- Thứ 2 Tháng 1 17, 2011 6:45 am
THỨ KIẾT TƯỜNG GIỚI ẤN
Theo như ấn địa giới ở trước, co đầu ngón tay hữu, mở đầu ngón tay tả ra, xoay bên hữu ba vòng, tùy tâm gần xa, tức thành cái thành Kim Cang kiên cố. Chư Phật, Bồ-tát còn không dám trái vượt huống gì các kẻ khó điều phục, Tỳ Na Dạ Ca và loại nha, trảo, độc trùng, không thể gần gũi được.
GIẢI: Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy rằng: Tưởng từ ấn ấy lưu xuất ra ánh lửa rực rỡ, dùng ấn ấy nhiễu thân ba vòng, tùy tâm lớn nhỏ, thành Kim Cang sáng chói vuông vức bốn phía tường vách làm giới hạn, các ác ma nhơn, cọp, beo, sư tử, và các độc trùng không thể gần gũi.
Thần Biến Sớ dạy rằng: Người hành giả trì chú, được chư Phật quy mạng, cho nên Phật đảnh kệ dạy: Mười phương thế giới các Như Lai, hộ niệm quy mạng người thọ trì. Như vậy chư Phật còn trở lại quy mạng người trì chú, mà đâu dám có sự trái vượt ấy ư! Tỳ na dạ ca đây nói rằng: Trư đầu tượng tỳ (đầu heo mũi voi).
Chân ngôn: Án - Chuẩn nễ nĩnh bát ra, ca ra da ta phạ hạ. Kim Cang Trí dịch: Chữ nĩnh nói nê, tụng ba biến lấy ấn diêu động ba vòng.
THỨ KIẾT THƯỢNG PHƯƠNG VÕNG GIỚI ẤN
Theo như Tường giới ấn ở trước, mở ngón tay trỏ bên trái, ngón tay mặt đè ngón trái giữa trung tiết giao với nhau lại tức thành. Tụng chú này ba biến.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Theo như tưởng giới ấn, mở ngửa ra, ngón tay bên mặt nắm đầu ngón trỏ bên trái, đầu ngón cái bên trái nắm đầu ngón trỏ bên mặt, đầu ngón út đứng thẳng như cũ tức thành.
Chân ngôn: Úm (án) - Chuẩn nể nĩnh bán nhạ ra ta phạ hạ.
(Chữ nhạ đọc ra. Kim Cang Trí dịch: Chữ nĩnh đọc nê, chữ ra đọc chữ lạ, tụng ba biến. Lấy ấn tùy theo đó mà dung động qua ba lượt. Riêng có bộ lấy ấn để nơi đảnh xoay quanh bên hữu rồi xả ấn.
Do tụng Chân ngôn kiết ấn gia trì, tức thành lưới Kim Cang kiên cố bất hoại.
(Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ nói: Do sức ấn chú gia trì nên phương trên che lưới Kim Cang kiên cố, cho đến các cõi trời Tha Hóa Tự Tại không thể chướng nạn, người hành giả thân tâm an vui, Tam ma địa dễ thành tựu.)
THỨ KIẾT HỎA VIỆN MẬT PHÙNG ẤN
Lấy tay tả đậy lên lưng tay hữu trùng nhau (linh vô phùng) thẳng đứng hai đầu ngón tay cái, tức thành. Tụng Chân ngôn ba biến xoay quanh bên hữu ba vòng. Tưởng ngoài vách tường Kim Cang có đại Kim Cang hỏa diệm đoanh vây chung quanh.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Lấy tay trái che kín lên lưng tay mặt trùng nhau, đứng thẳng hai ngón tay cái, cách nhau hai lóng nhỏ.
Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy: Tưởng từ ấn này lưu xuất ra vô lượng ánh quang rực rỡ. Lấy ấn nhiễu quanh bên mặt ba vòng, nơi ngoài tường Kim Cang lại có ánh sáng rực rỡ đoanh vây chung quanh, tức thành hỏa giới kiên cố thanh tịnh.
