Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Phật Lịch 2531
KINH CHUẨN ĐỀ ĐÀ-LA-NI
(HỘI-THÍCH)

HÀNH TRÌ BÍ-MẬT PHÁP MÔN
(Toàn bộ I, II, III)

Ngài Bất Không Bồ-Tát dịch Phạn ra Hán
Ngài Hoằng Tán Hội Thích
Tỳ-Khưu Thích Viên Đức dịch Hán ra Việt.

Botat Chuande.jpg

Chuẩn đề thánh tượng


Lời dẫn

"Mật giáo là tạng kinh Vô Tự. Nó thuộc loại Mật-Pháp Tâm Truyền mà khi điểm đạo truyền pháp, bậc Đạo-Sư chỉ dùng lối khẩu khẩu tương truyền mà trao pháp cho người được tuyển chọn.

Kinh Đại Nhật viết: "Nầy, Bí Mật Vương! (Kim Cang Thủ Bồ-tát), vị A-xà-lê kia nếu thấy chúng sanh kham làm pháp khí:
a) Có sự tin hiểu sâu rộng.
b) Xa lìa trần cấu.
c) Mạnh-mẽ siêng năng.
d) Thường nghĩ đến việc lợi tha.
Nếu gặp người hội đủ 4 điều kiện trên, vị A-xà-lê nên tự đến khuyến phát mà bảo rằng:
"Nầy Phật tử! Đạo Pháp Đại Thừa chơn-ngôn đây, ta vì Bậc Đại-Thừa căn-khí mới khai-diễn, ông nên dùng trí tuệ phương tiện để thành tựu, tất sẽ chứng được đạo quả".

Kinh Kim-Cang cũng có viết: "Vị A-xà-lê nếu thấy người có thể làm pháp khí, chất trực hòa nhã, trí tuệ sáng suốt, lòng tin bền chắc tuy kẻ đó không cầu pháp và vào Đạo Tràng, vị "Quán Đảnh Sư" nên kêu mà bảo rằng: "Nầy Thiện Nam Tử! Nghi thức bí tạng Mật Ngữ của Đại Thừa khó được nghe, ông muốn thành tựu trí-tuệ chân thật của Như Lai, phải một lòng tu hành pháp này, tất sẽ chứng được Nhất Thế Chủng Trí." Lối bí truyền như vậy đã được luân lưu trên 2000 năm nay mà vẫn chưa hề thất lạc "Tâm Ấn".

Mật Tông xác định: ỨNG THÂN PHẬT, Đức Thích CA MÂU NI ở cõi ta-bà này, sau khi thành đạo vào ngày thứ 7, trong khi Thiền Định đã nhập Pháp Thân Tam Muội, tuyên thuyết Mật-Pháp tại Kim Cang Pháp Giới cung cho Kim Cang Thủ Bồ-tát và chư đại Bồ-tát khác ở 10 phương thế giới đến tập hội. Đó là khởi nguyên của Tôn nầy vậy.
Sau bẩm theo lời Phật dạy, Ngài Kim Cang Thủ đã đem giáo-pháp ra hoằng-hoá và mật truyền Đại pháp lại cho Ngài Long-Thọ."

"Ngài Long Thọ truyền cho Ngài Long Trí (vị nầy đã thọ hơn 700 tuổi). Ngài Long Trí truyền pháp cho nhiều vị pháp sư và Giáo sư tại tu viện Phật giáo Nalanda.

Tu viện Nalanda là trường Đại học Phật Giáo Đại Thừa đầu tiên tại đất Ấn vào thế kỷ thứ 7. Nơi đây đã từng đào tạo các bậc Tăng tài về Mật-Pháp sẽ đi hoằng-hóa khắp nơi sau nầy.

Từ viện Đại hoc Nalanda Mật giáo được truyền qua hai ngả: Về hướng Bắc sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, và về hướng nam sang Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Mã Lai, Thái-Lan, Lào, Cao Miên, Việtnam...
Từ đó khởi nguồn cho hai trường phái chánh: Mật tông Bắc Tông và Mật tông Nam Tông.

Tại Tây tạng, vào thế kỷ thứ 8, vua TI-SONG-DE-TSEN có rước về nước một vị cao-tăng Mật Giáo người Ấn tên là PADMA-SAMBHAVA (Liên Hoa Sanh). Ông là một giáo sư danh tiếng về các khoa học thần bí ở viện Đại học Nalanda. Đến Samyé năm 747, ông lập một tu viện tại đó để dạy giáo lý Mật-Thừa của Đại-Thừa cho người Tây Tạng và thành lập phái Cổ Mật ADYOGA, còn được gọi là Hồng Mạo Phái.
Về sau, tình trạng của phái Cổ Mật qua 7 thế kỷ thịnh-phát đã bắt đầu suy đồi và tiêm nhiễm lắm sự mê-muội, mờ-ám nên có một vị sư tên là TSONG KHAMPA, nổi tiếng về tài biện-thuyết, sự trong sạch và các năng-lực thần thông đã đứng ra cải cách nền đạo cũ và sáng-lập một tông-phái mới, đó là Hoàng-Mạo Phái (MADYAMIKA). Phái nầy phát sanh phái KAHDAMPA sau nầy, tức là Giáo-hội có vị lãnh đạo là Đạt-Lai Lạt Ma.

Một tông phái Mật Giáo khác là phái Đại Thủ Ấn (MAHAMUDRA) được thành lập tại Tây Tạng vào thế kỷ 11, do một đạo sư người Tây Tạng tên là MARPA. Marpa sang Ấn độ học đạo với NAROPA, một bác-học-tăng về môn thần bí học tại viện Đại Học Nalanda. Trở về nước, ông thành lập tông phái những người áo vải (KARGYUTPA) mà danh tiếng còn được lưu truyền cho đến ngày hôm nay qua vị đệ tử MILAREPA, một đại hành giả Du Già Tây Tạng (Xem Milarepa bản dịch Đỗ Đình Hồng).
Cũng vào thế kỷ thứ 8, hai vị pháp sư Mật Pháp khác đã đến Trung-Hoa trước sau 4 năm và thành lập hai tông phái chính: Thai Tạng và Kim Cang mà các vị đệ tử đã luân phiên nhau làm Quốc sư suốt triều-đại các đời vua Đường.

Năm 716, Thiện Vô Úy (SUBHAKA RASHIMHA 637-735), từng là một vị vua của xứ ORISSA, sau xuất gia tu học tại viện Đại Học NALANDA, thâm hiểu Du Già (Yoga), chân ngôn (Dharani) và ấn quyết (MUDRA). Ông khởi hành đi Kashmir Tây Tạng và cuối cùng đến Tràng-An, kinh đô Trung Hoa. Ông được vua Huyền Tôn (685-762) tiếp đón rất nồng hậu và phong làm Quốc sư.

Năm 720, Kim Cang Trí (VAJRABODHI 663-723) đã từng tu tập tại NALANDA và sau đó học đạo với ngài Long Trí A-xà-lê ở Nam Ấn đã đáp thuyền đến Tràng An cùng với các đệ tử trong đó có ngài Bất Không. Tại đây ông được vua trọng đãi và giúp thành lập phái Kim Cang Giới.

Tại Nhật, Mật Giáo được mang về nước do các đại sư người Nhật du học tại Trung Hoa và sớm thiết lập thành 2 tông phái Thai-Mật và Đông Mật, ngự trị suốt cả thời kỳ Bình-An (HEIAN) và được học tập bởi các thành phần thượng lưu trí thức.
Truyền Giáo đại sư (767-823) đệ tử đời thứ 4 của Thiện Vô Úy đã lập thủ phủ của Thai Mật (Mật Giáo pha lẫn với giáo lý của Thiên Thai tông) tại núi Tỉ Duệ (HIEI) sừng sững ở phía Đông Nam của đô thị Tokyo, và Đông mật được thành lập bởi Hoằng Pháp đại sư, môn đệ của Tuệ Quả Hòa thượng. Hoằng Pháp là Tổ thứ 8 tại Trung Hoa và là Sơ tổ của Mật Tông tại Nhật.

Hai tông phái trên có tất cả trên mười ngàn ngôi chùa, hai trường Đại Học, hai trường Trung Học, số lượng tín đồ lên đến hàng trăm ngàn người.

Về phía Nam, Mật Giáo trước hết, đã được lưu truyền tại Tích Lan do Ngài Long Trí. Sử ghi rõ sau khi Kim Cang Trí mất, Bất Không Tam Tạng đã sang Tích Lan và gặp Ngài Long Trí, sư tổ của ông đang hoằng hóa tại đây.

Ngoài ra, Pháp sư Phổ Hiền (Samantabhadra) đã có mặt tại Tích Lan từ lâu để hoằng hóa Mật Giáo. Chính sau nầy Bất Không đã dẫn đệ tử cả thảy 37 người, sang Tích Lan để tham khảo thêm về các bộ kinh Mật với Pháp sư Phổ Hiền.
Hơn thế Ngài Kim Cang Trí đã từng đặt chân tại Nam-Dương trên bước đường hành đạo trước khi đến Trung Hoa.
Các dữ kiện cho thấy Mật phát triển về hướng Nam cũng bằng một lượng kinh điển phong phú và đồng thời điểm với Mật Tông Bắc Tông.
Các Sư Cả tại Thái-Lan, Lào, Cao Miên... phần lớn đều thông đạt về Mật Pháp do sự truyền bá Mật Giáo từ Tích Lan. Cho đến hiện đại họ vẫn được các tín đồ kiêng nể về các năng lực thần thông.
Thật ra Mật Tông Bắc Tông và Nam Tông cũng đồng sử dụng Chơn ngôn, Pháp ấn và Linh Phù trong việc tu tập thiền định và thi triển phép lạ. Nhưng qua quá trình phát triển riêng rẽ trên cả ngàn năm, hai tông này đã trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Trong khi Bắc Tông ôm chấp lấy các phần kinh hữu tự của Mật Giáo do các Sư Tổ lưu truyền và giới hạn tối đa việc trao truyền tâm ấn, Nam Tông mặt khác lại trực chỉ đi vào vấn-đề thực nghiệm huyền bí và coi nhẹ phần kinh hữu tự. Đó cũng là lý do tại sao Bắc Tông để thất truyền tâm ấn, trong khi đó Nam Tông lại khó tìm ra kinh sách để cho người đời tham khảo.

"Người lưu hành bản kinh này, do cơ-duyên may mắn đã được Cố Thượng Tọa Thích-Viên-Đức truyền trao Ấn Khế Bí Mật, Đại-giới của Mật Giáo và toàn bộ y pháp của Ngài, và sau đó hơn một năm, đã được ông Phạm Công Triêu (87 tuổi) một tu sĩ đã từng hành đạo trên 50 năm qua, trao truyền cho toàn bộ y-pháp của Mật tông Nam Tông.

Thượng Toạ Thích Viên Đức đã bắt đầu phổ truyền các bản kinh Mật Giáo từ năm 1970 mà một số các tác phẩm chính được liệt kê như sau:
Kinh Hiển Mật Viên Thông, Kinh Chuẩn Đề Hội Thích, Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương, Kinh Mật Pháp Nhất Tự Đà-La-Ni, Kinh Đại Bảo Quảng Bát Thiên Trụ Bí Mật Đà-La-Ni, Kinh Bảo Khiếp Ấn Đà-La-Ni, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng, Kinh Tùy Cầu Tức Đắc Đà-La-Ni v.v... Cộng chung lại có trên 10,000 bản kinh đã được lưu hành tại Việt-Nam.
Ông Phạm Công Triêu được lệnh phổ truyền Tâm Ấn của Nam Tông từ năm 1974, cho đến nay (1983) tông-phái đã thu hút hơn năm ngàn thanh niên và thiếu nữ, đã được thọ truyền Mật Pháp tại Việt-Nam.

Mật-Tông Phật giáo bắt đầu 1 kỷ nguyên thịnh vượng mới, kỷ nguyên phổ truyền do Thiên Cơ ấn định để chuẩn bị cho dân tộc Việt-Nam một đời sống tâm linh đạo đức và đồng thời phổ biến một thông điệp rõ ràng để xác định có một đời sống linh hồn bất diệt sau đời sống thể xác chóng tan hoại nầy, và có một quyền lực siêu-hình của các đấng Thần-Linh đang chi-phối và hướng-dẫn tâm-linh của nhân loại.

Trong thời kỳ phổ truyền, phương pháp điểm đạo truyền pháp (Tâm Ấn) được thực hiện rất đơn giản: với một ly nước lạnh được chú nguyện Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng, sẽ tức khắc đưa quí-vị mật tiếp với Thần Lực Hải của chư Phật và Nguyện Lực Hải của chư Bồ-tát để được mật tiếp truyền dạy hàng trăm đạo Ấn, các nguyên lý YOGA thiền-định, Thập bát ban võ nghệ của bộ môn Thiếu Lâm chơn truyền... Sau đó với phương pháp Tam Công:
Công phu: Niệm Phật, trì chú, tham thiền, tụng kinh v.v...
Công quả: Lập công bồi đức bằng các việc thiện...
Công trình: Sửa trao tâm tánh theo hạnh lành...
Người thọ pháp sẽ lần lượt đạt được Thần Nhãn, Xuất-Hồn, Huệ-Tâm, Huệ-Nhĩ, Huệ-Khẩu v.v... Người tu Mật Giáo chỉ cần tu tập tại nhà, song song với các công việc làm ăn để sinh sống mà không cần lên núi ba năm ba tháng ba ngày theo kiểu bí truyền khó-khăn như xưa của Mật Tông Tây-Tạng.

Đó là một hồng ân của Trời Phật trong thời Mạt Hạ nầy.
Colorado, Ngày 16 tháng 4 năm 1983
Nhóm Mật Giáo Colorado


(còn tiếp)
Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
NAM-MÔ BỔN-SƯ THÍCH-CA-MƯU-NI
LỜI DỊCH GIẢ

Kính bạch ĐỨC PHÁP-THẦN ĐẠI-SĨ CHUẨN-ĐỀ-VƯƠNG BỒ-TÁT. Bộ KINH CHUẨN-ĐỀ HỘI-THÍCH nầy của Hòa-Thượng Chùa HƯƠNG TÍCH PHÚ-YÊN hiệu Ngài là VẠN ÂN. Trong đời Ngài chuyên tu CHUẨN-ĐỀ BÍ-MẬT HẠNH. Trước khi Ngài viên tịch 3 tháng Ngài tận tay trao truyền lại cho tôi vào ngày 15 tháng 11 năm Bính-Ngọ. Ngài có dạy tôi rằng: “Tôi già yếu thầy nhận bộ KINH này, thầy hãy dịch ra Việt-văn để truyền lại cho đời sau, ai có hữu duyên tu hành. Tôi hẹn ngày nào sẽ truyền ẤN-KHẾ cho thầy.” Rồi Ngài chưa kịp truyền ẤN cho tôi thì đến ngày 8 tháng 2 năm Đinh-Mùi là Ngài thị tịch, tôi ân-hận mến tiếc. Sau này tôi đến cầu HÒA-THƯỢNG CHÙA THIỀN–SƠN PHÚ-YÊN hiệu Ngài là TỪ THẠNH truyền trao ẤN-KHẾ bí-mật cho tôi sau ngày viên-tịch của HÒA-THƯỢNG VẠN-ÂN 3 tháng. Tôi đã mãn nguyện.

Vì sao HÒA-THƯỢNG VẠN-ÂN lại trao cho tôi bộ KINH này? Vì Ngài biết tôi trì Chú CHUẨN ĐỀ. Khi tôi còn tu học tại PHẬT-HỌC VIỆN TRUNG PHẦN NHA-TRANG, tôi chuyên tu Pháp CHUẨN-ĐỀ ở trong quyển HIỂN MẬT VIÊN THÔNG mà tôi đã có, nhưng trong đó ẤN-KHẾ tôi chưa rõ, nên tôi về PHÚ-YÊN thăm Ngài và xin Ngài chỉ dạy, Ngài hoan-hỷ dạy tôi những điều mà trong HIỂN MẬT VIÊN THÔNG không thấy nói, Ngài chỉ khẩu truyền lại cho tôi, rồi tôi về y cứ vào đó tu trì, thấy nhiều phần hiệu nghiệm linh ứng.
    Nay cơ duyên đã đến:
    Kính đảnh lễ giác linh HÒA-THƯỢNG VẠN-ÂN đã truyền Pháp nầy cho con.
    Kính đảnh lễ giác linh HÒA-THƯỢNG TỪ-THẠNH đã truyền trao KHẾ-ẤN cho con.
Nay con đem hết sức cố gắng phiên-dịch bộ KINH nầy ra chữ Việt để ấn tống lưu-hành truyền-bá PHÁP CHUẨN-ĐỀ BÍ-MẬT, ngõ hầu mong những chúng-sanh hữu-duyên, tu tập được đắc thành ĐẠO quả giải-thoát và dùng phương-tiện nhiệm-mầu như KINH đã nói, để cứu-khổ độ-sanh trong đời mạt-thế.

