loài vật sinh ra những bàn-nhân thì bị ràng buộc vào mặt đất. Khi Thượng Ðế sinh ra nam và nữ là hai phần của linh hồn. Ngài dùng những chất liệu ở mặt đất để tạo thành những thân hình xác thịt, như đã tạo nên loài vật và các sinh vật khác, các nguyên liệu căn bản vẫn thế: khí, nước, đất, kim thạch, sinh tố. Thân hình người ta là sự sáng tạo tối cao, cũng bằng cùng những thứ vật liệu như các hình thể khác trên trái đất này. Xin chớ nghĩ rằng Tạo Hóa có hai bàn tay lớn từ trên trời thò xuống cạo đất sét trộn với nước, kim thạch, cây cỏ. Thực ra chỉ là ý nghĩ của Thượng Ðế dùng những vật liệu thích hợp tạo nên hình một sinh vật hoàn toàn.

Atlantis trong nhiều ngàn năm được những vua và hoàng tử sáng suốt nối tiếp nhau trị vì, mưu lợi ích chung. Rồi sau, người Atlantis hành hạ những bàn-nhân, gọi chúng là lao động nửa người nửa vật, cũng như người Mỹ miền nam trong thời kỳ đồn điền hưng thịnh, những trại chủ hành hạ người da đen bị bắt từ Phi Châu tới để làm nô-lệ. Những bàn-nhân xấu số ấy thường ở với nhau nên dòng giống không khá lên được. Họ ở trong những túp lều, trong khi người Atlantis giống da đỏ sống xa hoa, với đủ đồ trang bị tự động do sức mạnh của quả cầu Pha-lê thu hút năng lực của mặt trời phát ra. Người Atlantis có đầu óc sáng tạo, thích thí nghiệm tất cả các loại khí (hơi), kim thạch, thảo mộc và họ dùng những bàn-nhân để làm việc nặng nhọc như khuân vác, vận chuyển, hoặc làm việc nhẹ như điều hành những công tác dưới sự chỉ huy của người Atlantis.

Dẫn-dạo-sư nói rằng những sinh linh (beings) từ ngoài không gian được hấp dẫn tới Atlantis vì năng khiếu sáng tạo của những người ở đấy
và đã dành nhiều thì giờ đàm luận với họ. Những quý khách không gian ấy đã giúp nhiều trong việc tạo nên Quả cầu Pha-Lê vĩ đại. Nhờ sức mạnh lớn lao của Quả cầu ấy mà những máy bay, tàu nổi và tàu ngầm được duy chuyển với một tốc độ kinh khủng. Lúc đầu sức mạnh ấy được dùng vào việc ích lợi chung nhưng về sau lại dùng vào việc phá hoại.

Quả cầu vĩ đại! Cái lực lượng do việc thiện và việc ác mà Edgar Cayee đã nói đến, hiện nay còn nằm sâu dưới Ðại Tây Dương khu Tam giác Bermuda, ở đấy đã có biết bao máy bay và tàu biển biến mất một cách bí mật trong những thập niên gần đây. (Xem chương. IX. biển Sargasso bí mật)

Những khách không gian đã dạy cho người Atlantis đã tạc nên Quả cầu khổng lồ, sau khi họ đã bắt đầu chinh phục được năng lực bằng những quả cầu nhỏ để điều khiển những đồ trang bị. Trên một sườn đồi, họ tìm thấy một mạch đá thạch anh (quart) đủ lớn để phản chiếu tất cả tia sáng của mặt trời và mặt trăng, vì mặt trăng cũng dự phần vào cuộc thí nghiệm lớn lao ấy. Sau khi đã giục bỏ hết đất bám chung quanh, họ khắc những mặt phẳng rất tỉ mỉ để phản chiếu tất cả các tia sáng. Thời bấy giờ bầu khí quyển hoàn toàn trong sạch nên tia sáng không bị thiên lệch. Vì họ sản xuất năng lực thừa dùng hàng ngày nên họ tìm cách tích trữ năng lực còn dư vào những thùng lớn bằng đồng, để cho các máy bay và tàu không phải tùy thuộc vào sự cung ứng năng lực mỗi ngày.

Những khách không gian ấy đến trái đất bằng những phi thuyền tuyệt xảo. Có nhiều loại máy bay khác nhau, phần lớn có những đĩa và những máy xoay tròn để không bị sức hút của từ lực khi cất cánh và hạ cánh. Ðến nơi họ chuyển những vật liệu lấy ở trái đất thành khí chất để làm ra điện lực. Những người Atlantis theo mẫu ấy đã sáng chế ra những máy bay và tàu chuyển động bằng năng lực do Quả cầu vĩ đại phóng ra.

Theo Dẫn-đạo-Sư, vì có những thú vật khổng lồ càng ngày càng đông nên người Atlantis đã phải tập trung vào những khu có tường thành bao bọc và nhu cầu đã thúc đẩy tài sáng tạo của họ. Vì họ là dòng dõi những "linh hồn nhẹ hơn không khí", nên họ còn giữ được khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh và sáng tác ra những kỳ quan mà thế giới chưa từng thấy.

Tại sao những người không gian đến Atlantis mà không đến Lemura? Dẫn-đạo-Sư nói: Ðó là vì cái lẽ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, cùng có óc sáng tạo như nhau thì dễ gần nhau hơn.

Những khách không gian và người Atlantis đã phải mất nhiều năm mới tạo nên Quả cầu khổng lồ và cái gương phản chiếu để chứa đựng quả cầu đó. Rồi họ sáng chế những tàu, máy bay, cả loại máy đứng yên một chỗ trên không trung như máy trực thăng ngày nay. Với những máy này họ đã học được địa đồ những vùng rộng lớn trên trái đất. Một số họa đồ ấy được tìm thấy mấy trăm năm trước, cho thấy hình ảnh trái đất trước lần đổi trục sau cùng, khi mà Nam-cực không có băng tuyết.

Những họa đồ ấy đã được tìm thấy tại Thổ-Nhĩ-Kỳ hồi đầu thế kỷ 18, là sở hữu của Ðề-đốc Thổ Piri Reis. Ðó là bản sao họa đồ rất cổ, cho thấy những dãy núi ở Nam-cực trong thời không có băng tuyết. Những nhà địa-dư học mãi đến năm 1952 dùng phương pháp đo tiếng vang mới hình dung được những núi ấy. Ngày nay đem những hình chụp từ vệ tinh so với bản địa đồ ấy thì thấy rất giống nhau.

Ðại học Georgetown trong buổi phát thanh vô tuyến ngày 26-8-1956 bình luận về địa đồ Reis, nói rằng nếu không dùng phương pháp chụp hình từ trên không trung thì không thể nào họa được địa đồ ấy.