Chân ngôn: Úm (án) – A tam mãn nghĩ nễ hồng phấn tra (chữ Hồng bán thinh)
GIẢI: Chữ tam khứ thinh, chữ mãn thượng thinh cũng nói ma, hoặc xã, hay là mang, kéo dài âm thinh ra, nghĩ. Hoặc nghĩ, Tô Tất kinh nói tiếng niệm trong cổ họng. Kim Cang Trí dịch: Úm (án) – A tam ma kỳ nễ hộc ta phạ ha.
Do kiết ấn này tụng Chân ngôn, thành đại Mật bộ bủa giăng kín đáo. Không bị các ma nhập vào.
THỨ KIẾT Ứ GIÀ ẤN
GIẢI: Ứ già hoặc Át già, lại nói A già. Ðây là nói rằng khí, đồ đựng. Phàm đồ đựng cúng dường đều xưng là Ứ già nghĩa là lấy uất kim, long não, bạch đàn hương v.v… để nước đầy trong Ứ già diệu khí mà phụng hiến đó. Ðồ đựng này làm bằng vàng, bạc, bảo ngọc, đồng đá, gỗ, sành, chén loa và chuyết liên diệp, nhũ thọ diệp, đều được.
Làm đồ Ứ già cúng dường phải làm thứ đồng tốt làm đồ đựng Ứ già là hơn hết. Kinh Tô Tất Ðịa dạy: Làm Ế Ðể Ca pháp phải dùng đồ đựng màu trắng, để chút ít gạo nếp và sữa. Làm Bố Sắt Vi Ca pháp phải dùng đồ đựng màu vàng, nên để hộ ma và sữa chín. Làm Tỳ Giá Rô Ca pháp phải dùng đồ đựng màu đen, để gạo tẻ và ngưu thỉ, hoặc lấy chút huyết của mình (sau này sẽ giải thích).
Hai tay tréo nhau bên trong, dựng hai ngón tay giữa đầu ngón dính sát nhau, lấy hai ngón tay trỏ vịn lưng hai ngón tay giữa, hai ngón tay cái vịn sát dưới lóng cuối cùng của hai ngón tay trỏ tức thành căn bản ấn. Theo như ấn căn bản trước. Co sát hai ngón tay cái vào bàn tay, tức thành Ứ già ấn, tụng Chân ngôn ba biến.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Theo như căn bản ấn trước, lấy hai ngón tay cái mỗi ngón nắm vịnh đốt thứ nhất cuối cùng của ngón tay trỏ, tức thành.
Chân ngôn: Úm (án) - Giả lễ chủ lễ chuẩn nê hát kìm bát ra để, tha bà nga phạ để ta phạ hạ.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Úm (án) - Chiết lệ chủ lệ Chuẩn-đề hát kìm bạt già phạ đế bát ra để ta sa phạ hạ.
Xét Chân ngôn này với bổn dịch đồng, chỉ sau hai câu đảo nhau không đồng vậy. Bản dịch lấy bát ra để tha, để nơi trước, bà nga phạ để, lại nơi sau. Ngài lấy bạt già phạ đế, để nơi trước, bát ra để ta, để nơi sau. Bởi vì riêng bản Trì Minh trong kinh tạng cũng đồng với Ngài Kim Cang Trí.
Hành giả tư duy Thánh chúng rõ ràng phân minh, tưởng tự thân mình ở dưới chân chư Phật, Thánh chúng, tay cầm bát bảy báu đồ ứ già, đựng đầy nước thơm rửa chân Thánh chúng, do dâng hiến nước thơm hương ứ già cho nên hành giả ba nghiệp được thanh tịnh, tẩy sạch phiền não cấu trược, nghiệp chướng tiêu trừ.
GIẢI: Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy: Do hiến cúng ứ già hương thủy, rửa hai chân Thánh chúng khiến hành giả ba nghiệp thanh tịnh, tẩy trừ tất cả phiền não tội cấu. Từ Thắng Giải Hạnh Ðịa đến Thập Ðịa và Như Lai Ðịa, sẽ chứng như vậy cho đến đạt địa vị Ba-la-mật, các đức Như Lai trao nước cam lồ pháp thủy để quán đảnh. Lại Ngũ Tự Tâm Ðà-la-ni nói: Uống nước này trừ các tai hoạn.