Trong khi phiên dịch bộ KINH nầy, tôi đã nhờ Cư Sĩ NGÔ-TRỌNG-ANH giúp đỡ tra cứu các KHẾ ẤN, TƯỢNG ẢNH ở những bộ KINH MẬT-GIÁO TÂY-TẠNG qua ANH, PHÁP-VĂN. Tôi hết lòng cảm ơn Cư-Sĩ đã giúp tôi hoàn thành bộ KINH.
Sau đây tôi kính bạch quí Ngài cao minh hiền-đức khi xem thấy sự phiên dịch của con trong KINH, có chỗ nào sai lầm. Kính xin quý Ngài từ bi chỉ dạy cho con, để con sám hối và mong ngày tái bản được đầy đủ hơn.
Sàigòn ngày 12 tháng 3 năm 1973 (8-2 QUÍ SỬU)
KÍNH ĐẢNH LỄ
Tỳ-Khưu THÍCH-VIÊN ĐỨC

(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
LỜI GIỚI THIỆU
cư sĩ Ngô Trọng Anh

Phổ biến bằng sách in thành nhiều bản, các phương pháp Mật tông là một sự liều lĩnh. Vì Mật giáo là bí truyền, không thể nào đem ra truyền bá cho đám đông được. Âu cũng vì muốn lưu ý chư đọc giả những nguy hại hay bất tiện có thể xảy ra, nên dịch giả từ Hán sang Việt, Tỳ-khưu Thích Viên Đức, mới nhờ tôi viết ít hàng trước để trình bày tác phẩm sau để lưu-ý chư đọc giả những căn bản cần thiết khi thực hành phương pháp Mật tông (Mật giáo).

Mật tông là một phương pháp tu đạo Phật như những tông phái khác: tất cả đều là những phương pháp (phương tiện thiện xảo) để tự giải thoát đạt Niết Bàn. Mỗi phương pháp có một sắc thái riêng phù hợp với căn cơ tu-sĩ. Thiền tông hợp với tâm hồn thế hệ trước chú-trọng về nghệ thuật. Tịnh độ tông hợp với căn cơ của thế hệ ngày nay hướng về chữ TÍN. Pháp Tướng tông có một thời thịnh hành với những luận sư say sưa với chữ HUỆ. Mật tông cũng vậy, đã và đang được duy trì bên Tây Tạng và Thiên Trúc với những cao tăng đi vào giải thoát bằng con đường pháp thuật. Còn biết bao nhiêu môn phái khác: tám vạn bốn ngàn pháp môn cho chúng sanh tha hồ lựa chọn. Đạo Phật là một tôn-giáo đầy khoan dung từ nguyên khởi: chấp nhận sự phân biệt là tự mình đã chứng ngộ được Vô phân biệt trí. Vô phân biệt trí lại được gọi bằng những danh hiệu khác nhau, tùy theo con đường giải thoát được lựa chọn của pháp môn. Nếu ta theo con đuờng phân tích thì Vô phân biệt trí được gọi là Diệu-quán-sát trí với Ngài A Di Đà (AMITABHA- Vô lượng quang Như Lai): Đó là trí của Câu-Xá tông hay pháp tướng tông. Nếu ta đi theo con đường qui-nạp thì lại gặp pháp-giới thể tánh trí của Ngài Đại Nhật-Quang Như Lai với Hoa-Nghiêm tông hay Mật-Tông. Nếu ta đi theo con đường lau lách thì lại gặp Thiền-tông với Đại-viên-cảnh-trí của Ngài Bất Động Như Lai. Nếu ta theo con đường tình cảm thì gặp ngay Ngài Bảo-Sanh Như Lai với bình đẳng tánh trí của Tịnh-độ-tông. Đặc biệt với Tịnh-độ-tông ta vẫn còn gặp Ngài A Di Đà với danh hiệu AMITAYUS (Vô Lượng Thọ Phật), từ-bi không bờ bến.
Nếu Ngài A Di Đà là một vị Phật xuất hiện ở hai trí: phân tích để mà thương, thì Ngài Đại-Nhật-Quang cũng hiện diện ở hai nơi: qui-nạp để mà cứu, qui-nạp với pháp giới thể-tánh-trí và cứu độ với thành-sở-tác-trí. Thành-sở-tác-trí lại cũng là trí của Ngài BẤT KHÔNG THÀNH TỰU NHƯ LAI. Nếu Ngài Đại-Nhật-Quang là Phật Thiền đầu tiên thì Ngài BẤT KHÔNG THÀNH TỰU là vị Phật thiền cuối cùng. Cả hai đều là vị Phật chính của phương pháp Mật tông. Thành-sở-tác-trí là trí của pháp thuật nhiệm mầu cứu-độ chúng sanh; những tu-sĩ Mật tông là những nhân vật đã tu chứng và cứu độ chúng-sanh bằng pháp thuật (thường được gọi dưới danh hiệu pháp-sư hay Kim-Cang-sư).

Tập THẤT CU-CHI PHẬT-MẪU SỞ THUYẾT ĐÀLANI KINH nầy được lưu truyền đến tay chúng ta là nhờ ở Ngài Tam Tạng Pháp-Sư Quảng Trí Bất Không (gọi tắt: Ngài Bất Không (Amoghavajra)). Chính Ngài đã dịch từ Phạn sang Hán, tập nầy và nhiều tập khác (77 bộ, 101 quyển trong đó có những bộ: Kim-Cương-Đỉnh Nhứt-Thiết Như Lai chân thực nhiếp đại-thừa hiện chứng Đại Giáo Vương Kinh và Phát Bồ-Đề tâm luận).
Ngài Bất-Không sinh năm 705 tại Tích-Lan, thân phụ là một vị Bà-la-môn, người nam Ấn-Độ, lúc 15 tuổi Ngài theo người chú đi khắp nơi các nơi Đông-Nam-Á, gặp Ngài Kim-Cang-Trí (VAJRABODHI) ở JAVA (thuộc Nam Dương) xin làm đệ tử và cùng thầy sang Trung-Hoa tu 20 năm tại Lạc Dương. Ngài chuyên tu Mật giáo và giúp ba đời vua: Huyền-Tôn, Túc-Tôn và Đại-Tôn trong thời gian gần 30 năm. Khi Ngài mất (774) Vua Đại-Tôn bãi triều ba ngày để tưởng niệm công đức và tặng Ngài danh hiệu: Đại-Biên-Chính Quảng-Trí Bất-không Tam-Tạng Đại Hòa-Thượng.
Công đức lớn nhất của Ngài có lẽ là việc truyền bá trai đàn chẩn tế và đặc biệt năm 758 tổ chức việc cúng lễ Vu-Lan đầu tiên để cứu-độ người quá cố và đề cao chữ hiếu. Mật tông là một tông phái duy nhất, không phân biệt Đạo với đời một cách thiết thực. Những triều đại thịnh vượng nhất ở Trung-Hoa hay Việt-Nam là những triều đại có sự hợp tác chính trị của pháp sư Mật tông. Thành-sở-tác-trí không có lý thuyết, nhưng mà là thực hành: Kinh điển của Mật tông không chuyên dạy pháp-lý, nhưng lại chú trọng vào những phương pháp hay những bí-quyết để thực hiện pháp lý. Tập Đàlani Kinh nầy là một tập tài liệu quí báu để hành-trì mà thôi. Muốn hiểu thêm giáo-lý thì chúng ta phải xem những Kinh điển Phật-giáo khác. Ví dụ: Câu chuyện mở gút của Ngài A-Nan trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Phật dùng khăn Bảo-hoa có thắt sáu gút để dạy đức A-Nan rằng: sự diễn tiến của con đường gút chỉ là việc tuần tự tháo gỡ các gút nội tâm (tâm kiết) đó thôi. Những gút nầy là do chúng ta thắt lại vì bị vô-minh ám ảnh. Khi Phật lấy khăn Bảo-hoa, thắt một gút và hỏi Ngài A-Nan: “Cái gì đây? Ngài A-Nan trả lời: Bạch Phật đó là khăn Bảo-hoa mà Ngài thắt một gút”. Phật tiếp tục thắt gút thêm năm lần và mỗi lần đều hỏi và được đáp như nhau. Phật liền nói: “Khi tôi thắt gút đầu tiên thì ông bảo đó là gút, khi tôi thắt cái thứ hai ông cũng bảo đó là gút và ông trả lời có một cách!”. Ngài A-Nan không hiểu ý Phật muốn nói gì rất phân vân nên thưa rằng: Ngài thắt một gút hay cả trăm gút cũng vậy: tất cả đều là gút dầu cho khăn Bảo-hoa có nhiều mầu sắc và được dệt nguyên thành một giãi”.
Phật biết A-Nan chưa hiểu nên giảng rằng: dầu cho khăn chỉ có một và tất cả các gút đều là gút nhưng có một sự khác biệt, đó là thứ lớp thắt gút hay trật tự của các gút”.
Đồng thời Phật yêu cầu Ngài A-Nan tháo giúp vì Phật lôi kéo tứ phía mà các gút lại càng siết chặt thêm thay vì nới ra. Ngài A-Nan liền nói: “Tôi cần phải xem các gút thắt như thế nào cái đã”. Phật dạy: “Đúng vậy, ông phải biết việc đó trước. Vì ai mà biết được duyên khởi của mọi sự sẽ hủy diệt được chúng. Nhưng ta hỏi thêm một câu: Vậy ông có thể tháo tất cả các gút cùng một lần không?”. Ngài A-Nan trả lời: Bẩm không. Vì các gút được thắt theo thứ tự, ta chỉ có thể tháo theo thứ tự lớp lớp ngược lại”.
Phật liền cho biết rằng sáu gút ấy là sáu căn. Nếu không lo giải thoát những căn ấy trước mà lo giải những căn cao siêu hơn là làm sai thứ lớp. Thay vì tháo nghiệp chúng ta lại tự trói thêm vào: Ngày nay biết bao nhiêu tư tưởng gia siêu phàm đã tự tử vì ham suy-tư lý luận nhiều mà quên không lo tháo lục căn của mình trước tiên. Biết bao nhiêu nhà đại cách mạng xã hội lo xa cho hàng trăm triệu người, nhưng lại quên cách mạng bản thân, do đó còn lục căn thành thử thanh toán giết nhau vì những đố-kỵ nhỏ nhen bằng hạt cát. Mật tông xuất hiện cốt để giúp chúng ta tháo gỡ các gút ấy một cách thực tế bằng phương pháp thực tiễn. Phải tháo chúng trước khi bàn chuyện đại sự cứu nhân độ thế. Phải giải thoát mình trước khi lo giải thoát người, vì đạo Phật không phải triết lý đạo đức suông. Luân lý học đường thường hay đề cao những kẻ hy-sinh vì nghĩa vụ mà quên rằng sự hy-sinh của tiểu nhân thường đem lại tai họa, vì chưa biết bơi mà nhảy xuống nước cứu người là chết cả cặp. Đạo Phật chủ trương sáng suốt trước, thiện chí sau. Phải tháo gỡ vô-minh để đạt viên-thông sáng suốt trước khi sử dụng pháp-thuật cứu người với đầy thiện chí. Phải đạt pháp-giới thể tánh trí trước khi sử dụng Thành-sở-tác-trí. Phải có Đại Nhật Quang trước khi muốn Bất Không Thành Tựu. Và Bất Không tất nhiên phải đến sau khi đạt được chữ chơn-không để khỏi thành chấp hữu. Bất-Không là diệu hữu, là Pháp thuật nhiệm mầu.
Vì chúng sanh căn cơ kém, cho nên Mật-Tông không thể bành trướng mau lẹ. Tu Mật-giáo phải là giai đoạn chót của tu hiển giáo. Chính những pháp sư phải lựa chọn lấy đệ tử để bí truyền ấn quyết. Trong quyển “căn bản Mật-Tông Tây Tạng” ông Lama GOVINDA viết: vào tay người ích-kỷ thì thuốc trường sanh sẽ biến thành thuốc độc, cũng như vào miệng người ngu thì lời Thánh-Hiền sẽ biến thành lời bịp bợm, vào bụng dạ hẹp hòi thì Đạo Đức sẽ biến thành giáo điều mê tín (les fondements de la Mystique tibétaine –trang 86). Biết căn cơ mình không thích hợp thì nên lựa chọn pháp môn khác với Mật-Tông đó là hành động của những bậc thức thời, đó là hành động của năm ngàn vị đứng dậy lễ Phật mà lui về trong Kinh Pháp Hoa (Phẩm phương tiện, mục 14) khi Phật sắp nói những việc không thể nói; và Phật bảo với Ngài Xá-Lợi Phất rằng những tăng thượng mạng như vậy “lui về cũng tốt”, ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói.

Sở dĩ tập Chuẩn-Đề Đà La Ni Kinh nầy được tỳ khưu Thích Viên Đức dịch in thành sách là cốt để thể hiện ý muốn của pháp sư Vạn-Ân và Từ-Thạnh trước khi viên tịch. Chúng tôi mong rằng chư đọc giả xem đây như một hạt châu trong áo gã say trong Kinh Pháp Hoa (phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký) và Y sẽ rút ra một ngày nào thức tỉnh.
Sài-gòn ngày 10-3-1973
Cư sĩ Ngô Trọng Anh

(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Tịnh thất chùa Thiền-Tịnh Quận 9 Saigon
(ngày 8-7-1972 dl. 28-5 Nhâm-Tý âm lịch)
THẤT CU-CHI PHẬT MẪU SỞ THUYẾT ĐÀ-LA-NI KINH
HỘI-THÍCH

(QUYỂN THƯỢNG-Quyển I)

Ðời Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Thanh Việt Ðông, Ðảnh Hổ Sơn, Ngài Sa-môn Hoằng Tán phát Bồ-đề tâm hội thích (gồm thâu các bộ mà giải thích).
Tỳ-kheo Thích Viên Ðức dịch Hán ra Việt.

Một đời thuyết pháp của đức Như Lai, giáo lý của Ngài chia ra làm ba tạng: Gọi Tu-đa-la (Sutra), Tỳ-nại-gia (vinaya), Tô-đạt-lãm (Sastra); tức là Kinh, Luật, Luận. Tạng giáo tuy phân ra làm ba, nhưng không ngoài hai môn: Hiển giáo và Mật giáo.
Hiển giáo nói rộng tánh tướng để hiểu ngộ lý mầu tu chứng Pháp thân.
Mật giáo chỉ khiến tụng trì được thầm lên Thánh vị và vượt ra ngoài sự hiểu biết.

Tuy nhiên ngộ có đốn, có tiệm. Ðịa vị có cạn có sâu. Tiệm phải trải qua các tầng bậc a-tăng-kỳ kiếp. Ðốn tức liền vượt lên hàng Thập Ðịa. Cạn thì có các hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Sâu tức hiện chứng Phật quả Ðại Thừa.

Chuẩn-đề Ðà-la-ni này tức là kinh tạng Mật giáo, thầm chứng thập thân của Phật quả Ðại Thừa. Ngoài tam tạng ra còn lập một tạp tạng gồm thâu các bộ Ðà-la-ni. Hoặc ngoài tam thừa riêng một Tối Thượng Kim Cang thừa, tức là Ðà-la-ni tạng. Nếu căn cứ Thần Biến Sớ thì chia Ðà-la-ni làm Ðại Bất Tư Nghì Thành Phật Thần Thông Thừa. Cho nên kinh này lấy Ðại Bí Mật làm Tông, pháp giới Chân như làm Thể, Bất tư nghì làm Dụng, Tam Mật môn tối thượng thừa làm Giáo tướng, bởi vì tất cả pháp đều từ trong thừa Kim Cang Ðà-la-ni mà phát sinh ra, như ngàn dòng muôn phái phát nguồn từ núi Tích Thạch Côn Lôn. Mười hai phần giáo trong Tam tạng cũng phát xuất từ Tạng Tổng Trì Bí Mật, cho đến Lục độ Vạn hạnh cũng đều từ Ðà-la-ni mà ra. Kinh có chỗ giải rằng: Chân ngôn mỗi một chữ toàn là vô tướng pháp giới, thế thì Lục độ Vạn hạnh đâu không từ trong pháp giới ấy lưu xuất ra ư? Cho nên nói rằng chữ ÚM (Án) nghĩa là ba thân cũng có nghĩa tất cả các pháp vốn không sanh, do tất cả pháp vốn không sanh ấy nên tức được bất sanh diệt, do bất sanh diệt nên tức được tướng vô sở đắc. Tướng vô sở đắc tức là Vô tướng Pháp giới; chính là chứng Pháp giới Chân như đó vậy!