Trong cuốn Edgar Cayee on Atlantis, chính con Edgar Cayee cũng có đề cập tới địa đồ ấy.
Chắc chắn rằng chưa ai có thể bay được hồi đầu thế kỷ 18 khi địa đồ Reis được tìm thấy. Edgar Cayee và các dẫn-đạo-sư đồng ý rằng những người Atlantis là những phi hành gia đại tài.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
VI. Atlantis hiển nhiên có thật


Plato, nhà hiền triết Hy-lạp 24 thế kỷ trước (427-347 trước kỷ nguyên) đã nói đến một đại lục rộng lớn nằm tại phía tây eo biển Gibraltar, đó là đại lục Atlantis. Khi bị chìm xuống vì động đất, Atlantis trở thành một vùng biển bùn lầy trong nhiều ngàn năm, tàu thuyền không qua lại được. Edgar Cayee trong khi thôi miên, nói Atlantis bị chìm mất dạng sau ba trận thiên tai, trận sau chót khoảng 10.000 năm trước kỷ nguyên.

Những nhà địa chất học cũng nhận rằng những đại lục ngày nay đã trải qua rất nhiều biến chuyển nổi lên chìm xuống trong nhiều triệu năm. Bờ biển Na-uy, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, đã trồi lên hàng trăm thước trong nhiều ngàn năm gần đây. Cù lao Sivily thuộc Ý ngày nay cao 1000 thước trên mặt biển, xưa là đáy biển. Những lớp than đá tại Pennsylvania chứng tỏ rằng vùng ấy đã ở trên và dưới mặt biển ít nhất 23 lần. Trận động đất tai hại nhất trong thời cận đại đã xảy ra 200 năm trước tại thủ đô Bồ-đào-Nha (gần bờ biển đông của Atlantis) sát hại 60 ngàn người trong sáu phút. Nhiều người chạy đến bến bờ cẩm thạch tưởng rằng được an toàn nhưng bến tàu đột nhiên chìm xuống biển sâu 200 thước, hút xuống tất cả người và tàu thuyền lân cận. Ðồng thời đất nứt ra ở một làng Maroc nuốt cả 10 ngàn người ở đó. Nhiều người ngày nay còn nhớ nạn núi phun lửa Pelée trên đảo Martinique năm 1902, thành phố thủ đô và 30 ngàn dân chúng bị quét sạch trong vòng mấy phút.

Gần 40 năm trước, Edgar Cayee đã tiên đoán một phần Atlantis quanh Bimini bắt đầu nổi lên khoảng 1968-1969. Trong mấy năm vừa qua, các nhà địa chất học đã chụp được những hình tựa như những bức tường và những tòa nhà ở dưới mặt nước tại đó. Năm 1949 nhà bác học Maurice Ewing thuộc đại học Columbia, đã công bố một bản báo cáo về những cuộc thám hiểm dưới Ðại-Tây-Dương trong đó có nói đến việc khám phá một bãi cát nằm dưới sâu 5600 thước dưới mặt nước và cách xa đất liền 2000 cây số, nơi ấy xưa là bãi biển, vì chỉ có bờ biển mới có bãi cát.

Bắc Mỹ thời tiền sử khác với hình thể ngày nay vì người ta tìm thấy xương cá voi tại Michigan, New Hampshire,Montreal, ở những nơi cao hơn mặt biển 150 đến 200 thước.
Những kim-tự-tháp tại Ai-Cập và Mể Tây Cơ có nhiều điểm tương tự, như là những chữ thập trên các ngôi đền ở Mễ Tây Cơ đã có từ lâu trước khi người Tây Ban Nha xâm chiếm và đem đạo Gia Tô truyền vào nước. Dẫn-đạo-Sư giải thích rằng: từ đời xa xưa không có núi, những kim-tự-tháp được xây dựng trên Lemuria và Atlantis, là những nơi cao nhất cho các thầy tu tôn thờ Thượng Ðế. Bao giờ người ta cũng nghĩ rằng Thượng Ðế ở trên cao, trái với đất ở dưới. Thập-tự tượng trưng cho người đứng trên trái đất với hai tay dang ra, giữa khoảng từ mặt đất lên đến trời.

Trong thời vàng son trên Atlantis, theo lời dẫn-đạo-sư, những nhà ở cũng tựa như thời La-mã, dùng đá, cẩm thạch, đất sét để xây. Nhờ được khí hậu tốt, người ta ưa sống ngoài trời nên có nhiều hành lang và sân trống giữa nhà. Người Atlantis có óc sáng tạo, chuyển ý nghĩ thành đồ dùng. Nhiều người còn giữ mình trong sạch không tội lỗi nên có thể phóng ý nghĩ nhanh hơn là gửi thơ. Vì lẽ ấy những sáng tác mỹ thuật giống nhau tại nhiều nơi trên hoàn cầu.

Nói về luân hồi, Dẫn-đạo-sư giải thích: Lúc đầu, người đều toàn thiện nên sống rất lâu. Nhưng sau vì cám dỗ làm dơ bẩn linh hồn nên đời sống bị rút ngắn lại. Những linh hồn ấy trãi qua một thời gian thiền định để kiểm điểm lại những lỗi lầm và quyết định chuộc tội nên tìm cơ hội trở lại đời vật chất, do đó mà có luân hồi. Luân hồi cần thiết cho sự tiến hóa cũng như không khí để thở. Khi ở trong thân hình vật chất thì linh hồn muốn trở về với Đấng Sáng Tạo. Họ nhớ đến tình trạng toàn thiện và mặt dù con đường đi cực nhọc và khó khăn, có rất nhiều linh hồn đã đi được đến nơi và hòa đồng với Thượng Ðế, không phải quay trở lại thân hình vật chất nữa. Không phải là tất cả các linh hồn đều đã đầu thai. Có một số muốn ở lại trạng thái tâm linh để giúp đỡ những linh hồn trong thân xác thịt, có thể gọi đó là những thiên thần hộ mệnh.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4. Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
VII. Đời sống trên Atlantis

Dẫn-đạo-sư nói: Trong một đời trước, cách đây hơn 51.000 năm, tác giả tên là Thelama, đã sống cùng gia đình trên Atlantis gần Poseidon, thành phố lớn nhất của Poseidia, trong một khu vườn trại rộng lớn có tường cao bao bọc chung quanh để tránh khủng long và man-mút. Ở đây cái nạn những con vật khổng lồ còn đỡ hơn ở Lemuria.

Những người Atlantis có mũi nhọn dài, tóc đen bóng như than, mắt đen, môi tô son, da đỏ như người thổ dân Mỹ, những người này dòng dõi người Atlantis. Không có tục bôi móng tay móng chân nhưng họ xoa dầu lên tay, mặt và ngực để giữ cho da mềm và đỡ bị nắng rám. Quần áo họ bằng hàng dệt nhuộm màu các kiểu, đàn ông nhiều khi còn làm dáng hơn đàn bà. Răng trắng như ngọc trai và không bị sâu. Rau cỏ và trái cây họ đều ăn sống, còn thịt thì ăn nướng nhưng ít ăn trừ khi có đại tiệc. Bao giờ cũng có một ngày để lễ mặt trời và một ngày để lễ mặt trăng tròn được coi là Hoàng Hậu Ban Ðêm.