(còn tiếp)
Theo như ấn địa giới ở trước, co đầu ngón tay hữu, mở đầu ngón tay tả ra, xoay bên hữu ba vòng, tùy tâm gần xa, tức thành cái thành Kim Cang kiên cố. Chư Phật, Bồ-tát còn không dám trái vượt huống gì các kẻ khó điều phục, Tỳ Na Dạ Ca và loại nha, trảo, độc trùng, không thể gần gũi được.
GIẢI: Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy rằng: Tưởng từ ấn ấy lưu xuất ra ánh lửa rực rỡ, dùng ấn ấy nhiễu thân ba vòng, tùy tâm lớn nhỏ, thành Kim Cang sáng chói vuông vức bốn phía tường vách làm giới hạn, các ác ma nhơn, cọp, beo, sư tử, và các độc trùng không thể gần gũi.
Thần Biến Sớ dạy rằng: Người hành giả trì chú, được chư Phật quy mạng, cho nên Phật đảnh kệ dạy: Mười phương thế giới các Như Lai, hộ niệm quy mạng người thọ trì. Như vậy chư Phật còn trở lại quy mạng người trì chú, mà đâu dám có sự trái vượt ấy ư! Tỳ na dạ ca đây nói rằng: Trư đầu tượng tỳ (đầu heo mũi voi).
Chân ngôn: Án - Chuẩn nễ nĩnh bát ra, ca ra da ta phạ hạ. Kim Cang Trí dịch: Chữ nĩnh nói nê, tụng ba biến lấy ấn diêu động ba vòng.
THỨ KIẾT THƯỢNG PHƯƠNG VÕNG GIỚI ẤN
Theo như Tường giới ấn ở trước, mở ngón tay trỏ bên trái, ngón tay mặt đè ngón trái giữa trung tiết giao với nhau lại tức thành. Tụng chú này ba biến.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Theo như tưởng giới ấn, mở ngửa ra, ngón tay bên mặt nắm đầu ngón trỏ bên trái, đầu ngón cái bên trái nắm đầu ngón trỏ bên mặt, đầu ngón út đứng thẳng như cũ tức thành.
Chân ngôn: Úm (án) - Chuẩn nể nĩnh bán nhạ ra ta phạ hạ.
(Chữ nhạ đọc ra. Kim Cang Trí dịch: Chữ nĩnh đọc nê, chữ ra đọc chữ lạ, tụng ba biến. Lấy ấn tùy theo đó mà dung động qua ba lượt. Riêng có bộ lấy ấn để nơi đảnh xoay quanh bên hữu rồi xả ấn.
Do tụng Chân ngôn kiết ấn gia trì, tức thành lưới Kim Cang kiên cố bất hoại.
(Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ nói: Do sức ấn chú gia trì nên phương trên che lưới Kim Cang kiên cố, cho đến các cõi trời Tha Hóa Tự Tại không thể chướng nạn, người hành giả thân tâm an vui, Tam ma địa dễ thành tựu.)
THỨ KIẾT HỎA VIỆN MẬT PHÙNG ẤN
Lấy tay tả đậy lên lưng tay hữu trùng nhau (linh vô phùng) thẳng đứng hai đầu ngón tay cái, tức thành. Tụng Chân ngôn ba biến xoay quanh bên hữu ba vòng. Tưởng ngoài vách tường Kim Cang có đại Kim Cang hỏa diệm đoanh vây chung quanh.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Lấy tay trái che kín lên lưng tay mặt trùng nhau, đứng thẳng hai ngón tay cái, cách nhau hai lóng nhỏ.
Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy: Tưởng từ ấn này lưu xuất ra vô lượng ánh quang rực rỡ. Lấy ấn nhiễu quanh bên mặt ba vòng, nơi ngoài tường Kim Cang lại có ánh sáng rực rỡ đoanh vây chung quanh, tức thành hỏa giới kiên cố thanh tịnh.