Bạch Tán Cái tụng rằng: “Tụng mãn một vạn tám ngàn biến, mỗi biến nhập vào vô tướng định gọi thành tràng kiên cố Kim Cang, tự tại được Phật trong loài người.
Lại nữa Ngũ Bí Mật Tu Hành Nghi Quỹ nói rằng: “Kim Cang Tát Ðỏa là Phổ Hiền Bồ-tát, tức là tất cả trưởng tử của Như Lai, là tâm Bồ đề của chư Phật.”

Như kinh đã nói: Kim Cang Tát Ðỏa Tam ma địa, gọi là pháp của chư Phật. Pháp này hay thành đạo của chư Phật. Pháp này hay thành đạo của các chư Phật, nếu lìa pháp này không có pháp riêng để thành Phật, Kim Cang ấy tên là Bát-nhã Ba-la-mật, hay thông đạt tất cả Phật, không ngăn, không ngại cũng như Kim Cang xuất sanh chư Phật.

Nếu người đối với Hiển giáo tu hành, phải trải qua thời gian lâu ba đại vô số kiếp, nhiên hậu mới chứng thành Vô thượng Bồ đề, trong thời gian đó mười tiến mà chín lui. Hoặc chứng Thất Trụ mà vì đã tu tập phước đức trí huệ hồi hướng Thanh văn, Duyên giác đạo quả nên không thể chứng Vô thượng Bồ-đề. Còn y Tỳ-lô-giá-na Phật tự thọ dụng thân đã nói bên trong chứng được tự giác Thánh Trí pháp và địa vị thọ dụng thân trí Ðại Phổ Hiền Kim Cang Tát Ðỏa. Cho đến ứng thời tu tập pháp thân, trong một đại a-tăng-kỳ kiếp tu tập phước đức trí tuệ mới sanh vào được nhà của Phật. Người đó từ tất cả Như Lai tâm sanh, từ miệng Phật sanh, từ pháp Phật sanh, từ Pháp hóa sanh, đắc Phật Pháp tài. Từ đây về sau thọ được pháp rộng lớn thâm sâu không thể nghĩ bàn, vượt lên hàng Nhị thừa Thập Ðịa. Vậy cho nên biết yếu chỉ của Chân ngôn bí Mật Thần chú còn chẳng phải chỗ hiểu biết của nhơn vị Bồ-tát, huống nữa kẻ quê mùa phàm phu tiểu trí đâu có thể so sánh thấu rõ trí ư?

Các nhà dịch và các sớ giải tóm tắt, là để nương nhau chỉ rõ cho kẻ sơ học trì tụng có chỗ nương tâm chứ chẳng dám nói giải thích.
Như Thần Biến Sớ nói rằng: Chỉ có tay Kim Cang mới rờ thấu chỗ kín đáo, chỉ có mắt Liên Hoa mới nhìn thông chỗ u minh. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: Pháp Bí Mật của chư Phật, duy chỉ Phật với Phật mới hiểu rõ nhau, chẳng phải các bậc Thánh có thể thông đạt. Chỉ trì tụng hay diệt được lỗi lớn, mau lên Thánh vị.

Thiên Trúc Chỉ Quán nói: Bậc Thượng Thánh mới có thể Hiển Mật cả hai đều truyền nói, kẻ phàm nhơn chỉ tay tuyên truyền Hiển giáo, không thể tuyên truyền về Mật giáo. Vậy cho nên chẳng phải kẻ hạ phàm dám bàn nghĩ chỗ khả tri của sư tâm.

Nay xét Chuẩn-đề Chân ngôn này trước sau vài nhà dịch so ra thì Ngài Bất Không Tam Tạng được thâm đắc sự thừa truyền của Mật giáo, bởi xưa kia Ngài Kim Cang Tát Ðỏa gần gũi bên đức Tỳ-lô-giá-na Mâu Ni Như Lai trước đã lãnh thọ nghĩa Du Dà Tối Thượng Thừa. Sau hơn trăm năm truyền đến Ngài Long Thọ Bồ-tát, Long Thọ lại hơn trăm năm truyền đến Long Trí A-xà-lê, Long Trí truyền đến Ngài Kim Cang Trí Pháp sư. Ngài Kim Cang Trí truyền qua Trung Hoa đem ngũ bộ Du Già và Tỳ-lô-giá-na Kinh, Tô Tất Quỹ Phạm, trao cho Ngài Bất Không Tam tạng và sau khi Ngài Long Trí diệt độ, Ngài Tam Tạng Bất Không phụng lời di giáo dạo qua các nước Thiên Trúc, tại nơi Sư Tử Quốc, từ đó sự truyền bá tu học càng tăng thêm rộng lớn. Từ Ngài Long Trí A-xà-lê cầu khai mười tám hội Kim Cang quán đảnh và pháp Ðại bi Thai Tạng. Pháp hóa nối nhau từ đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, đến Ngài Bất Không Tam tạng đã trải qua sáu đời truyền cũng như sáu phen phiên dịch. Ngài Bất Không đi khắp xứ Thiên Trúc, lại được thâm truyền yếu chỉ nên bổn dịch Chân ngôn Nghi Quỹ của Ngài rất rõ ràng đầy đủ.

Nay sợ kẻ sơ học chưa rõ ấn khế và Phạn âm, do đây nên đối với trong các bản dịch phần nhiều lấy bản dịch của Ngài Kim Cang Trí mà hội rõ, nương đó các Ngài nối nhau truyền thọ không thôi nghỉ.
(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
PHẦN KINH VĂN

Như thị ngã văn: Tôi nghe như vầy:
Giải thích: Như nghĩa là Như Lai, nói lý thật tướng của pháp Chuẩn-đề Ðà-la-ni, cho nên nói như vậy (như thị). Tôn giả A-nan theo gần bên Phật nghe pháp như vậy, cho nên nói là tôi nghe (ngã văn).
Nhứt thời: Một khi
Giải: Ðây là thời gian nói kinh này vậy.
Bạt Già Phạm:
Giải: Ðây là tên các đức của Như Lai, còn xưng đủ sáu nghĩa: 1- Tự tại, 2- Rực rỡ, 3- Ðoan nghiêm, 4- Danh xứng, 5- Cát tường (Tốt đẹp), 6- Tôn quý. Rộng như các kinh đã giải thích.
Tại danh xưng Ðại Thành:
Giải: Tiếng Phạn nói Xá-vệ.
Thệ Ða Lâm:
Giải: Tên cũ thì nói rằng: Kỳ Thọ là vườn cây của ông Kỳ Ðà thái tử cúng thí vậy.
Cấp Cô Ðộc Viên: Vườn ông Cấp Cô Ðộc.
Giải: Cấp Cô Ðộc là Tu Ðạt Trưởng giả, riêng gọi vườn đó là Trưởng giả đã rải vàng khắp đất mua, hai người cùng chung cúng thí nên hiệp lại mà xưng.
Cùng đại Tỳ-kheo chúng, các chư Bồ-tát và chư Thiên, Long, Bát bộ trước sau đoanh vây chung quanh.
Giải: Ðây là thính chúng nghe pháp.
Nghĩ thương chúng sanh đời vị lai bạc phước ác nghiệp, liền nhập Chuẩn-đề Tam ma địa, nói quá khứ Thất-câu-chi Phật đã nói Ðà-la-ni rằng.
Giải: Nghĩ thướng nghĩa là đức Như Lai lân mẫn thương xót chúng sanh đời mạt pháp. Phạn ngữ Tam ma địa, Trung Hoa dịch là Ðẳng trì, nghĩa là giữ gìn Ðịnh Huệ bình đẳng. Câu-chi: Trung Hoa dịch là trăm ức. Ðà-la-ni: Trung Hoa dịch là Tổng Trì nghĩa là tổng trì tất cả các pháp môn, hàm nhiếp vô tận Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Lại trì giữ các thiện không mất, trì giữ không cho ác sanh; cũng dịch là giá trị là ngàn cái ác nhị biên, giữ gìn các thiện trung đạo. Biệt danh là Thần chú, nguyên không thể phiên dịch chính xác, bởi hàm có nhiều nghĩa, nên không thể dùng văn tự lời nói mà có thể giải thích rốt ráo. Chính đó là Tỳ-lô-giá-na Như Lai, là Tâm ấn bí Mật đại bất tư nghì của chư Phật vậy.
1- Nẵng mồ táp đa (dẫn) nẫm. 2- Tam miệu tam một đà (dẫn) cu (dẫn) chi nẫm (dẫn) 3- Ðát nễ dã (nhị hiệp) tha (dẫn). 4- Úm (án). 5- Giả lễ. 6- Chủ lễ. 7- Chuẩn nê. 8- Ta phạ (nhị hiệp) hạ (dẫn).
Giải: Phàm tụng Chân ngôn chữ Úm (Án) phải kéo dài ra, câu cần phải rõ ràng phân minh, tiếng giọng không chậm không mau, sau đây sẽ giải thích rõ.
Chân ngôn này có tám câu: Ba câu trên là lời quy y chư Phật đã nói, năm câu dưới mới chính là Thể của Thần chú.
Trên đây nói chữ (dẫn) nghĩa là kéo dài ra, còn tiếng (nhị hiệp) là hai chữ hợp lại thành một âm. Ngài Kim Cang Trí dịch thành Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn-đề Ta Phạ Ha. Chữ Ða chữ Nẫm trên là đều đưa giọng tiếng nương miệng. Chữ Lệ là khứ thinh. Ngài Ðịa Bà Ha La dịch thành Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn-đề Ta Bà Ha. Ngài Xà Na Cấp Ða dịch thành: Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn-đề Tóa Ha. Ngài Thiên Tức Tai dịch thành: Nẵng Mồ Táp Bát Ða Nẫm, Tam Miệu Ngật Tam Một Ðà Câu Trí Nẫm, Ðã Nễ Dã Tha. Úm (án) Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ Ta Phạ Hạ. Chữ Mồ là nhập thinh, chữ Bát Ða là nhị hiệp, chữ Tha là khứ thinh, chữ Úm (án) và hai chữ Lệ đều là dẫn thinh, chữ Tôn là thượng thinh, chữ Nễ là dẫn thinh, còn các chữ khác đều đồng như trên. Ngài Pháp Hiền dịch cũng đại đồng như thế, chỉ có Ngài Thiên Tức Tai câu đầu thì đồng, câu sau hai chữ lại nhị hiệp, chữ Tổ chữ Tôn hơi liền trong miệng. Sở dĩ các Ngài dịch không đồng, đều do Phạn âm chuyển có nặng nhẹ, cho nên chữ cũng bất nhứt. Song đã Phạn âm tức lấy âm của chữ chứ không lấy nghĩa của chữ. Nếu người rành giỏi Phạn âm, tụng những bản dịch của các Ngài trên đều không có khác nhau. Hãy nên lấy một bản dịch mà tụng, chỉ cần nơi Phạn âm không lầm là được. Phàm là chữ đưa nương bên miệng ấy, là cần phải cái lưỡi chun lại rồi dui ra, tức được cái âm thinh kia vậy.
Nẵng Mồ hoặc là Noa Ma, hoặc là Nạp Mồ hoặc là Nam Mô, Trung Hoa dịch là Quy Mạng cũng nói là Quy Y Ðát Nễ Giả Tha: Trung Hoa dịch Sở Vị: nghĩa là cũng nói Tức thuyết: (Liền nói). Ta Phạ Hạ dịch nghĩa là: Thành Tựu cũng nói rằng: Cát Tường, Viên Tịch, Tiêu Tai, Tăng Ích, cũng nói là nghĩa Vô Trụ, tức là Vô Trụ Niết-bàn Tận Vị Lai Tế Lợi Ích Hữu Tình Vô Tận Kỳ Hạn vậy.

Nếu có người tu hạnh Chân ngôn, xuất gia hay tại gia Bồ-tát. Tụng trì Ðà-la-ni này mãn chín mươi vạn biến, những tội ác đã tạo trong vô lượng kiếp như: thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, ngũ vô gián thảy đều tiêu diệt. Sanh chỗ nào thường gặp chư Phật, Bồ-tát, giàu có nhiều của báu, thường được xuất gia.
Giải: Thập ác nghĩa là: giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, tham, giận, tà kiến. Tứ trọng phái bốn cấm giới: Sát, trộm, dối, dâm. Ngũ nghịch: 1- Giết cha, 2- Giết mẹ, 3- Làm thân Phật chảy máu, 4- Giết A-la-hán, 5- Phá sự hòa hợp của chúng Tăng. Nếu tạo một nghịch tội tức đọa A-tỳ địa ngục thọ khổ một kiếp, đủ năm tội nghịch thì gọi là ngũ vô gián tội. Phạn ngữ A-tỳ, Trung Hoa dịch là Vô Gián, nghĩa là đọa trong địa ngục này một đại kiếp thọ khổ không xen hở một chút gảy móng tay.