Thượng Ðế là đấng tối cao, ít khi được nói đến tên, mà chỉ tôn xưng là Ngài. Khi cần cầu đến Thượng Ðế thì chúm môi lại tròn như chữ o và phát âm thanh "o" để chỉ mặt trời và ngậm miệng lại phát âm thanh "om"(Nhiều câu chú trong kinh Phật có chữ "Ôm", ta thường đọc là "Úm" hoặc "Án"). Nếu được như thế thì đó là căn nguyên của tiếng "Om" trong khi thiền (lời tác giả).

Cừu (trừu) được nuôi trong nhà như bạn, cũng như chó ngày nay. Chúng được buộc yên cho trẻ con cưỡi, lông được xén để ngồi gối hoặc dệt hàng mặt. Những nhà giàu hay mở tiệc có khi kéo dài hàng tuần lễ, khách từ mọi nơi được gởi thiệp mời do chim bồ câu mang đi và đem thiếp trả lời về. Họ không ăn thịt chim và cừu, coi chúng như những báo nhân. Giới cầm quyền có những lâu đài lộ thiên lan rộng ra hàng mấy trăm thước mỗi chiều và họ cũng lịch sự tao nhã như người thời nay. Nước được dẫn bằng ống từ giếng hay từ suối trong khe núi. Người Atlantis đều thọ mấy trăm năm (Thelama thọ 300 năm) do đó họ có nhiều thời giờ để phát triển khả năng

Trong thời Thelama trên Atlantis. Quả cầu pha-lê vĩ đại và các phi cơ đã được thành hình. Thelama gặp một nhà bác học trẻ tuổi đến Poseidia từ nơi xa mà ngày nay là Alegia. Y nghiên cứu cách thu hút năng lực của mặt trời tạo ra một tia sáng kiểu laser bằng Quả cầu Pha-lê vĩ đại, để chuyển động các tàu và phi cơ đi quanh trái đất. Cha Thelama là cố vấn trong triều, mời y đến ở trong trại vì nhà y ở xa quá. Y tự phụ y là người đặc biệt, không tin có Thượng Ðế mà y không trông thấy, đã tạo ra vũ-trụ, nên không theo luật trời. Y muốn thu hút năng lực không những để chuyển động máy móc mà còn để sai khiến mọi người và y muốn diệt chủng những bàn-nhân, như kiểu những nhà bác học của Hitler. Trái lại, Thelama rất tin Thượng Ðế, vì thế cuộc hôn nhân đã dự tính giữa Thelama và y đã không thành.

Y trở lại Poseidon và được chính phủ cho phép nhóm của y nghiên cứu Quả cầu Pha-lê vĩ đại. Việc này phải mất nhiều năm và có nhiều người khác cộng tác nhưng y là một trong những nhà bác học nổi tiếng nhất đã sáng chế ra quả cầu pha-lê. Mảnh lực hùng vĩ Quả cầu Pha-lê từ đấy đã giúp ích nhiều cho dân Atlantis nhưng sau này chính nó lại tiêu diệt đại lục và đa số dân chúng.

Sự bí mật của Quả cầu là ở trong thán chất. Những người điều khiển việc kiến tạo này cùng ở trong một khu có đầy đủ tiện nghi và xa hoa tối tân. Họ hướng những mặt phẳng của quả cầu một cách rất tinh xảo để thu hút năng lực của mặt trời và phản chiếu ra thành tia kiểu laser để phục vụ nhân loại. Khi hoàn thành, những tia từ quả cầu phát ra có thể chuyển động máy móc trên trời hay dưới biển đi nhanh với tốc độ âm thanh. Quả cầu không được đặt tại thành phố Poseidon, mà ở gần nơi mà ngày nay là đảo Bimini, ở đó lâu lâu nó còn hoạt động.

Atlantis bấy giờ văn minh nhất thế giới về tất cả mọi phương diện, duy kém Lemuria về triết lý. Tính ham biết lên đến cực điểm và những giải pháp được nghiên cứu theo mọi khía cạnh, trên tiến bộ nhanh chóng lạ lùng.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4: Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
VIII. Trái đất chuyển trục


Những đám mây báo trước tai họa đã bao phủ trái đất cách đây khoảng 50.000 năm. Dẫn-đạo-sư nói rằng những sinh linh bên ngoài không gian đã trông thấy nhiều đường rạn nứt cũng như những vệ tinh nhân tạo ngày nay chụp hình mây và gió bão. Từ trước trái đất đã nhiều lần chuyển động khi vỏ ngoài dần dần nguội đi nhưng những lần ấy không đáng kể vì chưa có loài người có hình thể vật chất, họ chỉ như là những bóng sáng có thể phóng mình đến những nơi an toàn.

Những người có tâm linh sáng suốt ở Lemuria đã biết trước tai họa sẽ đến và khuyên những ai còn muốn lưu lại trên trái đất hãy di chuyển đến những nơi an toàn hơn. Nhiều người lánh sang Á-Châu, Phi- Châu, Mỹ-Châu, mang theo giống rau cỏ, trái cây, hạt dẻ, đã trồng từ nhiều ngàn năm và được người bản xứ đón tiếp, những người này coi họ là người văn minh hiểu biết hơn. Những người khác cảm thấy đời sống xác thịt đã đủ muốn trở lại trạng thái tâm linh khi thiên tai đến. Những người lánh khỏi Lemuria muốn bảo tồn nền văn hóa của họ đã tiến cao và lưu lại cho đời sau, họ có một triết lý vững vàng, chứ không phải là một cuộc tỵ nạn hổn loạn để được an thân.

Ðồng thời những người không gian cũng báo cho người Atlantis biết về tai hoạ sắp đến, mà một số người này lánh sang những nơi mà ngày nay là Yucatan thuộc Mễ-Tây-Cơ hoặc Ai-Cập, Li-Bi, Tây-Ban-Nha, Bồ-Đào-Nha. Họ mở trường dạy văn chương, toán, canh nông và kỹ thuật và cũng như người Lemuria, dựng những tòa nhà hình kim tự vì luôn luôn họ hướng lên Thượng Ðế.

Những ngày chót của Lemuria kéo dài trong mấy trăm năm. Những người di dân đem theo kiến thức của họ về khoa chiêm tinh vì có một số đã liên lạc với những hành tinh khác trên bầu trời và hiểu luật chuyển động của các hành tinh cũng như trái đất. Những người Lemuria dạy người bản xứ tôn thờ Ðức-Sáng-Tạo và giúp họ xây những ngôi đền hướng về Mẫu quốc: Những đền tại Mỹ châu quay mặt về hướng tây và đền tại Á châu quay mặt về hướng đông. Tục này vẫn còn tồn tại nhiều ngàn năm sau. Người ta nhận thấy những đền ở Mể-Tây-Cơ hướng về phía tây và đền Angkor Wat (Ðế Thiên Ðế Thích) tại Cao-Miên hướng về phía đông. James Churchward nói rằng đã khám phá những chữ khắc tại hai nơi giống nhau. Dẫn-đạo-sư nói rằng thời ấy không có hàng rào ngôn ngữ, tuy giọng nói khác nhau chút đỉnh nhưng vẫn hiểu nhau.