Chân ngôn: Úm (án) – A tam mãn nghĩ nễ hồng phấn tra (chữ Hồng bán thinh)
GIẢI: Chữ tam khứ thinh, chữ mãn thượng thinh cũng nói ma, hoặc xã, hay là mang, kéo dài âm thinh ra, nghĩ. Hoặc nghĩ, Tô Tất kinh nói tiếng niệm trong cổ họng. Kim Cang Trí dịch: Úm (án) – A tam ma kỳ nễ hộc ta phạ ha.
Do kiết ấn này tụng Chân ngôn, thành đại Mật bộ bủa giăng kín đáo. Không bị các ma nhập vào.
THỨ KIẾT Ứ GIÀ ẤN
GIẢI: Ứ già hoặc Át già, lại nói A già. Ðây là nói rằng khí, đồ đựng. Phàm đồ đựng cúng dường đều xưng là Ứ già nghĩa là lấy uất kim, long não, bạch đàn hương v.v… để nước đầy trong Ứ già diệu khí mà phụng hiến đó. Ðồ đựng này làm bằng vàng, bạc, bảo ngọc, đồng đá, gỗ, sành, chén loa và chuyết liên diệp, nhũ thọ diệp, đều được.
Làm đồ Ứ già cúng dường phải làm thứ đồng tốt làm đồ đựng Ứ già là hơn hết. Kinh Tô Tất Ðịa dạy: Làm Ế Ðể Ca pháp phải dùng đồ đựng màu trắng, để chút ít gạo nếp và sữa. Làm Bố Sắt Vi Ca pháp phải dùng đồ đựng màu vàng, nên để hộ ma và sữa chín. Làm Tỳ Giá Rô Ca pháp phải dùng đồ đựng màu đen, để gạo tẻ và ngưu thỉ, hoặc lấy chút huyết của mình (sau này sẽ giải thích).
Hai tay tréo nhau bên trong, dựng hai ngón tay giữa đầu ngón dính sát nhau, lấy hai ngón tay trỏ vịn lưng hai ngón tay giữa, hai ngón tay cái vịn sát dưới lóng cuối cùng của hai ngón tay trỏ tức thành căn bản ấn. Theo như ấn căn bản trước. Co sát hai ngón tay cái vào bàn tay, tức thành Ứ già ấn, tụng Chân ngôn ba biến.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Theo như căn bản ấn trước, lấy hai ngón tay cái mỗi ngón nắm vịnh đốt thứ nhất cuối cùng của ngón tay trỏ, tức thành.
Chân ngôn: Úm (án) - Giả lễ chủ lễ chuẩn nê hát kìm bát ra để, tha bà nga phạ để ta phạ hạ.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Úm (án) - Chiết lệ chủ lệ Chuẩn-đề hát kìm bạt già phạ đế bát ra để ta sa phạ hạ.
Xét Chân ngôn này với bổn dịch đồng, chỉ sau hai câu đảo nhau không đồng vậy. Bản dịch lấy bát ra để tha, để nơi trước, bà nga phạ để, lại nơi sau. Ngài lấy bạt già phạ đế, để nơi trước, bát ra để ta, để nơi sau. Bởi vì riêng bản Trì Minh trong kinh tạng cũng đồng với Ngài Kim Cang Trí.
Hành giả tư duy Thánh chúng rõ ràng phân minh, tưởng tự thân mình ở dưới chân chư Phật, Thánh chúng, tay cầm bát bảy báu đồ ứ già, đựng đầy nước thơm rửa chân Thánh chúng, do dâng hiến nước thơm hương ứ già cho nên hành giả ba nghiệp được thanh tịnh, tẩy sạch phiền não cấu trược, nghiệp chướng tiêu trừ.
GIẢI: Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ dạy: Do hiến cúng ứ già hương thủy, rửa hai chân Thánh chúng khiến hành giả ba nghiệp thanh tịnh, tẩy trừ tất cả phiền não tội cấu. Từ Thắng Giải Hạnh Ðịa đến Thập Ðịa và Như Lai Ðịa, sẽ chứng như vậy cho đến đạt địa vị Ba-la-mật, các đức Như Lai trao nước cam lồ pháp thủy để quán đảnh. Lại Ngũ Tự Tâm Ðà-la-ni nói: Uống nước này trừ các tai hoạn.
(còn tiếp)