Nếu có tại gia Bồ-tát tu trì giới hạnh kiên cố không lui, tụng Ðà-la-ni này thường sanh cõi trời, hoặc trong cõi người, thường làm bậc quốc vương, không đọa ác thú gần gũi hiền Thánh, chư Thiên kính ái ủng hộ gia trì, nếu có việc kinh doanh trong đời, không bị các tai hoạch. Nghi dung đoan chánh, lời nói nghiêm oai, tâm không phiền não. Nếu tại gia Bồ-tát, đầy đủ các cấm giới, ba thời niệm tụng y giáo tu hành. Hiện đời sở cầu xuất thế gian tất địa, định huệ hiện tiền, chứng địa vị Ba-la-mật viên mãn, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
Giải: Tại gia Bồ-tát tuân giữ năm giới, mười điều thiện và đại giới của Bồ-tát cho nên nói rằng: Tu hành giới hạnh. Xuất gia Bồ-tát giữ gìn đầy đủ giới Sa-di, giới Tỳ-kheo, và giới Bồ-tát cho nên nói rằng: Ðủ các cấm giới. Xuất thế gian Tất Ðịa, tức là Ðịnh Huệ hiện tiền, cho đến chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Tất Ðịa: Ðây nói là thành ý, nghĩa là thành tựu đại nguyện sở cầu thế, xuất thế gian. Do hàm nhiều nghĩa nên không phiên dịch chính xác. Nói chứng Ðịa ấy, Ðà-la-ni giải thích rằng: Trong Du Dà từ phàm đến Thánh, tổng là bốn ngôi vị:
1 - Thắng Giải Hạnh Ðịa, thường gọi là Hiện Tiền Ðịa.
2 – Phổ Hiền Hạnh Nguyện Ðịa, thông thường gọi là Thập Ðịa.
3 - Ðại Phổ Hiền Ðịa tức là Ðẳng Giác Ðịa.
4 - Phổ Chiếu Diệu Ðịa tức thành Chánh Giác Ðịa, cũng nói rằng: Thành Tỳ-lô-giá-na Tam Thân Phổ Quang Ðịa.
Ba-la-mật: Có sáu món Ba-la-mật và mười món Ba-la-mật. Kinh Ðại Thừa Bảo Vương Ðẳng nói: Người hành giả trì tụng Chân ngôn, hằng ngày được đầy đủ sáu món Ba-la-mật viên mãn công đức, cho nên trong các kinh Ðà-la-ni nói: Hành giả tu Chân ngôn hiện đời hay thành Vô thượng Bồ-đề. Ngũ tự Ðà-la-ni tụng rằng:
Chư Phật sức bổn thệ,
Hiện thành các việc Thánh.
Tức nơi trong một tòa,
Liền thành Tối Chánh Giác.
Nếu tụng mãn một vạn biến (Ngài Kim Cang Trí dịch mười vạn biến) tức nơi trong mộng thấy Phật, Bồ-tát, liền thổ ra vật đen (vật đen tiêu biểu cho ác nghiệp, mửa ra là tướng tội diệt phước sanh nên tự thấy trong miệng mửa ra vật đen, hoặc cơm đen.)
Người kia nếu tội rất nặng, tụng hai vạn biến (Các bản dịch khác nói hai mươi vạn biến) cũng thấy tự trong miệng mửa ra cơm đen.
Tức trong mộng thấy chư Thiên, đường, tự xá; hoặc lên núi cao hoặc thấy trên cây cao (không bị hệ lụy về tội nghiệp, nên nhẹ bước đi lên, thành tựu thiên nhơn, nên thấy thiên, đường, tự xá)
Hoặc nơi trong ao lớn tắm rửa (rửa trừ tội cấu được thanh tịnh)
Hoặc thấy bay bổng trên hư không (không bị tội nghiệp ràng buộc, nên thân khinh cử nhẹ nhàng)
Hoặc thấy cùng các thiên nữ an vui khoái lạc (nghĩa là do sức thiện căn giữ gìn tương ưng, nên thấy cùng vui khoái lạc)
Hoặc thấy thuyết pháp (được thị giáo lợi hỷ): dạy dỗ lợi ích vui mừng.
Hoặc thấy nhổ tóc cạo tóc (nhổ tóc là phép của Tây quốc ngoại đạo, nhổ tóc cạo tóc đều là tiêu biểu đoạn trừ căn gốc phiền não. Ngài Kim Cang Trí dịch: Hoặc thấy nhổ tóc hay tự mình cạo tóc)
Hoặc ăn sữa cơm, uống bạch cam lồ (ăn sữa cơm là thành tựu thế gian phước thiện, uống cam lồ là được pháp vị xuất thế).
Hoặc vượt qua sông lớn, biển lớn (được vượt qua biển khổ).
Hoặc thăng lên tòa Sư Tử (Ðắc được tòa Pháp Vương).
Hoặc thấy cây Bồ-đề (là kiến đạo tướng).
Hoặc thừa thuyền (là thừa nương thuyền Bát Nhã, được tướng lên bờ giải thoát. Kinh Tôn Tất Ðịa nói: Hoặc thấy sư tử, voi, trâu, nai, ngỗng v.v… đều là tướng Tất Ðịa thành tựu).
Hoặc thấy Sa-môn (Ðược xa lìa nhiễm ô ở đời mà ra khỏi tam giới)
Hoặc thấy cư sĩ lấy áo trắng, áo vàng che đầu (Vàng là tiêu biểu cho chánh, trắng là tiêu biểu cho tịnh, lấy bạch tịnh Chánh pháp mà phú hộ. Ngài Kim Cang Trí dịch: Lấy y che phủ nơi đầu)
Hoặc thấy mặt trời, mặt trăng (Tiêu biểu phá vô minh phiền não tối tăm)
Hoặc thấy kẻ đồng nam, đồng nữ (Không bị tham dục phiền não nhiễm ô)
Hoặc trên cây có trái nhũ quả (Nhũ nghĩa là trắng, trắng đó là thiện nghiệp, nghĩa là được xuất thế, xuất thế gian thiện nghiệp quả báo)
Hoặc thấy người hắc tượng phu trong miệng phun ra lửa hừng hẫy, cùng đấu chiến với họ mà được thắng (Nghĩa là cùng với sân phiền não ma, cộng chiến cộng thắng)
Hoặc thấy trâu nước, ngựa dữ, đến chạm húc người trì tụng, hoặc đánh, hoặc nạt sợ mà bỏ chạy (Nghĩa là si phiền não ma, mình được thắng)
Hoặc ăn sữa tươi, cháo, sữa chín, cơm (Nghĩa là được thượng vị phước thiện thành tựu.)
Hoặc thấy Tô ma na hoa (Trung Hoa nói: Xứng ý hoa, sắc vàng trắng rất thơm, cây cao độ ba bốn thước che rủ xuống như lọng tàn, tiêu biểu chỗ mong cầu thiện pháp quyết chắc được xứng ý. Ngài Kim Cang Trí dịch rằng: Hoặc thấy mùi thơm hoa trắng, mùi hương thơm là tiêu biểu cho hương của Ngũ phần Pháp thân, nghĩa là được Ngũ phần thiện nghiệp).
Hoặc thấy bậc quốc vương (Ðược Ðại nhơn hộ niệm, được nghiệp tôn quý thù thắng).
(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Nếu không thấy những cảnh giới như vậy đó, phải biết người này đời trước đã tạo tội ngũ nghịch vô gián, nên trở lại tụng mãn bảy mươi vạn biến, liền thấy cảnh giới như trên, tức biết tội diệt thành tiên hạnh.
GIẢI: Ðây là khiến tụng bảy mươi vạn biến, trên nói một vạn, hai vạn sợ nghi lầm, nên như các Ngài dịch rằng: Mười vạn, hai mươi vạn, sẽ được mộng thấy những cảnh giới như trên, đó đều là cái tướng chứng nghiệm thành tựu của người hành giả. Kinh Tô Tất Ðịa nói: Ở trong mộng kia thấy người chủ Chân ngôn xoay mặt mà đi, hoặc không cùng nói chuyện, nên phải lại cần khởi thủ công phu niệm tụng, như vậy trải qua ba phen. Nếu trong mộng thấy chủ Chân ngôn cùng nói chuyện, phải biết người này không lâu sẽ thành tựu. Nếu không có cảnh giới, không nên tụng trì, nếu cưỡng niệm trì, sợ cùng người bị tai vạ (Vì người này không có căn cơ với pháp này, nên chọn pháp khác mà tu trì, ý riêng của dịch giả) khi mới bắt đầu tụng trì, nên ở chỗ tịnh thất kín đáo mà hạ thủ công phu.
1-Nhiên hậu y pháp họa vẽ bổn tượng (Chuẩn Ðê bổn tôn tượng) hoặc ba thời, hoặc bốn thời, hoặc sáu thời, y pháp cúng dường cầu thế gian, xuất thế gian Tất địa, cho đến Vô thượng Bồ-đề, tất cả đều được, nếu có tu trì Ðà-la-ni này, phải biết vị lai thành tựu, xứ sở có nạn hay không nạn, tất địa chậm mau nên ở nơi tịnh thất, lấy Cù ma di thoa đắp một tiểu đàn, tùy sức cúng dường. Lấy kiết giới Chân ngôn, kiết mười phương giới. (Bốn phương, bốn phương bàn, trên dưới). Lấy một bình nước hương thơm để tại trong đàn, nhứt tâm niệm tụng bình kia động chuyển, nên biết chỗ đã làm, việc sở cầu thành tựu, nếu không động chuyển việc kia không thành.
GIẢI: Kiết giới Chân ngôn, kiết dưới đất làm giới hạn, tường vách làm giới hạn v.v… Trích ra trong Kim Cang Trí dịch rằng: Nếu nơi trước tượng Phật, hoặc trước tháp, chỗ thanh tịnh, lấy Cù Ma Di (phân trâu sạch) trộn với đất đắp làm cái đàn vuông bốn thước, lại lấy hương hoa, tràng phan, bảo cái, đồ ăn, đồ uống, đèn, nến, tùy sức mà bày biện trang nghiêm, y pháp cúng dường. Nếu muốn cầu nguyện, trước cần niệm tụng Thần chú gia trì trong nước hương thơm mà tán rải bốn phương, trên, dưới, mà kiết giới. Ðã kiết giới rồi, nơi đàn tứ giác mà chính giữa trung ương để một bình nước hương thơm. Người hành giả mặt hướng về Ðông phương, quì gối tụng 1080 biến, bình kia tức liền tự chuyển động, tùy ý Ðông Tây nhậm vận trên dưới. Ngài Ha La dịch rằng: Niệm chú trong nước hương thơm tán rải tám phương, trên, dưới, để làm kiết giới, nơi đàn tứ giác chính giữa trung ương, để một bình nước hương thơm, người trì chú ở trong đàn kia, mặt hướng Ðông phương, quỳ gối chú 1080 biến. Nói là gia trì hương thơm ấy, là phải tụng Căn bản Chân ngôn (Chú Chuẩn-đề) 21 biến sái vẩy nước khắp mười phương.
2-Lại phép nữa: Dùng một cái bát sành mới, thoa đắp hương thơm để nơi trong đàn, chuyên tâm niệm tụng, nếu cái bát kia chuyển động, việc tức thành tựu, nếu không chuyển động việc tức không thành.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch rằng: Lấy một bình bát mới đem đốt hương thơm xông khắp trong ngoài, đựng bột hương thơm đầy bát, nước hương thơm và hoa thơm tốt, để trong đàn y như phép để bình trước mà làm, niệm tụng bát kia liền chuyển, cùng như bình không khác. Nếu muốn được biết tất cả việc thành tựu hay không thành tựu, tức thắp hương tác bạch rõ ràng trước Thánh tượng Chuẩn-đề, những bổn nguyện bí quyết nghi tâm của mình. Nếu chuyển bên hữu tức thành tựu, còn tả chuyển thì không thành tựu.

3-Lại phép nữa: Muốn biết việc vị lai, trước thoa đắp một đàn nhỏ, khiến một đồng tử có đủ tướng phước đức, tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục mới thanh tịnh, dùng Thất-câu-chi Chân ngôn gia trì, hương thơm thoa vào tay đồng tử, lại gia trì nơi cành hoa 7 biến, để trong tay đồng tử, khiến đồng tử che mặt đứng nơi trong đàn, lại lấy một cành hoa khác tụng Chân ngôn gia trì một biến đánh lưng tay đồng tử việc lành dữ, đồng tử đều nói.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Khiến lấy một cành hoa đẹp, niệm tụng 108 biến, lấy bột hương thoa, đồng tử tay cầm hoa che mặt, lại tự tay lấy một cành hoa riêng niệm tụng đánh nơi thân đồng tử.
4-Lại phép nữa: Lấy một kính soi sáng để trong đàn, trước tụng Chân ngôn gia trì cành hoa 108 biến, vậy sau lại tụng Chân ngôn một biến đánh vào mặt gương một cái, nơi trên mặt gương liền có văn tự hiện nói việc thiện ác.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Hoặc sứ giả liền hiện thân trong gương, sứ giả ấy là sứ giả của Phật Mẫu Chuẩn-đề.
5-Lại phép nữa: Muốn biết việc lành hay không lành, thành tựu hay không thành tựu. Lấy dầu thơm Tô ma na hoa, tụng Chân ngôn gia trì 108 biến, thoa mặt ngón tay cái bên hữu, tụng Chân ngôn âm thinh không đoạn dứt, khiến đồng tử xem trên mặt ngón tay, hiện hình tượng chư Phật, Bồ-tát, hoặc hiện văn tự nói đủ thiện ác.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Hoặc lấy châu sa, hoặc lấy Tô ma na hoa tẩm trong dầu mè thoa nơi ngón tay cái, niệm tụng 108 biến, tức hiện Thiên thần và hình tượng Tăng, Bồ-tát, Phật v.v… nếu tâm có chỗ nghi ngờ việc trong ba đời, mỗi mỗi hỏi đều biết, tức trên ngón tay cái tự hiện.
6-Lại phép nữa: Nếu có người bị quỷ mị làm bịnh, lấy nhánh dương liễu hoặc nắm cỏ tranh, tụng Chân ngôn đập phủi trên thân người bịnh, tức được trừ lành.
GIẢI: Ngài Ha La dịch rằng: Dùng Thần chú, chú vào trong cỏ tranh, phủi nơi người bịnh, nếu được cỏ tranh thơm là đệ nhứt, không gặp cỏ tranh thơm cũng được. Ngài Kim Cang Trí dịch rằng: Lấy nhánh thạch lựu hay các loại cỏ tranh trắng thơm niệm tụng Thần chú đập phủi đó.
7-Lại phép nữa: Nếu người mắc trọng bịnh tụng Chân ngôn 108 biến xưng tên người bịnh, lấy sữa bò tươi hộ ma tức lành bịnh.
GIẢI: Nghĩa là lấy các loại cỏ tranh thơm, trộn sữa tụng Chân ngôn chú vào làm phép, bỏ vào trong lư lửa đốt gọi là Hộ Ma. Ngài Kim Cang Trí dịch rằng: Lấy cỏ tranh để trong sữa bơ niệm tụng 7 biến Thần chú bỏ vào trong lửa thiêu đốt, khiến cho bay khói xông lên người bịnh, tức người bịnh được lành. Nói Tô ấy là bơ, nghĩa là lấy sữa bò nấu luyện thành lạc tức sữa chín, lấy lạc sữa chín nấu luyện thành sanh tô tức bơ, lấy sanh tô nấu luyện thành thục tô tức tô ma, lấy thục tô nấu luyện thành đề hồ.

8-Lại phép nữa: Nếu có trẻ hài nhi khóc dạ đề (khóc ban đêm) khiến đứa gái nhỏ bên mặt xe chỉ, tụng Chân ngôn gia trì gút 21 gút, đeo nơi cổ trẻ hài nhi tức không khóc dạ đề nữa.
GIẢI: Các bộ khác dịch rằng: Khiến đứa gái nhỏ xe chỉ ngũ sắc, tụng một Thần chú lại một gút, mãn 21 gút, cho bệnh nhơn, trẻ nam hay nữ v.v… đeo nơi cổ, các ác ma quỷ mị bệnh tức được trừ khỏi.
9-Lại phép nữa: Trước gia trì nơi bạch giới tử (hạt cải trắng) 108 biến, nhiên hậu lấy giới tử tụng Chân ngôn một biến ném vào người bị bệnh quỷ mị. Mãn 21 biến quỷ mị kia chạy trốn, người bệnh trừ khỏi.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch rằng: Hoặc lấy bạch giới tử để trong sữa bơ, lấy một ít giới tử tụng Thần chú một biến ném vào trong lửa một lần, như vậy trải qua 21 lần bệnh liền trừ khỏi.
10-Lại phép nữa: Hoặc có bệnh quỷ mị, lấy Cù ma di thoa một tiểu đàn, lấy than trấu vẽ nơi đất làm thành hình quỷ mị, tụng Chân ngôn, lấy thạch lựu làm các roi gậy, quỷ kia khóc la trốn bỏ chạy mà đi.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Ðồng với pháp này. Ngài Ha La dịch: Bảo người bịnh đứng trước, lấy mực vẽ hình người bịnh kia, tụng Thần chú trong nhánh dương liễu đánh nơi hình vẽ đó cũng được trừ lành. Cù ma di đây nói là ngưu phẩn, phân trâu ở Tuyết sơn ăn toàn loại cỏ thơm, nên phân của nó dùng để đắp các đàn tràng tu Mật tông.
11-Lại phép nữa: Hoặc người bị quỷ mị làm đau ốm, mà người bệnh ở viễn xứ xa xôi, không thể tự đến được, hoặc người trì tụng không đến nơi bệnh nhơn, lấy nhánh dương liễu hay nhánh đào hoặc cành hoa, gia trì Thần chú 108 biến, sai người đem đến chỗ bệnh nhơn, hoặc lấy hoa bảo người bệnh ngửi, hoặc lấy hoa đánh bệnh nhơn, quỷ mị tức đi, người bệnh liền khỏi.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Bảo người đem đi nói người kia rằng: Ngươi đi. Ngài tên … sai ta đem roi về đánh ngươi đây, ngươi nếu không đi bị tổn đó, ngươi không được lảng vảng, nếu không đi roi đánh, tức đi.
12-Lại phép nữa: Nếu bị rắn mổ, hoặc bị quỷ nữ Noa kiết nễ bắt giữ, đi xung quanh bệnh nhơn tụng Chân ngôn, bệnh kia liền khỏi.
GIẢI: Ði quanh bệnh nhơn tụng Thần chú vài vòng, tức khỏi.
13-Lại phép nữa: Nếu người mắc bệnh ung nhọt sưng v.v… và bị các độc trùng cắn, lấy đàn hương nhồi dẻo hòa với đất làm bùn, tụng Chân ngôn 7 biến thoa lên mụt ghẻ, tức lành.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Bảo lấy huân lục hương hòa với đất nước tịnh thủy, thoa nơi mụt, ung nhọt, ghẻ lở, tức lành.
14-Lại phép nữa: Nếu người đi đường tụng Chân ngôn này, không bị giặc cướp làm thương tổn, cũng xa lìa các nạn ác cầm thú.

GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Nếu đi đường hiểm trở trong ban đêm thường niệm chú Chuẩn-đề, không bị giặc cướp, cọp beo, ác quỷ, các chỗ nạn sợ sệt, trì tâm niệm tụng để làm hộ thân, thì các nạn kia liền được tự diệt, nếu khi đi khất thực, thường trì chú này, không bị người ác, các loài chó dữ xâm hại, khất thực được dễ dàng.
15-Lại phép nữa: Nếu có sự lý luận tranh tụng đấu tranh và đàm luận cầu hơn, tụng Chân ngôn này là thắng mạnh hơn hết.
GIẢI: Chuẩn-đề Chân ngôn cứng như chày Kim Cang, vật chi cũng đều đập nát không dám đương đầu, cho nên tranh tụng, lý luận, đàm thuyết, danh ngôn, pháp nghĩa, thảy đều được thắng.
16-Lại phép nữa: Nếu đi trong sông sâu biển lớn, tụng Chân ngôn này không bị trôi chìm, và trong nước có các loài ác long, ma yết, cá sấu, cá mập làm tổn hại.
GIẢI: Ma yết đây nói rằng cá kình dài hơn mười mét, hoặc vài trăm mét, có thể nuốt các loại thuyền ghe lớn, nghĩa là các loại trùng rắn độc. Ngài Kim Cang Trí dịch: Hoặc bị rắn cắn, liền bảo người kia đi quanh niệm tụng vài vòng liền khỏi.
17-Lại phép nữa: Nếu bị giam cầm tù tội, người ấy trì tụng Thần chú Chuẩn-đề này mau được giải thoát.
GIẢI: Thể của Bồ-đề tâm tự tánh vốn không, xa lìa tất cả vật, cũng như hoa sen, tánh không bị nhiễm bùn dơ. Nay Thần chú này từ nơi tâm Bồ-đề của chư Phật lưu xuất ra, cho nên trì tụng ấy, tự nhiên mau được giải thoát.
18-Lại phép nữa: Nếu trong nước có tật bệnh, mười đêm lấy dầu mè, bột gạo thơm, hoà với bơ, mật, làm phép hộ ma tức được tai diệt, quốc độ an ninh.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Hoặc quốc độ mưa nắng không hòa, các loài lục súc, trâu, ngựa, bị dịch độc lưu hành; nên lấy dầu mè, bột gạo, đại mạch, gạo tẻ, đậu, bơ, mật, sữa tươi, sữa chưng chín, bạch nhũ mộc, các loại hương thơm đều để một bên. Thắp hương phát nguyện vì tất cả chúng sanh trừ khử tai nạn, tức tay thủ khế hộ thân tụng niệm, lấy các vật trước niệm tụng gia trì, bỏ vào trong lư lửa mà thiêu đó, như vậy bảy ngày, mỗi ngày ba thời, khi làm phép mỗi thời riêng tụng Thần chú đủ 1080 biến, tức được mãn nguyện, tất cả an vui, tất cả Tam-Bảo thảy đều hộ niệm, cũng hay thành tựu tất cả đại nguyện. Ngài Ha La dịch: Nên lấy bơ hòa với mè, dầu mè, bột gạo, dùng ba ngón tay lấy vật kia một nhúm, đọc Thần chú một biến, bỏ vào trong lửa thiêu, hoặc trải qua bảy ngày bảy đêm sáu thời như vậy nối nhau không dứt, tất cả tai dịch đều tiêu diệt. Nói thủ khế ấy là tay kiết ấn vậy.
19-Lại phép nữa: Nếu cầu giàu có nhiều của báu, mỗi ngày lấy các món ăn làm phép hộ ma tức được tiền tài của báu giàu có.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Nếu muốn cầu giàu có, lấy bột gạo dầu mè để trong bơ, sữa chưng chín, trong tay cầm chút ít, phát nguyện niệm tụng 7 biến bỏ vào trong lư lửa thiêu, tùy sức 7 ngày cho đến 49 ngày, tức được như nguyện. Ngài Ha La dịch: Lấy bơ hòa với gạo nếp tụng (chú 108 biến bỏ vào lửa thiêu đó, tùy tâm dã nguyện đều thành chắc chắn tài bảo tăng ích vậy.
Nói là Hộ ma ấy: Là các vật trước bỏ vào trong lư lửa thiêu để cúng dường. Kinh Tô Tất Ðịa nói: Nơi trước tôn tượng làm phép hộ ma, lư đảnh vuông một tấc tư, mặt bằng bề lượng sâu nửa tấc, bề cao bốn ngón tay. Lấy phân trâu và nước tiểu trâu ăn cỏ thơm ở núi Tuyết sơn để thoa dùng nước hương thơm sái vẩy. Hoặc làm cái lư tròn để chỗ niệm tụng kia, nếu ở trong phòng thất nên đem ra nơi ngoài có thể trông thấy tôn tượng mà xuyên ra cái lư, tùy sự nghiệp kia, y pháp mà làm các vật nhũ mộc v.v… và lấy hương hoa để bên hữu, đồ đựng hộ ma thiêu để bên tả, ngồi tòa cỏ mao (cỏ tranh). Nhiếp tâm lắng tịnh, trước tụng Bổn Tôn Chân ngôn một biến (Thần chú Chuẩn-đề), thỉnh an bổn tòa, y pháp cúng dường, nguyện đức Bổn Tôn thùy nạp phép thực hộ ma. Cây hộ ma có mười hai thứ, phương này không có, có thể dùng tử đàn hương (cây đàn hương tím), hoặc cây kiên thật nhũ mà thay đó, lấy nhánh ngay thẳng, dài hai ngón tay, hoặc mười ngón tay, đều chọn thứ mới tươi nhuận, xem trên dưới một mặt, để trong hương thủy rửa sạch, đầu bằng hướng bên ngoài, đầu thô hướng nơi thân, lấy sữa tươi, sữa chưng chín, bơ, mật, trộn hai đầu bỏ nơi trong lư lửa, như khi niệm tụng, để hai tay lại giữa hai đầu gối khi hộ ma thiên cũng nên như vậy. Hộ ma rồi, dụng bổn Chân ngôn tịnh thủy, lấy tay đưa đi khắp nơi vẩy nước tán sái trong lư như vậy ba lần, hộ ma xong rồi như pháp đưa đi. Nếu lấy bơ mật dầu làm phép, phải dùng cái thìa đến chữ Ta Phạ Hạ, các tiếng chưa dứt liền rót vào trong lư, ban đầu lấy một thìa đầy bơ hộ ma (thiêu) một lần trong đó, thìa nhỏ thiêu (hộ ma) xong, trở ra lại lấy một thìa đầy bơ thiêu (hộ ma) một lần, trở lại hiến cúng ứ già cho đến cúng dường chuẩn theo như trước, trở ra lại kiết các ấn hộ thân, cho đến giải mới có thể đưa các Ngài đi, như sau sẽ rõ.
20-Lại phép nữa: Nếu muốn khiến người kính thương vui mừng ấy, trong câu Chân ngôn xưng tên người kia, tức được hoan hỷ thuận phục.
GIẢI: Ngài Ha La dịch: Xưng danh tự người trước kia, đọc một câu Thần chú xưng tên một lần. Mãn 108 biến tức liền kính niệm.
(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
21-Lại phép nữa: Nếu không có y áo niệm tụng tức được y áo.
22-Lại phép nữa: Trong ý mong cầu, niệm tụng đều được như ý.
GIẢI: Chuẩn-đề Thần chú là tâm bảo của chư Phật, như ma ni châu ngọc, tùy niệm chúng sanh. Cho nên đều được như ý.
23-Lại phép nữa: Nếu người thân thể chi tiết đau nhức, gia trì trong tay 21 biến Thần chú, xoa bóp chỗ đau tức khỏi.
GIẢI: Nếu tự mình làm hoặc vì người khác làm đều được.
24-Lại phép nữa: Nếu mắc bịnh sốt rét và đau đầu, niệm Thần chú gia trì nơi tay 21 biến xoa bóp cũng được trừ lành.
GIẢI: Các việc này đều được thành là nhờ sự tu hành trước hết, hoặc người tu hành trong thời gian dài, đã trì tụng Chuẩn-đề Thần chú. Cho nên được tùy thủ ứng vật, thảy đều linh nghiệm, nếu ban đầu người mới trì tụng tu hành, Phạn âm chưa thuần thục, tâm không chuyên nhứt, chê bai không linh nghiệm, đắc tội rất nặng.
25-Lại phép nữa: Thoa đắp một đàn nhỏ, lấy một cái bát đồng đựng đầy tro củi thơm thanh tịnh, bảo đồng tử hai tay đè lên bát tro, người trì tụng nên tụng Thần chú, sứ giả của Bổn Tôn nhập vào thân của đồng tử, bát kia liền chuyển động, tức xuống lời đồng tử, tức tự kiết tam bộ tam muội gia ấn, tức tụng tam bộ Chân ngôn, liền lấy đá mếm trơn viên phấn đưa qua cho đồng tử, đồng tử tức nơi trên đất họa vẽ việc quá khứ, vị lai, tốt xấu, lành dữ và thất lạc kinh luận, quên mất nghĩa khó, ấn chú, tức được biết rõ.
GIẢI: Trong đây không nói biến, hay là 108 biến, hoặc trì cho đến đồng tử tự kiết. Ấn chú làm hạn định.
26-Lại phép nữa: Hai bên quân địch nhau, viết Ðà-la-ni này trên cỏ cây hoa, treo trên sào tre, bảo người kia tay cầm tụng Chân ngôn, địch kia tức phá tán.
GIẢI: Vài điều trên đây như các nhà dịch đều thiếu.
27-Lại phép nữa: Nếu người nữ không có con trai hay con gái, lấy ngưu huỳnh, nơi trên vỏ cây hoa viết Thần chú này, khiến đeo không lâu sẽ có con trai con gái.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Nơi vỏ cây hay trên lá, viết Ðà-la-ni này và vẽ hình đồng tử lấy vải lụa tím bọc lại, niệm tụng Thần chú 1080 biến, để trên cái búi tóc giữa đỉnh đầu, tức liền mang thai.
Có kẻ nói rằng: Bổn ý của chư Phật, khiến người đoạn các phiền não tham, sân, si. Nay cớ chi trở lại khiến người khởi tham niệm cầu các việc danh lợi ở đời ư?
Ðáp: Ðây là sức diệu dụng phương tiện độ sanh không thể nghĩ bàn của chư Phật. Bởi vì có những chúng sanh không chịu cầu thẳng đến đạo quả Vô thượng Bồ-đề, vả lại tùy lòng ham muốn của họ, khiến họ trì Thần chú hết thảy cầu mong đều được toại lòng, do oai lực của Thần chú không thể nghĩ bàn huân vào, tội nghiệp được tiêu diệt, giống Bồ-đề thành tựu. Tự nhiên siêu phàm nhập Thánh, như Chân ngôn này là cảnh giới của chư Phật, hàng thập địa Bồ-tát còn chẳng lường được, huống kẻ phàm phu suy nghĩa sao được ư? Nếu có đầy đủ trí nhãn, cần trọn ngày cầu, tức cùng với lý Bát-nhã tương ưng, đó chính là Phật thì đâu có chúng sanh mà khởi các phiền não tham…?
28-Lại phép nữa: Hoặc có người nữ chồng không kính trọng, lấy một cái bình mới đựng nước đầy, nơi trong bình để đồ thất bảo (vàng, bạc, ngọc v.v…) và các linh dược, ngũ cốc, bạch giới tử (hạt cải trắng) lấy dây lụa trắng cột nơi cổ bình, dùng Chân ngôn gia trì 108 biến, bảo người nữ kiết căn bản ấn (ấn Chuẩn-đề) để an trên đỉnh đầu, lấy nước ấy rót tưới vào đỉnh đầu, tức được yêu thương kính trọng, chẳng những kính trọng cũng được có con ở trong thai bền chắc.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Lấy tịnh bình đựng đầy nước thơm, đem để chỗ tịnh xứ, lấy ngưu phẩn (phân trâu ở Tuyết sơn ăn toàn cỏ thơm) thoa đắp Ðàn tràng niệm tụng 108 biến, như vậy bảy bình đều làm pháp này tại chỗ thanh tịnh, dùng hương hoa làm đạo tràng, lấy nước hương thơm trong bình tắm rửa, chồng liền vui vẻ thương yêu, cũng được có thai. Vợ không ưa chồng cũng làm phương pháp như trước. Bằng cứ trong một Ðại Tạng kinh, Ðà-la-ni Thần chú gồm năm bộ:
    1-Phật bộ các Thần chú của chư Phật.
    2-Liên Hoa bộ các Thần chú của Quán Tự Tại Bồ-tát, chú của Trì Liên Hoa Bồ-tát.
    3-Kim Cang bộ các chú của Kim Cang Thủ Bồ-tát, Chú của các vị Kim Cang thần.
    4-Bảo bộ là Thần chú của chư Thiên.
    5-Yết Ma bộ là các Thần chú của chư Quỷ Thần.
Năm bộ này mỗi bộ gồm có năm bộ. Tổng thành 25 bộ. Nay Chuẩn-đề Chân ngôn Thần chú bao gồm trì nhiếp thảy hai mươi lăm bộ. Cho nên tùy chỗ dụng đều được thành tựu.
29-Lại phép nữa: Người hành giả mỗi khi niệm tụng, kiết đại ấn tụng Chân ngôn in tháp, mãn sáu mươi vạn biết việc sở cầu tức được đầy đủ. Quán Tự Tại Bồ-tát, Kim Cang Thủ Bồ-tát, Ða La Bồ-tát, tức vì hiện thân sở cầu như ý, hoặc làm vua trong cung A Tu La, hoặc được Bồ-tát Ðịa, hoặc được thuốc trường niên, hoặc được kính ái pháp thành tựu.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Nơi bên bờ biển lớn, hoặc trên bãi cát mé sông, lấy bản in hình tượng tháp, in trên bãi cát mé sông, làm hình tượng tháp. Niệm tụng một biến in thành một tháp. Như vậy mãn số sáu mươi vạn biến, tức được thấy Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát v.v… tùy theo tâm nguyện đều được đầy đủ, hoặc thấy trao cho Thần tiên diệu dược, hoặc thấy thọ ký Bồ-tát, hoặc hiện tiền đến hỏi tùy nguyện mong cầu đều được các địa vị Bồ-tát. Nếu muốn cầu thông minh, lấy thạch xương hồ, ngưu huỳnh, mỗi thứ nửa lượng giã nhỏ làm bột hoà với bơ, nơi trước Phật làm đàn tụng niệm 5000 biến uống đó, tức được thông minh. Kinh Trì Minh Tạng nói: Nếu có người tu hành, muốn làm phép tối thượng thù thắng được thành tựu ấy. Nhứt tâm chuyên chú tinh cần tu tập, trước ở nơi bên bờ biển lớn tụng Chuẩn-đề căn bản Chân ngôn, tạo sa tháp (tháp cát) lục lạc xoa (60 vạn) rồi thì việc sở cầu quyết được thành tựu. Kim Cang Thủ cũng gọi Kim Cang Tạng.
30-Lại phép nữa: Nơi Bồ-đề đạo tràng, ở trước Ðại Chế Ðể, tụng Ðà-la-ni này, được thấy Thánh Tăng chung nói chuyện và Tất Ðịa thành tựu được chung kia đồng hành, tức đồng bực Thánh Tăng kia vậy.
GIẢI: Bồ-đề đạo tràng tại Trung Thiên Trúc, nước Ma-kiệt-đà. Phật ngồi nơi đó thành Ðẳng Chánh Giác, cho nên gọi Chế Ðể, là tháp Phật vậy. Tháp này ở trong Bồ-đề đạo tràng. Ngài Kim Cang Trí dịch: Nhiễu quanh bên hữu hình tượng cây Bồ-đề, hành đạo niệm tụng 100 vạn biến, tức thấy Phật, Bồ-tát, La Hán, vì đó nói pháp, muốn theo Bồ-tát liền được tùy tùng, sở cầu như nguyện cho đến hiện thân thành đại chú Tiên, liền được đi đến mười phương Tịnh độ hầu hạ chư Phật, được nghe Chánh pháp. Lại muốn được thấy tất cả quỷ thần, lấy ngưu huỳnh niệm tụng Thần chú cho được pháp ra khỏi lửa, tức lấy thoa nơi đôi mắt và uống vào liền thấy. Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: Tụng mãn số một Câu-chi (100 ức) được A-la-hán hiện thân và được lợi ích lớn, từ đó về sau đồng hành với A-la-hán, cũng đồng oai đức với các Ngài.
31-Lại phép nữa: Nơi trên đảnh núi cao, niệm tụng một Câu chi biến (100 ức biến) Kim Cang Thủ Bồ-tát tức đem người này, lãnh 560 người đồng vào cung điện A-tu-la, thọ mạng một kiếp, được thấy đức Di-lặc Bồ-tát, Thinh Văn Chánh pháp, nghe pháp rồi chứng được địa vị Bồ-tát không thoái chuyển.
GIẢI: Nói một kiếp đây là một tiểu kiếp có 1680 vạn năm, vào A-tu-la cung là để chờ đức Di-lặc hạ sanh. Kinh Thượng Sanh nói: Ðức Bồ-tát Di-lặc ra đời nhằm lúc tuổi thọ con người là 56 vạn ức năm.
Chỗ cung A-tu-la không phải là một, vả lại như chỗ Ngài Thanh Biện Luận sư đã vào, cung này ở Nam Thiên Trúc, cách thành phía nam nước An-đạt-la không xa, tại hang núi lớn, vách đá bao kín, Ngài Luận sư niệm Thần chú trong hạt cải trắng ném vào vách đá tự nhiên mở rộng, đón Ngài vào trong, đợi thấy đức Di-lặc giáng sanh.
32-Lại phép nữa: Trên núi Tỳ Bổ La (Núi đây ở Ma Kiệt quốc. Lại nói rằng: Chỉ có núi cao cũng được). Trước tượng tháp xá lợi niệm tụng, tùy sức dùng hương hoa cúng dường, xin vật để nuôi thân mạng, theo tháng ngày mùng một đến ngày rằm, tụng Ðà-la-ni mãn 30 vạn biến, lấy ngày mãn đó, một ngày một đêm không ăn, bội thêm sự cúng dường, đến cuối đêm tức thấy Kim Cang Thủ Bồ-tát, đem người tu hành đến tự trong cung, vì hành giả chỉ bày cửa hang A Tu La, vào trong hang được cam lồ của trời, sống lâu bằng mặt trời, mặt trăng.
GIẢI: Ngài Kim Cang Thủ ấy, tay cầm Kim Cang xử, tiêu biểu nội tâm đầy đủ đại Bồ-đề, ngoài đập nát các ma phiền não, lại tự thể bền chắc thành trí Kim Cang, đập phá núi tà kiến, chứng Kim Cang định, thường trong tay cầm cái bảo xử, cho nên gọi là Kim Cang Thủ Bồ-tát, nói đủ là Bồ-đề Tát Ðỏa, Bồ-đề nghĩa là Năng giác ngộ, Tát Ðỏa là Hữu tình. Nghĩa là tự mình hay giác ngộ, lại trụ ở trong sanh tử để giác ngộ tất cả các loài hữu tình vậy.
Ngài Kim Cang Trí dịch: Không nói trên núi, chỉ nói ở trước tháp, hoặc đứng trước tượng Phật, hoặc trước tháp Xá lợi. Ban đầu nói ở trước tháp ấy, hoặc Như Lai Bát Ðại Linh Tháp, hoặc Tháp Thân Kệ Tháp chứ chẳng những Xá lợi tháp vậy.
33-Lại phép nữa: Nơi Tam đạo Bảo Giai, chỗ Bảo Tháp từ trên trời xuống. Hành giả xin ăn, nhiễu quanh tụng câu chi biến 100 ức biến, tức thấy Vô Năng Thắng Bồ-tát cùng nguyện vì nói diệu pháp, chỉ bày đạo Vô thượng Bồ-đề, hoặc thấy A Lợi Ðể Mẫu, đem người này vào trong cung mình cho uống thuốc trường niên, hoàn đồng niên thiếu, đoan chánh đáng mừng. Lại được phục tàng của báu giấu kín, đại nhơn hứa khả, nên rộng làm lợi ích Tam-Bảo. Ðược tất cả Bồ-tát an ủi, chỉ bày chánh đạo cho đến Bồ-đề đạo tràng.
GIẢI: Nếu người trì tụng Ðà-la-ni này, cho đến chưa ngồi đạo tràng mà tất cả Bồ-tát đã làm bạn thắng hữu. Cho nên thường an ủi chỉ bày 37 món trợ đạo Bồ-đề, khiến tinh tấn tu hành cho đến ngồi dưới cây Bồ-đề thành Ðẳng Chánh Giác, cho nên nói rằng ngồi Ðạo tràng.
A Lợi Ðể Mẫu tức Quỷ tử mẫu, vốn gọi Hoan hỷ mẫu. Phục tàng nghĩa là của báu giấu kín trong lòng đất, chư Phật, Bồ-tát cho người kia đem về rộng làm lợi ích quần sanh, cúng dường ngôi Tam-Bảo, không được bỏn xẻn giấu cất tư dùng. Tam Ðạo Bảo Giai ở Trung Thiên Trúc nước Tăng Già Xá, xưa Phật lên cung trời Ðao Lợi vì mẹ nói pháp ba tháng xong, từ trên xuống, Thiên Ðế Thích hóa làm ba đường báu, đường chính giữa là vàng ròng, bên tả ngọc lưu ly, bên hữu ngọc mã não, Phật từ chính giữa đi xuống. Sau vua A Dục đến chỗ đó kiến lập một Bảo Tháp vậy.
Ngài Kim Cang Trí dịch: Nếu ở trước Chuyển pháp luân tháp, hoặc trước tháp chỗ Phật giáng sanh, hoặc trước Bảo Giai tháp, hoặc trước tháp Xá lợi, nhiễu quanh bên hữu niệm tụng đủ 49 ngày, tức thấy hai vị Bồ-tát kia, tùy theo chỗ nguyện mong, thảy đều đầy đủ v.v…
Trì Minh Tạng nói: Bồ-tát cho Thánh dược biến thân người tu hành đầy đủ tướng tốt đẹp thù thắng, lại được tất cả Bồ-tát tiếp dẫn chứng đạo, cho đến mau ngồi Bồ-đề đạo tràng.
34-Lại phép nữa: Nếu người không có túc căn lành, không có giống Bồ-đề, không tu Bồ-đề hạnh, vừa tụng một biến thì sanh mầm Bồ-đề pháp, huống gì thường hay niệm tụng thọ trì.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí: Nếu đọc một biến tức được phần căn khí sanh mầm Bồ-đề, huống thường tụng trì mà không biếng trễ, do đây thiện căn mau thành Phật chủng, vô lượng công đức thảy đều thành tựu.
Ngài Ha La dịch: Nếu được nghe pháp đại Chuẩn-đề Ðà-la-ni này, mau chóng chứng quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Nếu người nhớ trì tụng niệm thường không trễ bỏ tâm Phật Mẫu Ðại Chuẩn-đề Ðà-la-ni này, vô lượng thiện căn đều được thành tựu.
Khi Phật nói pháp Ðại Chuẩn-đề Ðà-la-ni này, vô lượng chúng sanh xa lìa trần cấu, được Ðại Chuẩn-đề Ðà-la-ni, Ðại Minh Chú Công Ðức, được thấy mười phương chư Phật, Bồ-tát và hết thảy các Thánh chúng làm lễ lui về.
(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
THẤT CÂU-CHI CHUẨN-ÐỀ ÐÀ-LA-NI
NGHI QUỸ NIỆM TỤNG