Rồi đến khoảng 48.000 năm trước kỷ nguyên, thiên tai kinh khủng đã xảy đến. Những hỏa-diệm-sơn phun lửa, mặt đất rung chuyển tựa như một tờ giấy bị vò nát, trái đất dao động mạnh và đổi trục, nước biển dâng lên khiến toàn thể Lemuria chìm mất dạng, chỉ còn lại vài nơi cao như Hawaii, Cahiti, Polynesia và một số đảo khác.

Ðịa dư thế giới thay đổi trong chớp mắt và sau đó trong một thời gian dài, sương mù dày đặc bao phủ trên nơi đất liền xưa đã nuôi sống bao nhiêu triệu người và sinh linh khác. Nhiều khu đồng bằng nay đã thành núi cao khe thẳm. Những khu thành phố lớn ở Peru và Mể-Tây-Cơ xưa kia gần ngang mặt biển, nay vọt lên cheo leo lưng chừng trời cao hai ba ngàn thước. California ngày nay là bờ biển đông của Lemuria, đã thoát khỏi nạn lụt nhờ dính vào địa lục mới là miền tây Hoa Kỳ ngày nay từ đáy biển nổi lên. Nhiều đám đất mới cũng nổi lên tại Âu-Châu và Sahara xưa là đáy biển nay trở thành vùng đất phì nhiêu.

Còn Atlantis thế nào? Không thay đổi mấy. Một phần đất miền tây chìm xuống, trong khoảng từ bờ biển đông Hoa Kỳ đến Brésil ngày nay. Vì đường xích đạo thay đổi, nên khí hậu lý tưởng của Atlantis trở thành nóng bức, ảnh hưởng đến tính tình con người.
Khi những vùng nóng ấm trở thành đông lạnh và những nơi băng tuyết thành nhiệt đới, những con khủng long không quen với sự thay đổi thời tiết đột ngột, đã chết hàng vạn, thân hình rất lớn mà đầu óc rất nhỏ nên thiếu trí nhớ. Cả những con vật khổng lồ ở dưới nước, trên cạn và trên không cũng không sống nổi. Nhiều tàn tích khủng-long còn nguyên vẹn đã được đào thấy tại vùng bắc cực. Ngày nay chỉ còn vài loại to lớn ở sâu dưới biển nhưng không nguy hại cho loài người nữa.

Người tuy cũng chết rất nhiều vì trái đất đổi trục nhưng nhờ thông minh hơn nên một số còn sống sót và bắt đầu công việc tái tạo. Ðất phì nhiêu có nhiều nên không có vấn đề nhân mãn vì số người bị tiêu diệt khi ấy gần bằng số toàn thể nhân loại ngày nay.

Nếu thực như thế thì điều này trả lời câu hỏi của một số người thắc mắc về luật luân hồi, rằng nhân số ngày nay càng ngày càng tăng nhiều hơn xưa thì những người ấy từ đâu mà ra? Lịch sử của chúng ta mới bắt đầu từ mấy ngàn năm, đâu có biết được thời tiền sử.

Cù lao Easter, một đồi cao xưa là thánh địa thiêng liêng nhất của Lemuria, đã tồn tại an toàn. Những người trước kia di cư sang Mỹ Châu bắt đầu kiến thiết lại những thành phố với những ngôi đền tại Mễ-Tây-Cơ và Leru. Ngày nay có những nơi người ta đào thấy được nhiều lớp thành phố chồng chất lên nhau do những thiên tai liên tiếp nó đã chôn vùi những thành phố ấy. William Niven, một nhà khảo cứu mỏ, hồi đầu thế kỷ đã đào bới tại một nơi gần thành phố Mễ-Tây-Cơ (Mexico city) và đã tìm thấy tàn tích của ba thành phố cổ nằm đè lên nhau qua một lớp đá cát dày chỉ mấy thước, những lớp đá cát này chứng tỏ nơi đây đã là bãi biển, mà ngày nay ở trên 2000 thước cao hơn mặt biển.

Hàng triệu hàng triệu linh hồn mất thể xác trong nạn chìm đắm Lemuria, đã trở về trạng thái tâm linh. Những hồn nào đã tiến hóa vì làm được nhiều công đức, thì không phải trở lại đời sống vật chất nữa, và sẽ tiếp tục tu tiến để trở về với Thượng Ðế, còn những kẻ đã làm việc thất đức sẽ phải luân hồi nhiều lần để học nhẫn nhục và tình thương. Một số người đương sống ngày nay là người đã ở Lemuria hay Atlantis nhưng không phải là tất cả đều trở lại cùng một lúc hay trong khoảng vài trăm năm.

Khi Lemuria bị chìm, những người Atlantis ngạc nhiên sợ hãi, họ coi Lemuria là mẹ đẻ của nền văn minh, tuy rằng Atlantis đã tiến hơn nhiều. Những người lãnh đạo Lemuria đều là nhà triết học, canh tác và chiêm tinh, đã dẫn đầu thế giới về triết học và tôn giáo.

Nay lãnh đạo tinh thần không còn, Atlantis chỉ thiên về lãnh đạo vật chất. Quả cầu Pha-lê giúp ích cho sự sáng tác rất nhiều, văn minh vật chất càng tiến thì những kỹ thuật gia càng có quyền thế. Khoa học được tôn sùng trên hết và người ta bớt tin tưởng ở Thượng Ðế. Tình trạng ấy cũng gần giống nước Mỹ ngày nay, chú trọng nhiều về máy móc, đời sống vật chất lên cao, nhưng tín ngưỡng và triết lý xuống thấp.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4: Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
IX. Biển Sargasso bí mật


Sau khi Lemuria chìm, Atlantis trở thành lãnh đạo thế giới nhưng không được lòng người vì tính kiêu căng, chỉ muốn dùng võ lực để bắt các nước khác thần phục. Tuy chưa biết dùng đến chất nổ nhưng với quả cầu Pha-lê họ có thể phóng năng lực của tia sáng mặt trời làm nổ những thành phố rất xa. Cướp bóc là sự rất thường. Những người Atlantis trong thời kỳ thứ hai này vơ vét đem về nước tất cả cái gì họ thích, từ các nơi xa Mỹ Châu, Âu Châu và Phi Châu.

Chính thể tại Atlantis trong thời vàng son là quân chủ, những quốc vương trị vì chú trọng đến đạo đức và tôn giáo. Nhưng sau khi Lemuria bị chìm, ngôi vua chỉ tượng trưng cho nghi lễ, còn thực quyền ở trong tay những nhà bác học.