Ngài Kim Cang Trí dịch: Y kinh Phạn bản có mười vạn bài kệ. Nay tôi lược nói thứ lớp, niệm tụng, quán hạnh, cúng dường. Nếu có bốn chúng đệ tử, phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát hạnh, cầu mau ra khỏi sanh tử; trước phải nhập Tam ma đa quán đảnh đạo tràng, thọ trì giới cấm bền chắc không lui, ham thích Ðại Thừa giới hạnh Bồ-tát. Trong bốn oai nghi, tu bốn vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), phát bốn hoằng thệ nguyện (chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp, phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch, pháp môn không kể xiết thề nguyện đều tu học, Phật đạo không gì hơn thề nguyện được viên thành). Cầu ra khỏi tam đồ, đối với tất cả sự nghiệp, tâm không tán loạn mới có thể thức hạnh pháp môn bí mật này.

Nếu có người tu tập Ðà-la-ni này cầu thành tựu, trước cần tắm rửa sạch sẽ, nên mặc y thanh tịnh.
GIẢI: Kinh Tô Tất Ðịa nói: Ba thời tắm rửa, đầy đủ ba y. Cái áo trong mỗi ngày phải giặt ba lần, áo ấy phơi khô xông hương sái tịnh, phải có bộ áo riêng để mặc ngủ, còn bộ y áo giặt sạch để đó, ba thời thay đổi, áo trong thì phải mỗi ngày giặt một lần, phơi khô cũng xông hương sái tịnh. Tắm rửa tẩy tịnh và khi đại tiểu tiện đều dùng Chân ngôn gia trì với nước mà rửa mới thật sạch. Nếu không như pháp tẩy tịnh tức không có linh nghiệm.
Ở trong Căn Bản Tạp Sự Luật, Phật có dạy: Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni, lấy ta (Phật) làm thầy, thảy đều phải tẩy tịnh đúng như pháp; nếu không tẩy tịnh, không nên nhiễu tháp, hành đạo, lễ Phật, tụng kinh. Chư Thiên không vui, việc gì chú pháp đều không hiệu nghiệm và nếu trai tăng cúng dường, chép kinh, tạo tượng thì cũng được phước rất ít v.v… Phép tẩy tịnh đầy đủ như trong luật có chép. Kinh Tô Tất Ðịa nói phép tẩy tịnh đều đồng, nhưng chỉ dùng chú ấn và tắm rửa, tẩy tịnh, khứ uế, rửa tay mỗi mỗi đều có Thần chú đủ như trong các chỗ khác, nên biết. Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: Lại tụng Cam Lồ Quân Trà Lợi Bồ-tát Tâm Chân ngôn gia trì trong nước ba bụm (ba gáo) dùng rửa tự trên đảnh đầu, tức thành tắm rửa.

Chân ngôn: Úm A Mật Lị Ðế Hồng.
Lại tụng 21 biến gia trì trong nước dùng sái tịnh và khiến đuổi ma chướng, vậy sau tùy ý tắm rửa, dùng khăn lau cũng phải sạch sẽ, lại rửa hai tay cho thật sạch, xong rồi mới vào đạo tràng gần gũi hiền Thánh; phàm kiết ấn phải dùng hương thoa nơi tay.
Nghiêm sức đạo tràng an trí Bổn Tôn (tượng Chuẩn-đề) tùy sức bày biện, pháp kiến lập đạo tràng, nên lựa chỗ đất thù thắng, làm đàn bốn thước cuốc sâu ba tấc.
GIẢI: Phải trang nghiêm đạo tràng tùy sức bày biện, tràng phan, bảo cái, hương, hoa, ẩm thực v.v… Thắng địa như sau sẽ rõ. Ngài Kim Cang Trí dịch: Ðông, Tây, Nam, Bắc, lượng mỗi bề lấy bốn thước, làm đàn vuông cuốc sâu một thước.
Trừ bỏ gạch đá đất dơ, tóc lông và xương cốt, tro than, trùng kiến v.v… Lấy đất tốt sạch lấp đầy, đắp bằng. Cuốc bỏ đất dơ, lấy đất cũ ấy lấp nếu thấy có dư, phải biết chỗ đất ấy là đại kiết tường, mau chóng thành tựu, lấy đất tốt còn lại với Cù ma di, dùng nước hương thơm hòa với đất tốt làm bùn, tụng Vô Năng Thắng Bồ-tát Chân ngôn gia trì 21 biến, nhiên hậu mới đắp đàn. Ðắp rồi lấy năm món tịnh hòa lại với nhau.
Năm món tịnh ấy là: Cù ma di (phân trâu thơm ở Tuyết sơn bên Ấn Ðộ), nước nhựa ngưu thỉ (nước tiểu trâu thơm), sữa chưng chín, sữa tươi, bơ. Các bộ khác bảo lấy ngưu huỳnh đó gọi là ngũ tịnh.
Dùng Vô Năng Thắng Bồ-tát Chân ngôn gia trì 108 biến, mỗi biến quay phía hữu mà thoa đắp đàn tràng.
GIẢI: Phạn ngữ Mạn Ðà La (Ma Da La), Trung Hoa nói là Ðàn. Ðàn ấy là sanh vậy, nghĩa là xuất sanh vô tận công đức. Ðàn ấy là tập vậy, là chỗ vô biên Thánh Hiền tập hội. Như vậy đàn pháp chính là thần dụng không thể nghĩ bàn của chư Phật, chớ nên sanh lòng nghi hoặc, y pháp kết đàn, sở cầu quyết được như nguyện.
Nếu ở tại núi non trên hang đá kiến lập đàn, hoặc tại lầu các, hoặc trên thuyền, được chỗ đạo xứ của tất cả hiền Thánh thì chỉ lấy năm món tịnh thoa đắp.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Nếu ở nơi núi non và nhà thanh tịnh tốt không cần phải thoa đắp y như trước. Cần nên treo tràng phan, bảo cái bốn mặt, nếu có hình tượng Chuẩn-đề Phật Mẫu an trí trong đàn, mặt Ngài xây hướng Tây, nếu không có tượng Bổn Tôn Chuẩn-đề, có các tượng Phật, Xá lợi và Ðại Thừa kinh điển cúng dường cũng được.

Hành giả xây mặt về hướng Ðông, ngồi kiết Vô Năng Thắng ấn, đè đất tụng Chân ngôn 7 biến gia trì giữa trung tâm đàn. Lại lấy các món thuốc, thất bảo và ngũ cốc, mỗi thứ một ít, cuốc đất giữa trung tâm đàn sâu một thước để các thuốc và thất bảo. Lại lấy đất cũ lấp đầy bằng phẳng, lấy tay hữu đè tụng địa thiên kệ ba biến, để cảnh giác địa thiên thần. Kệ viết:
Nhữ thiên thân hộ giả
Ư chư Phật đạo sư
Tu hành thù thắng hạnh
Tịnh địa Ba-la-mật
Như phá ma quân chúng
Thích Sư Tử cứu thế
Ngã diệc hàng phục ma
Ngã họa Mạn trà la.

Dịch:
Người Trời gần hộ ta
Ở các Phật đạo sư
Tu hành hạnh thù thắng
Ðất tịnh đến bờ kia
Như phá các ma quân
Thích Sư Tử cứu đời
Ta cũng hàng phục ma
Ta họa vẽ Ðàn pháp

Tụng Thiên Ðịa Chân ngôn rằng:
Nẵng mồ tam mãn đa một đà nẫm tất lị thể vi duệ ta phạ hạ.
GIẢI: Ðịa Thiên ấy là: Dạ-xoa, La-sát, A-tu-la, Long, Ca-lầu-la, Càn-thát-bà, Kiên-na-la, Ma-hầu-la-già, Bộ-đa, Ty-xá-giá, Cưu-bàn-trà v.v… Chân ngôn cũng nói là Diệu ngôn: Nghĩa là từ trong tâm của chư Phật lưu xuất ra, là lời nói bí Mật chơn thật vi diệu. Tất cả chư Thiên, Ma, Phạm và nhơn vị Bồ-tát không thể nào nghĩ bàn được vậy.
Tụng kệ gia trì rồi, nhiên hậu lại lấy đàn hương đắp thoa chín cái Thánh vị như mặt trăng tròn.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Mài đàn hương đắp thoa làm tám đàn cũng như trăng tròn, hoặc giống như hoa sen tám cánh, bản dịch bảo đắp thoa chín Thánh vị tức là cúng dường căn bản chín chữ Chân ngôn Thần chú Chuẩn-đề. Kim Cang Trí dịch: Bảo đồ thoa tám đàn để cúng dường toàn chú tám câu, hay tùy ý làm cũng được.
Lấy đồ mới sạch cúng dường đầy đủ kim ngân, thục đồng, thương khư, bối ngọc thạch, đồ sành sứ, cây gỗ thơm v.v… Ðồ đựng đầy các món ăn uống và hoa tốt hương thơm, đèn nến, ứ già hương thủy (đồ đựng nước hương thơm) tùy sức đã có sắp bày cúng dường.
GIẢI: Thương khư là cái chén bằng ốc xà cừ. Kinh Tô Tất Ðịa nói: Ba thời đồ địa (rưới nước hương thơm dưới đất) hiến dâng hoa; hương, nước, các món cúng dường, trừ bỏ hoa héo tiếp tục cúng hoa mới, đồ hiến cúng bát chén cũng ba thời thay rửa.
Nếu tại gia, xuất gia Bồ-tát cầu thành tựu, mỗi khi vào đạo tràng, trước nên lễ Phật, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, phát nguyện. Rồi nên tự thệ thọ Bồ-đề tâm giới.
GIẢI: Cứ đây, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni và tại gia đã thọ Tam quy Ngũ giới, Bát giới; khi vào đạo tràng đều cần phải tự thệ thọ Bồ-đề tâm giới. Kinh Tô Tất Ðịa nói: Mỗi ngày ba thời tắm rửa thay áo, ba thời cúng dường, lễ bái, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, phát nguyện, ba thời tụng kinh và ba thời làm Ðàn pháp, ba thời quy y thọ giới làm phép hộ thân như vậy, quyết định được thành tựu. Ngài Kim Cang Trí dịch: Cũng ba thời thọ giới, lễ Phật, sám hối, tùy hỷ mà văn thiếu khuyến thỉnh, phát nguyện. Nay lấy lễ Phật, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, phát nguyện là năm pháp có phụ rõ nơi sau.

Chân ngôn: Úm - Mạo địa chỉ đa mẫu đát bả, noa dả nhỉ.
GIẢI: Mạo địa cũng là Bồ-đề, chỉ cũng là tức, lại là chất bả, hoặc là ma nhỉ cũng là di. Du Già giải rằng: Mạo địa là chỉ đa, đây nói là giác tâm, chữ mạo là chủng tử, chữ mạo ấy nghĩa đủ là tất cả pháp không còn trói buộc. Nếu hay viết trong tự thân là Bồ-đề tâm, là tự tánh thành tựu ba đời bình đẳng, như hư không xa lìa tất cả tướng, thì hay rõ biết tất cả tâm hữu tình, và tâm của chư Phật cũng như tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, hãy khởi lên lòng đại bi thâm sâu thương xót tất cả chúng sanh, dùng các món phương tiện, khiến các hữu tình lìa khổ, được giải thoát đến cứu cánh, không buộc cũng mở. Ðó chính là tâm Bồ-đề rộng lớn vậy.
Bồ-đề tâm lìa tất cả ngã chấp, xa lìa Uẩn, Xứ, Giới và ly năng thủ, sở thủ, nơi pháp bình đẳng. Tự tâm vốn có không sanh, tự tánh vốn là không, cho nên quá khứ tất cả Phật, Bồ-tát đã phát tâm Bồ-đề. Ta nay cũng như vậy. Ðây gọi tự thệ thọ Bồ-đề tâm giới, do tụng một biến suy nghĩ Thắng nghĩa đế (nghĩa thù thắng chắc chắn) nên được vô lượng vô biên công đức vô vi trang nghiêm tam nghiệp cho đến Bồ-đề đạo tràng, phước kia không gián đoạn, mau diệt tất cả nghiệp chướng, Chân ngôn chóng thành tựu, Bổn Tôn hiện tiền. Như kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới, đức Từ Thị Bồ-tát vì Thiện Tài Ðồng Tử nói công đức tâm của tâm Bồ-đề.
GIẢI: Uẩn tức là năm uẩn, Xứ tức là mười hai nhập, Giới tức là mười tám giới, như trong các chỗ đã giải thích.
Nghi thọ Bồ-đề tâm giới nói: Nay đã phát giác tâm, xa lìa các tánh, tướng, uẩn, giới và xứ v.v… năng thủ, sở thủ, chấp các pháp đều vô ngã bình đẳng. Như hư không, tự tâm vốn không sanh, không tánh viên mãn vắng lặng. Như chư Phật, Bồ-tát đã phát đại Bồ-đề tâm. Con nay cũng phát như vậy (muốn xem rõ như trong Thập pháp giới phẩm).
Tự thọ Bồ-đề tâm giới rồi, toàn già hay bán già tùy ý mà ngồi. Thân ngay thẳng, nhắm mắt, kiết định ấn, tượng trong hư không Chuẩn-đề Phật Mẫu và Thất Câu Chi Phật, đoanh vây đầy khắp hư không. Trong định lễ tất cả chư Phật và Chuẩn-đề Phật Mẫu. Vậy sau lấy hương thoa tay mà kiết ấn pháp.
GIẢI: Trước tiên kiết định ấn, sau lại kiết ấn lễ Phật. Ðủ như sau này có chép. Ngài Kim Cang Trí dịch: An tâm ngồi định trừ tất cả vọng tưởng, quán xét chúng sanh trong sáu đường, từ vô thỉ đến giờ chìm trong biển khổ sanh tử, luân hồi nơi sáu thú. Nguyện đều phát Bồ-đề tâm, tu hành Bồ-tát đạo mau ra khỏi. Tức lấy hương thoa hai tay mà kiết ấn; khi kiết ấn lấy áo y che tay lại chớ nên khiến người thấy. Trước kiết ấn Phật Bộ Tam Ma Da ấn, sau kiết các ấn.

(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
PHẬT BỘ TAM MA DA ẤN (tức là ấn Tam Muội)
GIẢI: Kinh Tô Tất Ðịa nói: Trước ở trong thất phải để tôn tượng dung nhan cân đối, hoặc Chế Ðể (tháp Xá lợi), hoặc chỉ thiết một cái tòa, khi vào mặt hướng tôn tượng, chắp tay, nép thân mình, miệng tụng Thần chú, lễ Phật cúng dường.
Thần chú: Úm - Nhập phạ lý đa lộ dả nê tra.(7 biến)
Tụng rồi lại kiết ấn Tam bộ tam ma da và đọc Thần chú.
Hai tay bộng chính giữa, chấp tay lại, mở hai đầu ngón tay trỏ co vịn dưới đốt thứ nhất của hai ngón tay giữa, co hai ngón tay cái vịn đốt dưới cùng của hai ngón tay trỏ tức thành. Ðể nơi ngang ngực, tụng Thần chú 7 biến, tưởng đức Như Lai có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, tướng tốt phân minh rõ ràng như đối trước mắt.
Hình ảnh

GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Ngón tay thiền, trí đều ngửa ra. Ngón đàn, giới, nhẫn, huệ, tiện, nguyện co kín. Ngón tấn, lực đứng thẳng nhau vịn trên đốt thứ nhất của ngón nhẫn, nguyện; ngón thiền, trí gá một bên ngón tấn, lực tức thành ấn.
Kinh Tô Tất Ðịa nói: Ấn pháp này đồng. Ngài Kim Cang Trí dịch: Ngón đàn, giới, nhẫn, tấn, thiền, từ ngón tay út bên mặt mà khởi tính. Ngón huệ, tiện, nguyện, lực, trí, từ ngón tay út bên trái mà khởi tính. Ðó là mười ngón Ba-la-mật.
Thần chú: Úm – Ðát tha nghiệt đổ nạp bà phạ dả ta phạ hạ.(7 biến)
Ðổ hoặc NÔ NẠP, hoặc Noa. Ngài Kim Cang Trí dịch: Úm, đát tha nghiệt đổ phạ bà da ta phạ ha. Rồi xả ấn trên đảnh. Chữ BÀ là khứ thinh, còn các chữ dưới đều đồng.
Do kiết ấn này và tụng Thần chú, tức kinh giác tất cả Như Lai thảy đều hộ niệm gia trì cho người tu hành, dùng hào quang chiếu soi, có bao nhiêu tội chướng đều được tiêu diệt, thọ mạng lâu dài, phước huệ tăng trưởng, Phật bộ Thánh chúng ủng hộ vui mừng, đời đời kiếp kiếp xa lìa các ác thú, hóa sanh trong hoa sen, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
GIẢI: Kinh Ðại Bảo Lầu Các nói: Trên đảnh núi cao tụng Thần chú, hết thảy tầm mắt phóng đến chỗ nào, những chúng sanh ngũ nghịch, thập ác thảy đều được diệt tất cả tội, đời sau sanh các cõi tịnh độ của chư Phật, được hóa sanh trong hoa sen. Như thế huống nữa người trì chú tu hành mà không sanh trong hoa sen, diệt tất cả tội ư?

LIÊN HOA BỘ TAM MA DA ẤN
Chấp hai tay trống chính giữa, buông thả mở ra hai ngón tay trỏ, hai ngón tay giữa, hai ngón vô danh chỉ, cong lại như hình hoa sen. Ðể ấn chính giữa ngực, tụng Chân ngôn 7 biến, tưởng Quán Tự Tại Bồ-tát tướng tốt đầy đủ. Rồi xả ấn trên đảnh.

Hình ảnh

GIẢI: Hai ngón tay út, hai ngón tay cái dựa dính nhau, còn sáu ngón kia buông thả mở ra, hơi cong như bông sen nở. Tướng tốt của Quán Tự Tại Bồ-tát như trong kinh Quán Thánh đã nói.
Chân ngôn: Úm (án) – Phá na mô, nạp bà, phạ dả ta phạ hạ.
GIẢI: Phá na hay Bát nạp. Ngài Kim Cang Trí dịch: Úm (án). Bát đầu mâu phạ bà da ta phạ ha.
Do kiết ấn này tụng Chân ngôn cho nên cảnh giác Quán Tự Tại Bồ-tát và hết thảy các Bồ-tát cầm hoa sen hào quang chiếu đến hành giả có các nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt, tất cả Bồ-tát thường làm bạn lành.
GIẢI: Vô Lượng Thọ Như Lai Nghi Quỹ nói: Do kiết ấn này và tụng Chân ngôn cảnh giác Ngài Quán Tự Tại và liên hoa bộ Thánh chúng đều đến gia trì hành giả đắc được ngữ nghiệp thanh tịnh, lời nói oai nghiêm khiến người ưa nghe biện tài vô ngại, thuyết pháp tự tại.

KIM CANG BỘ TAM MA DA ẤN
Lấy tay trái lật ra bên ngoài, tay bên mặt đôi lưng để an nơi lưng bàn tay trái. Lấy ngón tay cái và ngón út bên mặt và trái câu lại với nhau như hình Kim Cang Thủ Bồ-tát, tụng Chân ngôn 7 biến. Xả ấn lên đảnh.

Hình ảnh

GIẢI: Kinh Tô Tất Ðịa nói: Trong hai tay sáu ngón khít lại, mở ra ba ngón dọc theo như hình chày Kim Cang. Ba ấn này gọi là đại ấn, chư Phật, Bồ-tát còn không thể trái huống thảy các ma loại. Chẳng những thuận giáo còn diệt các tội, trừ các nạn. Pháp sở cầu quyết được thuận nguyện. Ngài Kim Cang Trí dịch: Tay trái sấp tay phải ngửa, ngón cái ngón út giao móc nhau, vậy là thành ấn. Ấn này đồng với bổn dịch.
Chân ngôn: Úm (án) - Phạ nhựt lô, nạp bà phạ, dả ta phạ hạ.
Kim Cang Trí dịch: Úm (án) - Phạ chiết rõ bà bàn da ta phạ hạ.
Do kiết ấn này và tụng Chân ngôn ấy, tức cảnh giác tất cả Kim Cang Thánh chúng gia trì ủng hộ, có các tội chướng đều được trừ diệt, tất cả thống khổ trọn không dính thân, sẽ được thể Kim Cang kiên cố.
GIẢI: Cúng Dường Nghi Quỹ nói: Do kiết ấn này và tụng Chân ngôn, kỉnh giác Kim Cang Tạng Bồ-tát và Kim Cang bộ Thánh chúng đều đến gia trì người hành giả đắc được ý nghiệp thanh tịnh, chứng Bồ-đề tâm, tam muội hiện tiền được giải thoát. Theo Ngài Kim Cang Trí dịch: Kiết tam bộ tam ma da ấn, sau tức kiết Phật Mẫu căn bản thân ấn, tụng Phật Mẫu Chân ngôn 7 biến, nay bổn dịch ở đây chỉ trì châu niệm tụng, trước kiết căn bản bổn ấn, như muốn kiết ấn ấy, cứ theo lý thì không ngại, ấn kia sau sẽ chép ra trong Ứ già ấn.

THỨ ÐẾN ÐỆ NHỊ CĂN BẢN ẤN
(Dùng hộ thân)
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Vì ấn này ở sau trì số châu niệm tụng, trước dùng riêng ấn chú là để toái trừ tất cả thiên ma ác quỷ… bổn dịch dùng ấn này và tâm Chân ngôn hộ thân, sao lại dùng “Vô Năng Thắng ấn chú” để toái trừ chướng ngại nữa.
Hai ngón ngoài tréo nhau, hai ngón tay trỏ, hai ngón tay cái đứng thẳng tức thành Tụng Phật Mẫu Tâm Chân ngôn. Ấn vào năm chỗ: Nơi trán, vai bên mặt, vai bên trái, nơi yết hầu, nơi tại ngực. Xả ấn lên đảnh.
Chân ngôn: Úm (án) – ca ma lê vĩ ma lê chuẩn nê ta phạ hạ.
Khi kiết ấn hộ thân, nên phát lòng đại từ, duyên khắp lục đạo tứ sanh, nguyện tất cả hữu tình mặc mũ giáp đại thệ Kim Cang trang nghiêm bền chắc. Mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bổ đề.
GIẢI: Ðại thệ Kim Cang mũ giáp trang nghiêm kiên cố ấy nghĩa là Bồ-tát lấy Tứ hoằng thệ nguyện làm trang nghiêm, không bị tà ma làm trở ngại, gặp duyên nghịch thuận tâm không thoái chuyển. Cho nên nguyện các hữu tình đều mặc mũ giáp Kim Cang kiên cố bền chắc như thế để xa lìa các chướng nạn, mau chứng Vô thượng Bồ-đề. Tưởng như vậy rồi, tức thành mặc Kim Cang mũ giáp, tất cả các ma không dám chướng ngại.

THỨ ÐẾN KIẾT ÐỊA GIỚI QUYẾT ẤN
Hai tay tréo nhau bên trong, đứng thẳng hai ngón tay cái, hai ngón tay trỏ, hai ngón tay út, các ngón hiệp nhau, co ngón tay trỏ bên tả như hình móc câu kéo ba lần, ngón tay cái chỉ nơi đất tức thành. Kéo một cái tụng một biến Chân ngôn.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Lấy tay mặt và tay trái, hai ngón tay giữa, hai ngón tay áp út tréo vào bàn tay hữu áp chặt bàn tay tả, ngón tay trỏ bên mặt cong như hình móc câu, ngón tay trỏ bên tả đứng thẳng, hai ngón tay cái, hai ngón tay út khiến đối diện sát nhau.
Chân ngôn: Úm (án) - Chuẩn nễ nễ chỉ, lã dả ta phạ hạ.
GIẢI: Ngài Kim Cang Trí dịch: Ấn chuẩn nễ nễ chỉ lã dả ta phạ hạ. Tụng một biến, dùng ấn ngón tay cái chạm nơi đất một lần, trở lại đứng thẳng dường như cây trụ cao, làm hai lần tức xong.
Do kiết ấn này, tụng Chân ngôn gia trì địa giới, cho nên thẳng đến dưới thủy tế như Kim Cang tòa, thiên ma và các kẻ chướng ngại không dám làm não hại, ít gia công lực mau được thành tựu.
GIẢI: Trong đất có các vật dơ xấu, do sức ấn chú này gia trì, hết thảy được thanh tịnh.
Trì tụng ấy rồi thứ đến nên ở trong đàn, tâm tưởng hoa sen lớn tám cánh. Trên hoa sen có tòa sư tử. Trên tòa có lầu các báu treo rủ xuống các món anh lạc, tràng phan, bảo cái, bảy hàng cây báu treo các thiên y đẹp đẽ, các món ăn uống nhiệm mầu, ma ni làm đèn. Như không có đàn pháp, chỉ nơi trong hư không mà quán tưởng tức thành tựu. Quán tưởng rồi, nên tụng bài kệ này:
    Dĩ ngã công đức lực.
    Như Lai gia trì lực
    Cập dĩ pháp giới lực
    Phổ cúng dường nhi trụ.
Dịch:
    Bởi con sức công đức
    Gia trì sức Như Lai
    Cùng do sức pháp giới
    Khắp cúng dường mà trụ.
Tụng kệ này rồi, liền tụng Ðại Hư Không Tạng Bồ-tát Chân ngôn: Úm (án) – Nga nga nẵng tam bà phạ, phạ nhựt ra hộc.
GIẢI: Chữ Tam Khứ thinh, chữ bà khứ thinh, chữ nga hoặc là chữ dà, nhẹ kêu (đọc nhẹ).
Do tụng Chân ngôn này gia trì và đã quán tưởng cúng dường chơn thật đầy đủ không khác, nên tất cả Thánh chúng đều được thọ dụng.
GIẢI: Căn cứ theo Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ: Tụng Ðại Hư Không Tạng Chân ngôn, trước nên kiết: 1- Hư Không Tạng Ấn.