Atlantis là một thành trì học vấn vững mạnh trước khi xảy ra thiên tai. Những học giả từ khắp nơi đến các trường đại học tại đó để dự lớp học về địa chất, thiên văn khoa học, toán học, canh nông. Nhiều người có thể tính nhẩm tới 11 số và có những bảng tính tiện dùng hơn máy tính ngày nay. Những tài liệu được chất chứa trong những thùng làm bằng ruột súc vật chế biến có thể tồn tại trong nhiều ngàn năm nếu được bảo trì kỹ lưỡng. Nhiều thùng ấy nay còn nguyên vẹn trong thùng tài liệu chôn dấu không xa Kim-tự-tháp lớn tại Giza, về hướng thần tượng Sphinx. Có những thùng khác được cất tại Yucatan. Hình trái đất được chụp theo một phương pháp không giống ngày nay. Radio bấy giờ đã có, tiếng nói được truyền bằng sự phản ứng của đá thạch anh (quartz) trên chất kim khí và điều khiển bởi những mặt phẳng của Quả cầu Pha-lê.

Trong 20.000 ngàn năm sau trận thiên tai, Atlantis dần dần suy đồi, bên trong mục nát, chỉ nhờ có Quả cầu Pha-lê mà còn giữ được uy thế đối với các nước. Nhưng không phải là tất cả các nước đều chịu thần phục. Những dân ở nơi mà sau này là Ba Tư hợp với Hi-Lạp chống lại Atlantis. Người Atlantis dùng Lybia làm căn cứ để tấn công Hi-Lạp nhưng bị đánh lui và khi họ tập trung lại lực lượng để tấn công lần nữa thì một thiên tai kinh khủng xảy đến làm thay đổi lịch sử.

Những nhà bác học tăng cường năng lực của Quả cầu Pha-lê và để khuất phục những dân Á Châu ở cách xa nửa vòng địa cầu, nơi mà ngày nay là Trung Hoa, Họ rọi tia sáng xuyên qua trái đất, khiến cho vỏ trái đất nổ tung nhận chìm hầu hết đại lục Atlantis và luôn cả Quả cầu Pha-lê.

Vùng ấy ngày nay gọi là biển Sargasso. Vùng biển bí mật này, phần lớn nước đứng, với nhiều rêu biển nổi trên, trong nhiều thế kỷ đã được mệnh danh là "Nghĩa địa của Ðại-Tây Dương"! Xưa những tàu buồm qua đó đều biến mất dạng, rồi sau những tàu có động cơ cũng vậy. Quá trưa ngày 5-12-1945, một đoàn 5 chiếc phi cơ Hải quân Grumman TBM-3 Avenger cất cánh từ căn cứ Fort Lauderdale, Florida, để tập dợt, do 5 phi công lái với 9 phi hành đoàn. Ðoàn phi cơ gọi là Phi vụ 19, do trung úy Hải quân Charles C. Taylor, một phi công với trên 2500 giờ bay, điều khiển. Chừng 70 phút sau, sau khi bay qua phía bắc đảo Bimini, một phi công bay trên phi trường Hải quân Fort Lauderdale, nhận được tính hiệu lạ lùng của phi cơ điều khiển. Phi công này bị lạc, cả hai địa bàn đều hư, rồi những tính hiệu bị loạn, căn cứ không thể liên lạc được với người nào trong số 14 người trên 5 phi cơ. Ngay sau đó, một phi cơ hai máy Martin Mariner với phi hành đoàn 13 người cất cánh từ căn cứ Hải quân Banana River để tìm 5 phi cơ lạc và dẫn họ về căn cứ. Nhưng rồi sau không nhận được tính hiệu nào của cả 6 phi cơ và mặt dù một cuộc tìm kiếm vĩ đại chưa từng có gồm hơn 300 phi cơ, 4 khu trục hạm, 18 tàu tuần, mấy chiếc tàu ngầm, hàng trăm phi cơ và tàu của tư nhân và cả phi cơ và tàu của Anh đóng tại quần đảo Bahama, không tìm thấy một vết tích nào cả, không một vết dầu, không một phao hoặc một mảnh vụn. (Những bí mật của vùng này đã được nói đến trong cuốn, "khu tam giác Bermuda" (The Bermuda Triangle). Tác giả Adi-Kent Thomas Jeffrey đã kể rõ tên 12 chiếc tàu, một tàu ngầm nguyên tử và hơn một chục phi cơ được ghi nhận đã mất tích tại đây từ 1609 đến 1968, không để lại một dấu vết gì: mảnh gỗ, mảnh áo hay vết dầu trên mặt biển mặc dù rất nhiều tàu và phi cơ qua lại tìm kiếm).

Charles Berlitz trong cuốn "Khu tam giác Bermuda" (The bermuda triangle) nói ranh giới biển Sargasso chạy dài từ 200 dặm phía bắc đảo Antilles lớn, dọc theo và cách bờ biển Hoa Kỳ 200 dặm tới mỏm Hatteras tại North Carolina, rồi thẳng ra Ðại-Tây-Dương đến Phi Châu và Bồ Ðào Nha, ngược lên hướng bắc rồi trở về Mỹ, ranh giới này hợp với ranh giới mà dẫn-đạo-sư đã nói về Atlantis.

Khu tam giác Bermuda nằm trên phần phía tây của biển Sargasso gần khu xưa kia đặt Quả cầu Pha-lê. Berlitz nói rằng trong một phần tư thế kỷ vừa qua, hơn một ngàn nhân mạng đã mất tích tại đó, không để lại một vết tích gì của những phi cơ và tàu thủy. Dẫn-đạo-sư giải thích rằng Quả cầu Pha-lê vẫn còn nằm dưới biển Sargasso và khi mặt trời và mặt trăng đến một vị trí nào đó, ảnh hưởng đến Quả cầu, khiến cho những tia phát ra làm nguy hại cho tàu biển và phi cơ đi qua tầm những tia ấy.

Vụ nổ đã xé đại lục Atlantis mạnh hơn một triệu lần sức nổ của trái bom ném xuống Hiroshima, không những đã nhận chìm hầu hết Atlantis còn gây nên bão tố và sóng thủy triều trên khắp nửa thế giới ở tây phương trong nhiều tháng. Vụ nổ ấy đã được nhận thấy từ các hành tinh khác trên bầu trời. May mắn là những tia của quả cầu pha lê không thể xuyên qua lòng lỏng của trái đất để sang tận Trung Hoa, nên vùng này không hề gì. Nạn hồng thủy lớn lao đã được kể lại trong những huyền thoại của nhiều sắc tộc như dân Do Thái trong thánh kinh.

Phần còn lại Atlantis chỉ là hai hòn đảo Poseidia và Og. Những sự di chuyển đi xa bằng phi cơ và tàu không được nữa vì những quả cầu nhỏ đều quá yếu. Vùng biển đã chôn vùi đại lục, nay như là một vũng bùn lầy đầy những tàn tích. Ðất đai mới nổi lên thì khô cằn vì chất phóng xạ, tựa như sau một vụ nổ bom nguyên tử khổng lồ. Dân Atlantis còn lại phải di chuyển đến những nơi khác và trà trộn với dân Mỹ Châu, Á Châu, Âu Châu và vùng Ðịa Trung Hải.

Hai hòn đảo còn lại vẫn bị rung động ngầm, những hỏa diệm sơn thi nhau bùng nổ, rồi sau hai đảo ấy cũng chìm nốt xuống biển.
Thiên tai này xảy ra khoảng 12.000 năm trước, chỉ còn lại vài hòn đảo nhỏ như azores và Bahamas.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4: Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)
X. Thế giới thời tiền sử

Trong thời Lemuria toàn thịnh, một số dân đã đến lập nghiệp tại vùng đồng bằng Á Châu, nơi mà ngày nay là Gobi. Họ liên lạc với mẫu quốc bằng ý nghĩ và cũng bằng tàu thuyền. Họ sống lẫn lộn với dân bản xứ da vàng, một trong năm giống đã được sinh ra từ nguyên thủy.

Triết lý là môn học được ưa chuộng nhất. Những ngôi đền đều hướng về đông, là hướng về đại lục Lemuria. Sau khi trái đất đổi trục nhận chìm Lemura và nhiều núi nổi lên khắp nơi, các thầy tu xây cất những tu viện trên núi cao, để dễ hòa đồng với vũ-trụ lực. Ðể giữ truyền thống của Lemuria, họ bảo toàn văn hóa triết lý và tôn thờ Thượng Ðế. Những tu viện ấy ngày nay nằm ở Tây Tạng và dãy núi Hy-Mã-Lạp-Sơn xưa là một phần của đồng bằng Gobi. Gobi khi ấy khí hậu ẩm ướt, đất đai phì nhiêu, ngày nay là sa mạc.

Vì Quả cầu Pha-lê của Atlantis không thể chuyển động máy bay và tàu qua một bên kia trái đất nên không có mấy người Atlantis đến Gobi và Trung Hoa ngày nay. Nhưng vì tham vọng, những nhà bác học cầm quyền tại Atlantis muốn chinh phục vùng này, đã rọi tia sáng qua trái đất nhưng tai họa đã đến với chính họ.

Vùng Ấn Ðộ được nổi lên sau Gobi và trước khi Lemuria chìm. Từ trước không có thổ dân, người Lemuria đến rất nhiều, coi đó như là thuộc địa và sống chung với người da vàng cũng di dân đến. Nhiều thầy tu đến đó để truyền bá văn hóa Lemuria. Dân chúng Ấn Ðộ ngày nay là dòng dõi nhiều lớp văn minh: Thầy tu và dân Lemuria, di dân da vàng, da đen, da trắng và những bàn-nhân tuy hình thể không giống những cùng đinh (untouchable) Ấn Ðộ ngày nay nhưng sống ở nước thấp nhất, nhân đó cản trở công việc dân-chủ-hóa xã hội này. Vì ở đây có rất ít người Alantis nên văn hóa không bị nhiễm độc bởi tham vọng quyền thế của họ. Nhưng khi Lemuria chìm thì người Atlantis bắt đầu đến đông.

Trong tập Bách Khoa Toàn Thư (Encydopedia Britannica) tác giả thấy có đoạn nói về Ấn Ðộ. Khi những người Aryan xâm chiếm Ấn Ðộ, họ thấy dân ở đấy văn minh hơn họ về nhiều phương diện, rõ ràng đó là những di dân từ miền đông tới (Lemuria ở về miền đông). Churchward trong cuốn "Những con cháu Lemuria" (The children of Mu). Nói đến những người Naacals, 70.000 năm trước, đã đem đến đây những sách "Cảm hứng thiêng liêng về Mẫu quốc", những sách ấy được cất giữ trong một tu viện Tây-Tạng. Trong sách của người Naacal, nói đến những người Maga lập nghiệp ở Ấn Ðộ 70.000 năm trước, màu da sậm và mắt đen sắc, câu này có vẻ tả người Lemuria da màu. Lại có câu: Cũng như Ai Cập, Ấn Ðộ không bao giờ có một thời man rợ trước thời văn minh. Ấn-Ðộ là hạt ngọc trai trên trán của Mẫu quốc Lemuria.

Những người da trắng, thoạt tiên ở trong vùng Carpathe-Caucase, dần dần tràn lan về phía tây quanh Ðịa trung Hải rồi cùng tập trung tại dãy núi Pyrénée miền nam nước Pháp. Họ cũng tràn về phía đông nam đến Ba Tư và Ai Cập. Tại Ba Tư họ lập thành dòng giống Aryan mà Ðức Quốc Xã đã tự hào là dòng dõi. Người da trắng cũng cầm quyền tại Ai Cập, quốc vương là Araaraat. Một vị cao tăng là Ra Ta theo Araaraat đến, cùng với hàng trăm người khác, lo giúp đỡ những người bản xứ, trong ấy có nhiều bàn-nhân được Ra Ta giúp loại bỏ những bộ phận dị hình. Ra Ta hợp tác với những người Atlantis tại Poseidia, dùng phương pháp giải phẩu và năng lực những quả cầu Pha-lê nhỏ còn xót lại, để loại bỏ những đuôi, móng, sừng, lông cánh, cho các bàn-nhân.

Những người Atlantis đến Ai Cập càng ngày càng đông để tránh tai nạn vì hai hòn đảo còn lại thường bị rung chuyển và những nhà tiên tri đoán sẽ có nạn hồng thủy nữa. Hermes, là sứ giả của Atlantis có nhiệm vụ bảo vệ những tài liệu quý giá, đã đem những tài liệu ấy đến Ai Cập và hợp tác với Ra Ta xây dựng kim-tự-tháp để cất giữ những bí mật của thời oanh liệt xưa.

Kim-tự-Tháp lớn nhất được xây dựng tại Giza trong thời gian trước và sau khi Atlantis bị chìm lần cuối, vào khoảng 10.000 năm trước kỷ nguyên, trong đó có chứa tất cả những toán số để tính vị trí các ngôi sao, kinh tuyến, vĩ tuyến và đường kính trái đất, chiều dày lớp vỏ trái đất. v.v...Kim-tự-tháp cũng có mục đích làm cái kho để chứa những bảo vật của Atlantis nhưng vì thiên tai xảy đến nhanh chóng quá nên những bảo vật đều bị chôn vùi dưới biển.

Nhiều người nghĩ rằng những người thượng cổ có quay hàm lớn và khối óc nhỏ. Nhưng những bộ xương cổ xưa đã được khám phá hơn 100 năm trước tại Pháp cho thấy người xưa cao hơn và xương sọ lớn hơn người ngày nay. Những người ấy đã sống quanh Ðịa Trung Hải 15 đến ngàn năm trước, trán cao, gò má cao, quai hàm nở, thân cao hai thước, không có vẻ gì giống loài khỉ. Nếu thực những người ấy là tổ tiên loài người thì quả là người thời nay đã suy đồi hơn xưa.