Hình ảnh

Lấy hai tay chấp lại, hai ngón giữa bên mặt và trái áp bên ngoài tréo ra lưng tay, hai ngón tay trỏ cong dính nhau như bảo hình. Tưởng từ ấn xuất lưu ra đủ vô lượng các món cúng dường, y phục, ẩm thực, cung điện, lầu các v.v… người hành giả túng sử quán tưởng niệm lực có kém, do sức ấn chú này gia trì mà các đồ cúng dường đều thành chân thật, cúng dường một cách rộng lớn.
Lại cứ riêng bộ khác, có chép ra: 2- Thân Cúng Dường Ấn.

Hình ảnh

Hai ngón tay để ngang ngực chấp lại, lấy mười ngón tay bên hữu ép đầu ngón tay tả giao nhau lại, để lên trên đảnh, tụng xuất sanh cúng dường Chân ngôn 21 biến: tức chữ ÚM (ÁN) vậy. Do chữ úm (án) Chân ngôn và ấn lực bất tư nghì, tự nhiên biến khắp pháp giới, xuất sanh vô tận hương, hoa, đèn, nến, tràng phan, bảo cái, y phục, ngọa cụ, lầu các cung điện, âm nhạc bái tán v.v... Ðủ các thứ cúng dường, cúng dường khắp pháp giới, vô biên Phật Pháp Tăng Tam-Bảo v.v... Nếu không có đồ ẩm thực hương hoa thảy, chỉ đối trước tượng kiết ấn tụng (Úm) Án tự Chân ngôn, tự nhiên có vô lượng cúng dường, khắp cùng pháp giới vô tận Tam-Bảo. Vậy biết một chữ Úm (Án) như ma ni châu tùy tâm sở hiện, cũng như bổn kinh đã tưởng thảy đều thành tựu. Tại chữ Úm (Án) này là tự mẫu của tất cả Chân ngôn, năng sanh tự nghĩa của tất cả Chân ngôn nên đều đứng đầu tất cả Chân ngôn vậy.

(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
THỨ ÐẾN KIẾT BẢO XA LỘ ẤN
(Xa nói giá hay xả là bình thinh, lộ hay lỗ nên âm lộ)

Hình ảnh

Hai tay tréo nhau bên trong ngửa bàn tay ra, hai ngón tay trỏ ngang bằng nhau đầu ngón dính nhau, lấy hai ngón tay cái cầm vịn vào tiết dưới cùng của hai ngón tay trỏ. Tưởng xe lớn bảy báu Phật bộ và Sứ giả, giá ngự trên xe bảy báu, thừa nương hư không mà đi đến. Nơi tại đảnh của cõi Trời Sắc giới, A Ca Ni Tra Thiên, Tỳ-lô-giá-na Phật ở trong cung điện ấy, tụng Chân ngôn 7 biến.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Trước lấy hai ngón tay bên trong tréo nhau, ngón giữa đè ngón tả, lại mở hai ngón trỏ ra, đầu ngón giáp nhau thẳng đứng, lấy hai ngón cái xoay đầu qua lại nơi hai ngón tay giữa tức thành. Tâm tưởng trong cung trời A Ca Ni Tra Thiên, đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai và Thập Ðịa Bồ-tát vi nhiễu tập hội trong ấy, thỉnh đức Chuẩn-đề Phật Mẫu Thánh giả, nương cỡi đại xa thất bảo trang nghiêm, trên ấy có tòa liên hoa trắng, trên tòa có các hóa hình tượng. Trong tâm tưởng niệm như ở trước mắt, trời A Ca Ni Tra Thiên, đây nói là Sắc Cứu Cánh Thiên, là cõi trời tối cao của Sắc giới cũng gọi Hữu Ðảnh Thiên.
Chân ngôn: Úm (Án) - Ðổ rô đổ rô hồng
(Chữ rô hô chuyển trong lưỡi, Kim Cang Trí dịch không có chữ Hồng, mà có chữ Ta phạ ha).
Do tụng Chân ngôn kiết ấn gia trì cho nên thất bảo xa lộ đến sắc giới đảnh, đức Chuẩn-đề Phật Mẫu và tám vị đại Bồ-tát cùng chư Thánh chúng quyến thuộc vi nhiễu, nương cỡi thất bảo xa lộ.
GIẢI: Tám vị đại Bồ-tát ấy: 1- Quán Tự Tại, 2- Di-lặc, 3- Hư Không Tạng, 4- Phổ Hiền, 5- Kim Cang Thủ, 6- Văn Thù Sư Lợi, 7- Trừ Cái Chướng, 8- Ðịa Tạng Bồ-tát. Nếu Tỳ-lô-giá-na Phật nội tâm chứng được Tam ma địa Trí, thì lưu xuất ra mười sáu vị Bồ-tát: 1. Kim Cang Tát Ðỏa, 2. Kim Cang vương, 3. Kim Cang Ái, 4. Kim Cang Thiện Tai, 5. Kim Cang Bảo, 6. Kim Cang Oai Quang, 7. Kim Cang Tràng, 8. Kim Cang Tiếu, 9. Kim Cang Pháp, 10. Kim Cang Kiếm, 11. Kim Cang Nhơn, 12. Kim Cang Ngữ, 13. Kim Cang Nghiệp, 14. Kim Cang Hộ, 15. Kim Cang Dược Xoa, 16. Kim Cang Quyến Bồ-tát.
Du Già Phân Biệt Tu Chứng Pháp Môn nói: Ðây là luận về tông Chân ngôn Ðà-la-ni, là bí Mật giáo của tất cả Như Lai, là pháp môn tự giác Thánh trí tu chứng, cũng là Bồ-tát thọ đủ tịnh giới vô lượng oai nghi, vào hải hội đàn của tất cả Như Lai để thọ chức vị Bồ-tát, vượt qua ba cõi thọ Phật giáo sắc tam ma địa môn, đầy đủ nhân duyên đốn tập công đức, rộng lớn, trí tuệ, nơi Vô thượng Bồ-đề đều không thoái chuyển. Xa lìa các thiên ma, tất cả các phiền não cùng các tội chướng. Mỗi niệm dung chứng bốn món Phật thân. Nghĩ là Tự tánh thân, Thọ dụng thân, Biến hóa thân, Ðẳng lưu thân. Ðầy đủ năm trí ba mươi bảy món trợ đạo, các món bất cộng Phật pháp. Song Biến hóa thân của đức Như Lai, ở Diêm Phù Ðề nước Ma-kiệt-đà, nơi Bồ-đề đạo tràng thành Chánh đẳng chánh giác, vì hàng tiền địa Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, phàm phu mà nói ra giáo pháp của ba thừa, hoặc tùy nơi ý kẻ khác mà nói đến, hoặc tự ý nói đến, các căn cơ, các phương tiện như pháp tu hành đắc quả báo nhơn thiên. Hoặc đắc quả giải thoát của tam thừa. Hoặc tiến, hoặc thoái hóa nơi Vô thượng Bồ-đề, trải qua ba vô số đại kiếp, tu hành siêng năng khổ nhọc mới thành được Phật quả. Sanh ở nơi Vương cung, diệt nơi Song thọ, lưu thân Xá lợi, dựng tháp cúng dường. Cảm thọ đến trời người, được quả báo thắng diệu, làm nhơn cho Niết-bàn. Không đồng với Báo thân Tỳ-lô-giá-na Như Lai, nơi Sắc giới đảnh đệ tứ thiền, nơi cung trời A Ca Ni Tra, vân tập tận hư không, khắp pháp giới tất cả chư Phật, Thập Ðịa đầy đủ, các đại Bồ-tát chứng minh kỉnh giác, thân tâm đốn chứng Vô thượng Bồ-đề. Tự thọ dụng Phật từ tâm lưu xuất vô lượng Bồ-tát đều đồng một tánh. Nghĩa là Kim Cang tánh đối với Tỳ-lô-giá-na Như Lai, thọ quán đảnh chức vị, được các vị Bồ-tát kia nói môn Tam Mật, để dâng hiến Tỳ-lô-giá-na Phật và tất cả Như Lai, xin thỉnh gia trì dạy bảo. Ðức Tỳ-lô-giá-na Phật dạy: Các ông tương lai nơi vô lượng thế giới là kẻ tối thượng thừa, được hiện đời thành tựu thế gian, xuất thế gian Tất Ðịa. Nếu y cứ vị thứ mà nói có sai khác, còn căn cứ báo thân Phật liền chứng ba món tịnh nghiệp thân, khẩu, ý biến khắp pháp giới nơi mỗi một pháp môn, mỗi một lý thú, mỗi một lỗ lông, mỗi tướng tốt của thân phần, hết cõi hư không, không chướng ngại nhau, đều an trụ nơi bản vị để thành hào quang chiếu khắp. Tỳ-lô-giá-na, Tự thọ dụng thân, Tha thọ dụng thân, nếu y nhị thừa thứ lớp mà nói: không tu đầy đủ ba mươi bảy món Bồ-đề phần pháp mà chứng đắc đạo quả, điều đó không có lý. Còn nếu chứng Tự thọ dụng Phật thân, quyết tu ba mươi bảy món Tam ma địa trí để thành Phật quả. Phạn bổn nhập Lăng Già kệ tụng nói: Tự tánh và thọ dụng biến hóa với đẳng lưu Phật đức, ba mươi sáu đều đồng tự tánh thân và pháp giới, thân tổng thành ba mươi bảy vậy. Bởi vì ba mươi bảy là bên trong trí phần chứng Vô thượng Kim Cang giới, nhờ oai lực gia trì liền chứng Tỳ-lô-giá-na thân. Từ vô kiến đảnh tướng lưu xuất ra vô lượng Phật đảnh pháp thân, vân tập trong hư không để thành pháp hội, quang minh che khắp như Tháp tướng luân, Thập Ðịa đầy đủ, thường hay soi xét, thầm gia hộ thân tâm hữu tình, các tội chướng thảy được tiêu diệt mà không thể tự biết. Tuy không thể biết mà hay dứt các khổ, sanh các cõi thiện. Từ ánh hào quang ấy lưu xuất ra mười sáu vị Bồ-tát và tám phương trong ngoài đại hộ triển chuyển, phát xuất ánh hào quang, chiếu soi đến các ác thú. Ðể thành Suất Ðổ Ba (tầng bậc tháp Phật) giai cấp, hộ vệ chư Phật. Suất Ðổ Ba pháp giới cung điện, thành là toàn thân hiện chứng Kim Cang giới, Như Lai thân Tỳ-lô-giá-na biến chiếu vậy.
Vậy nên biết Phật Mẫu Chuẩn-đề, từ Tỳ-lô-giá-na thân lưu xuất ra mà Chuẩn-đề Chân ngôn tức là pháp tự chứng nội tâm của chư Phật. Cho nên Thất cu chi (700 ức) Như Lai đã nói: Bởi hay xuất sanh chư Phật, nên nói rằng Phật Mẫu vậy.

THỨ ÐẾN THỈNH XA LỘ ẤN
Theo như ấn trước, lấy hai ngón tay cái hướng về thân, xoay lại hai đầu ngón tay giữa, tức thành. Tụng Chân ngôn 7 biến.
Chân ngôn: Nẵng ma tất để lị dả địa vĩ ca nẫm, đát tha nghiệt đa nẫm. Úm (án) - Phạ nhựt lãng nghĩ nễ dã, yết lị dã, ta phạ hạ.
GIẢI: Nẫm cũng nói là nan, lãn cũng nói lãng, lại lãng nghĩ cũng nói kỳ nghiệt đa, nên nói nghiệt dá, nễ dã cũng nói là chữ nương thượng thinh, yết lị cũng nói ca ra.
Do tụng Chân ngôn gia trì, cho nên Thánh chúng từ bổn độ, lại đến trong hư không mà an trụ nơi đạo tràng.
GIẢI: Kim Cang Trí dịch: Không có Chân ngôn ấn khế này, chỉ dùng sau ấn khế Chân ngôn thỉnh đó. Hành giả tu Chân ngôn tùy theo một pháp đều thành.
Thứ đến kiết ấn Bổn Tôn (Chuẩn-đề Phật Mẫu) thỉnh, từ xa lộ hạ giáng nơi đạo tràng theo như đệ nhất căn bản ấn ở trước, lấy hai ngón tay cái hướng vào thân chiêu mời, tụng Chân ngôn ba biến.
GIẢI: Ðệ nhất căn bản ấn tức Phật bộ ấn ở trước, sau nói theo căn bản ấn trước tức đồng ở đây. Kim Cang Trí dịch: Lấy hai ngón tay cái đưa qua lại chiêu mời ba lần. Tưởng Thánh giả từ trên xe báu hạ lại đến trong đạo tràng, trên tòa hoa sen trắng.
Kinh Tô Tất Ðịa dạy thỉnh rằng: Nay có đệ tử tên … việc là … Phụng thỉnh ngưỡng duy Tôn giả, vì bổn nguyện giáng phó đạo tràng, nguyện thùy ai mẫn thọ món ứ già này và các món cúng dường. Khi thỉnh thành tâm làm lễ tác bạch ba lần, nếu không thành tâm phải luôn nhiều sự niệm tụng, cho đến Chân ngôn cũng đều ân cần gia thêm chữ Ế Ê này, lại là bí Mật, sự cầu nguyện mau được viên mãn.
Chân ngôn: Úm (án) - Giả lễ chủ lễ chuẩn nê ế ê duệ hê bà chiến phạ để ta phạ hạ.
GIẢI: Chữ bà khứ thinh mà hô đó. Kim Cang Trí dịch: Án, Chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề ế hê duệ hê bạt dà, phạ đế ta phạ ha. Dà nga yết nghiệt bốn chữ là đồng âm, chữ chiến nghi là kích, chữ dà phải hô nhẹ. Kinh Tô Tất Ðịa dạy rằng: phụng thỉnh rồi lại tác bạch như vầy: Thiện lai Tôn giả, thương xót chúng con, giáng lâm đạo tràng, thủy từ ai mẫn. Ðến nơi tòa này, an tọa thọ món cúng dường. Lại hết lòng thành tâm luôn luôn làm lễ, bạch rằng: Tôn ngôn đại bi thùy mẫn thừa bổn nguyện giáng lâm cho con được thấy chẳng những con đã bày biện các món cúng dường, trước hiến đồ hương, sau hiến các hoa lại hiếu thiêu hương, lại hiến các món ẩm thực và các món nhiên đăng đèn sáng, thứ lớp như vậy cúng dường.

VI KHIỂN ẤN hay KẾT VÔ NĂNG THẮNG BỒ TÁT ẤN TỊCH TRỪ CHƯỚNG NGẠI

Hình ảnh

Hai tay, tay hữu đè lên tay tả tréo nhau bên trong, nắm tay lại, đứng thẳng hai ngón tay giữa, đầu hai ngón tay hiệp lại, tức thành vòng quanh thân bên mặt ba lần, khởi lên suy nghĩ, chỗ có chướng ấy, Tỳ Na Dạ Ca, các ác quỷ thần hãy chạy xa đi, chỗ đến của các Thánh chúng, chẳng vượt bổn tam ma da đại bi mà an trụ, nguyện thùy gia hộ.
GIẢI: Hành giả phàm tu Chân ngôn và người tọa thiền cần trước phải dùng ấn chú trừ các ma chướng. Cho nên kinh Kim Cang Quang Minh nói: Hàng Thập Ðịa Bồ-tát còn lấy chú hộ trì, huống nữa kẻ phàm phu ư! Kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy: Nếu không trì chú mà ngồi đạo tràng, khiến thân tâm được xa lìa các việc ma là điều không có lý.
Kinh Tô Tất Ðịa dạy: Nếu muốn thành tựu các việc nên phải khiển trừ các ma chướng ngại, nếu không khiển trừ sau sợ có sự tổn thương. Bởi vậy nên trước cần làm phương pháp khiển trừ.
Chân ngôn: Nẵng mồ tam mãn đa một đà nẫm, úm (án) - Hộ rô hộ rô chiến noa lị mạ đắng kỳ ta phạ hạ.
GIẢI: Chiến hoặc tán kỳ, hoặc nghĩ li hoặc lị. Trì Minh Tạng dạy: Chú này hay thành tựu tất cả việc.

(còn tiếp)