Âu Châu xưa kia chỉ gồm có mấy hòn đảo Anh quốc và Na-uy, Thụy Ðiển ngày nay, còn phần lớn lục địa mới được nổi lên sau khi trái đất đổi trục. Những người Lemuria và Atlantis còn lại dần dần pha trộn giống với người da trắng tại Âu Châu, người da vàng tại Mông Cổ, người da đen tại Phi Châu, Úc Châu và các quần đảo tại vùng Nam Dương là những đất đai Lemuria còn xót lại, dân chúng ở đó lâu ngày mất liên lạc với giới lãnh đạo và thầy tu nên trở thành man rợ. Miền Nam cực trong nhiều triệu năm thuộc vùng ôn đới và nối liền với Úc Châu, trước khi bị thiên tai tách ra bằng những vùng biển rộng lớn. Người Atlantis đã họa địa đồ miền này nhưng thấy không thể ở được vì đầy dẫy những khủng long và vật khổng lồ. Khi trái đất đổi trục, những vật ấy bị tiêu diệt vì không chịu nổi cái lạnh băng giá đột ngột.

Khi Lemuria hãy còn, Alaska ở trong vùng nhiệt đới như Florida ngày nay nhưng ít có người dám ở đó vì những khủng long và man-mút rất nhiều. Nhưng khi trái đất đổi trục, những con vật khổng lồ ấy bị chết vì băng giá, một vùng đất nổi lên bắt cầu từ đấy sang miền đông bắc Á Châu, vùng này cũng bị đông lạnh. Rất lâu về sau, mới có những bộ lạc du mục Á Châu đi phiêu lưu qua đấy, dần dần tiến xuống những vùng ấm áp hơn. Những người Á Châu ấy càng ngày càng đến đông, rồi trộn lẫn với những người da đỏ và da nâu thành những giống phụ.Những người Mễ-Tây-Cơ ngày nay có vài nét mặt Á Ðông là vì cuộc di dân này từ Siberia đến vùng nắng ấm trung Mỹ.

Nhiều người Alantis lánh nạn sang Mỹ Châu, ở đây những người Lemuria đã đến từ nhiều ngàn năm trước. Ðất đai phì nhiêu, hoa màu được phân phát đều cho mọi người, không hề có sự tranh giành. Những người Lemuria bắt đầu chiếm vùng bờ biển phía tây hiện thời và xứ Yucatan (Mễ-Tây-Cơ) nhưng về sau họ di chuyển đến những đất mới nổi lên tại vùng trung ương Hoa Kỳ ngày nay. Họ đã mang theo những tài liệu và xây một phòng rất kín gần thành phố Uxmad tại Yucatan để cất những tài liệu về văn minh Atlantis và về việc xây dựng một Quả cầu Pha-lê. Nhưng không một người nào còn sống sót khi đó biết cách tái tạo Quả cầu Pha-lê đã mất.

Sau khi phần còn lại của Atlantis bị chìm nốt, phòng kín ấy nằm sâu dưới nước, lâu ngày không ai còn biết đích là chỗ nào, rồi đến khi đất lại nổi lên, không còn thể nhận biết được phòng ấy đã được chôn tại đâu.

(Còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Tam_Tu_Bi
Chương 4: Thế Giới Khi Xưa(THE WORLD BEFORE)
XI. Những thiên thần trong thánh kinh


Những nhà bác học nói rằng 70.000 năm trước, Bắc-cực nằm ở vùng Nam-cực và có thể một ngày kia quay trở lại. Những tảng đá có từ lực trái ngược với từ lực của trái đất và đã được khám phá tại Ấn Ðộ, Pháp và Nhật Bản trong khoảng từ 1855 đến 1929. Trong đầu thập niên 1960, Ban Khảo Sát Ðịa Chất Hoa Kỳ đã báo cáo rằng theo sự nghiên cứu những tảng đá lớn thu thập từ khắp nơi trên hoàn cầu, thì đã có chín lần trái đất đổi trục trong thời gian ba triệu rưỡi năm qua.

Trong thời vàng son của Lemuria và Atlantis, hai đại lục ấy phần lớn nằm tại vị trí Thái Bình Dương và Ðại Tây Dương, tuy nhiên không phải cùng vị trí đối với trục trái đất ngày nay. Phần lớn lục địa Mỹ Châu và Âu Châu còn nằm dưới mặt biển, núi non hầu như không có, cho đến khi Lemuria chìm xuống bấy giờ núi mới nổi lên như một tờ giấy bị vò nhàu. Tại Alaska có những vết tích động vật và cây cối chồng chất lên nhau như trong những thiên tai. Những thân hình man-mút còn cả thịt da và lông nguyên vẹn đã được đào thấy tại vùng băng giá bắc Sibérie, tỏ rằng những con vật ấy đã bị đột nhiên đông lạnh. Trong Bắc Băng Dương quanh Bắc cực, có rất nhiều tàn tích man-mút, tê-giác, ngà voi, những giống này cần rất nhiều cây cỏ để sống, không thể nào ở những nơi quanh năm đá phủ. Rõ ràng Alaska và miền bắc Sibérie xưa kia là xứ nóng. Trái lại có nhiều bằng chứng cho thấy rằng vùng nhiệt đới Brézil và Phi Châu xưa kia bị bao phủ dưới một lớp dày băng đá.

Ðiều đó có thể giải thích tại sau, khoảng 50.000 năm trước người Atlantis với những phi cơ của họ, đã có thể chụp hình Greenland và Nam-cực khi những nơi ấy không bị băng đá bao phủ (Bản địa đồ Reis đã nói ở trên)
Trong số những thiên tai nhiều vô kể đã thay đổi cục diện trái đất, có ba lần đáng để ý hơn cả là Lemuria bị chìm 48.000 năm trước kỷ nguyên, phần lớn Atlantis bị chìm 28.000 năm trước kỷ nguyên, và phần còn lại của Atlantis bị chìm nốt 10.000 năm trước kỷ nguyên. Theo dẫn-đạo-sư và Edgar Cayee, nạn hồng thủy trong Thánh Kinh trùng hợp với thiên tai thứ hai cách đây khoảng 30.000 năm.

Những thời kỳ nói trên chỉ là phỏng chừng vì thời gian trên trái đất không nghĩa lý gì đối với thế giới tâm linh. Chỉ ước rằng những Adam và Eve hiện thân trên trái đất khoảng 4 triệu năm trước. Amelius với hình thể nhẹ vài năm trước đó và những bàn-nhân nhiều triệu năm trước nữa.

Trong Thánh Kinh chỉ nói đến gia đình Noah, cháu Adam đời thứ 10, được thoát khỏi nạn hồng thủy, nhưng thực ra còn rất nhiều người khác nữa, mặc dù đã có hàng vạn người chết ở Trung Ðông và hàng triệu người chết tại Atlantis. Noah là tổ dòng giống Semite, các cháu chắt là Abraham, Jacob, Joseph, David rồi đến Jesus Christ.

Abraham, cháu Adam đời thứ 20, có hai con trai: Con thứ hai Isaac là con vợ cả, là dòng giống thuần túy Lemuria; con lớn Ishmaci là con vợ bé, sau này là tổ dân tộc Ả-Rập. Con cháu thứ hai của Isaac là Jacob, là tổ dân tộc Do-Thái (Jew). Dân Do-Thái vẫn giữ được truyền thống của người Lemuria và tôn thờ Thượng Ðế (GOD). Nhờ tín ngưỡng ấy, chứ không phải là nhờ có giúp đỡ người khác, họ được các thiên thần trợ lực tìm một xứ sở, và sau một thời gian dài lang thang rồi sống nhờ Ai-Cập, họ đã được trở về đất hứa. Theo dẫn-đạo-sư, Moses là một người Lemuria đầu thai vào dòng giống Hebrew để cứu dân tộc này ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai-Cập.

Tâm linh (Spririt) và linh hồn (Soul) khác nhau thế nào? Dẫn-đạo-Sư giải thích như sau. Linh hồn là cá thể riêng biệt, là Ta. Tâm linh là cái sức mạnh của đời sống rút từ nhiều nguồn tiến hóa. Khi một hài nhi nhập vào thân xác thịt, linh hồn nó qua nhiều kiếp luân hồi, đã tạo nên một cái-thể và mẫu mực ăn ở hành động trong đời sống tới. Bấy giờ tâm linh được rút vào hòa nhịp với linh hồn ấy để cho con đường đi tới được tốt đẹp hơn. Tâm linh là tinh hoa của Thượng Ðế nhưng vì đã tách rời với đại khối từ khi bắt đầu làm người, nên có nhiều đẳng cấp khác nhau. Cả linh hồn và tâm linh đều cùng hướng về hợp với Ðức Sáng Tạo. (Tâm linh (Esprit) nói ở đây có lẽ là Tâm thức, là A-Lại- a-Thức, là Phật tính trong kinh Phật.). Ðức chúa Jesus gọi tâm linh là Ðức Chúa Thánh Thần (Holy Spririt: le saint Esprit). Không có tâm linh, chúng ta sẽ quay trở về đời xác thịt như thú vật.

Nói đến các thiên thần, dẫn-đạo-sư nói có ba hạng. Thượng thiên thần là những vị không bao giờ sinh vào thân vật chất, vì không bao giờ trái luật thiên nhiên, hoàn toàn hòa đồng với Thượng Ðế. Những vị ấy cai quản những khu vực rộng lớn trong vũ-trụ. Thứ đến những thiên thần, mà một số đã sống trong đời vật chất. Sau nhiều đời sống không tội lỗi, những vị này không cần trở lại và được ở gần Thượng Ðế. Nhưng cũng có nhiều thiên thần không bao giờ sinh vào thân xác thịt. Các thiên thần có nhiệm vụ trong việc tiến hóa của nhân loại và của các động vật, thực vật và khoáng vật.

Sau cùng là những thần hộ mệnh, là những tâm linh trước đã sống trong đời xác thịt, nay hết lòng giúp đỡ người sống tránh khỏi tai ương và chết bất thần. Ðây là những linh hồn quảng đại, tuy vậy chưa được tiến cao bằng những thiên thần và thượng thiên thần. Một số thần hộ mệnh giúp cho những sáng kiến, như Instein là một trạm tiếp nhận những luật vũ-trụ nên có thể trong những giấc mơ, xảy ra những ý nghĩ phi thường.

Chúng ta cũng có thể trở thành những thiên thần nếu chúng ta biết nghe tiếng nói yên lặng của Thượng Ðế bên trong chúng ta, và quay vào đó (lương tâm) trước khi quyết định hay hành sự một việc gì. Tất cả chúng ta cần phải nghe hoặc cảm thấy tiếng đó, nhưng thường thường ta vẫn quên trong khi đi trên con đường tươi đẹp của ta. Khi ở bên kia ngưỡng cửa (cõi vô hình) tự nhiên ta hiểu rõ thế nào là phải là trái, vì ta sẵn có tinh hoa của Thượng Ðế bên trong chúng ta và không bị những cám dỗ vật chất nó cạm bẫy ta. Ta hiểu rõ rằng những hành động vô ý thức trong đời xác thịt đã làm cho ta xa Ðấng Sáng Tạo. Như thế, thay vì được hưởng khung cảnh tình yêu thương thuần túy không ích kỷ mà chúng ta có thể đạt tới, ta còn phải ở đây học đi học lại những bài học trước trong những thời gian chờ đợi giữa hai đời sống trên mặt đất. Cho nên ta cần phải học sao cho có thể, phân biệt tức khắc không lưỡng lự cái hay với cái dở, điều phải với điều trái, như ta thuộc lòng bảng cửu chương - Hãy làm việc thiện bỏ việc ác.

Trở lại tình trạng nhân loại trên trái đất từ sau khi Atlantis hoàn toàn chìm hết khoảng 10.000 năm trước kỷ nguyên, dẫn-đạo-sư nói rằng người ta dần dần tụt xuống trình độ gần như dã man vì không còn những người lãnh đạo của hai đại lục trước nữa. Những phương tiện vận chuyển như thời sơ khai. Tàu thuyền không thể đi lại được trên Ðại Tây Dương vì bùn lầy và những tàn tích nổi lềnh-bềnh. Những trận thủy tai và động đất đã phá hủy các kho tàng tài liệu và những dân tộc rời rạc quên cả lối viết đọc xưa, vì không còn tu sĩ giảng dạy, không còn người lãnh đạo tâm linh. Trừ một vài nơi như Ấn Ðộ, Ai Cập, Peru, ngoài ra dân chúng không hiểu biết gì về văn hóa. Ðó là thời kỳ đen tối.

Trong thời kỳ ấy, những thú vật được người chăn nuôi để làm việc nặng nhọc, vì những bàn-nhân hầu như mất hết, nhờ phương pháp thành công của người Atlantis và Ra Ta. Khi mọi người bắt buộc phải làm lấy các việc chân tay, họ không có thì giờ rèn luyện trí thức nên không tiến hóa.

Sau nhiều ngàn năm thời tiền sử đen tối ấy, việc học mới lại được phục hồi tại vùng Tiểu Á. Thành Athens và một vài nơi khác quanh Ðịa Trung Hải trở thành những trung tâm văn học. Người Ai Cập không bao giờ dập tàn ngọn đuốc nhưng họ giữ lấy riêng cho họ. Từ khi Alexander the Great truyền bá ngọn đuốc văn minh cùng với đạo quân chinh phục, Athens bừng sáng, Rome (La mã) trồi lên và rồi sụp xuống. Lịch sử bắt đầu từ đó.

(Còn tiếp)