Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
F. – ĐẠO VỢ CHỒNG (152-167)
Người thế gian: Cha con, chồng vợ, anh em, gia-thất, bà con nội ngoại phải kính mến nhau, đừng ganh ghét nhau, khi có khi không phải thông cảm nhau, không nên tham tiếc; lời nói, sắc mặt thường tỏ hòa thuận, đừng nên chống trái nhau.
Kinh Vô-Lượng-Thọ

Nếu người có thể giữ được lòng tin thời trong nhà an hòa, phước tự nhiên đến, chớ chẳng phải Thần Thánh nào trao cho vậy.
Kinh A-Nan Phân Biệt

Chồng đối với vợ có 5 điều:
1) Khi ra, vào phải kính mến
2) Cho uống ăn và sắm cho áo mền và đồ trang sức theo thời-đại
3) Phải sắm cho vàng bạc và chuỗi ngọc.
4) Trong nhà có bao nhiêu của cải giao hết cho vợ cất giữ.
5) Khi đi ra ngoài chẳng nên đem theo những đứa đĩ thõa.

Vợ thờ chồng có 5 điều:
1) Chồng đi về phải ra đón tiếp
2) Chồng đi vắng phải lo nấu nướng, quét dọn đợi chồng về.
3) Chẳng nên gọi tình với kẻ khác dù là tâm nghĩ, chồng mắng chửi chẳng đặng mắng lại và tỏ vẽ bất bình
4) Phải nghe lời dạy dỗ của chồng, có món gì chẳng đặng giấu riêng
5) Khi chồng ngủ nghĩ phải lo dọn cất rồi mới đi nằm.
Kinh Lục Phương Lễ

Là chồng phải lấy 5 điều nuôi, khiến vợ được an, năm điều là: Chánh tâm kính mến, ý chẳng hờn giận, không nên ngoại tình, thường cho ăn mặc, thường cho trang sức.

Khéo làm việc, khéo làm nên, vâng lời dạy bảo, dậy sớm, nghĩ tối, mọi việc phải bắt chước, đãi khách quân-tử, thưa hỏi khách quân-tử, vẻ mặt hòa nhã, lời nói thuận thõa, ghế, bàn, giường chiếu ngay thẳng, đồ uống ăn sạch sẽ, nghĩ việc bố-thí, cúng dường cho chồng. Mười bốn điều này là người vợ phải có. Chồng vợ hòa mục thời thiện pháp chẳng suy đồi.
Kinh Thiện-Sanh Tử

Người vợ trinh-tháo và hiền-lương lanh lợi là bậc mẫu nghi đủ bề khôn khéo nuôi con. Bầy con ấy quyết sẽ thành những bậc đại-nhân-vật.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm (văn Ba-lị)

Khi Đức Phật ở Tịnh xá Kỳ-Thọ, ông trưởng giả Cấp-Cô-Độc cưới dâu cho con. Người dâu đẹp đẽ đoan chánh vô song, nhưng phải tánh kiêu ngạo, khinh mạn chẳng vâng kính cha mẹ chồng và chồng. Bây giờ ông Trưởng-giả tự nghĩ: “Phải con dâu ngạo mạn làm sao mà dạy dỗ nó! Nếu đánh đập là chẳng phải điều lành, mà bỏ qua, chẳng dạy dỗ thời càng ngày nó càng thêm nhiều tội lỗi. Duy thỉnh Đức Phật nhờ Ngài dạy bảo giùm”. Sáng ngày ông đi đến Phật, thỉnh Phật về nhà nhờ giáo-hóa con dâu mới tên là Ngọc Da. Đức Phật đến nhà trưởng giả rồi Ngài bảo rằng: “Này Ngọc-Da nữ! Phàm làm đàn bà con gái đừng cậy sắc đẹp mà sanh lòng kiêu mạn, hình dung đoan-chánh đẹp đẽ chẳng phải thật đẹp đẽ mà tâm tánh đoan-chánh đẹp đẽ được người kính mến mới thật là đẹp đẽ chơn thật vậy”.

Phép làm đàn bà con gái có 5 điều:
1) Khuya mới ngủ, sớm lo dậy, để lo việc gia-sự, hoặc có món ngon vật lạ trước đem dâng lên cha mẹ và chồng.
2) Phải xem sóc và giữ gìn đồ đạt trong nhà.
3) Phải cẩn thận lời nói và nhẫn nại, có giận thì chút thôi.
4) Dè dặt cẩn thận, thường lo sợ việc mình không chu đáo thế.
5) Nhất tâm cung-kính phụng sự cha mẹ chồng và chồng và hết lòng hiếu thảo.

Lại nữa làm dâu có 5 phép:
1) Làm vợ như làm mẹ, mến chồng như mẹ thương con vậy.
2) Làm vợ như làm tôi, là thờ chồng như bề tôi thờ vua vậy.
3) Làm vợ như em gái, là thờ chồng như em gái thờ anh vậy.
4) Làm vợ như đày tớ, là thờ chồng như tớ gái vậy.
5) Làm vợ của chồng, là xem nhau đồng tâm hiệp ý, tuy hình thể khác nhau mà không sanh lòng kiêu mạn. Công việc trong, ngoài tốt đẹp, gia-đình giàu có; tiếp đãi tân khách tử-tế, tiếng tốt được đồn khen.

Trái lại làm dâu có 3 điều xấu:
1) Chưa tối mà đi ngủ, mặt trời mọc mà chưa dậy, đối với chồng giận dữ, trợn mắt, hiềm ghét, và mắng chửi.
2) Cơm ngon tự ăn, mà cơm dở đem dọn cho cha mẹ và chồng, trang điểm cho đẹp dối gạt.
3) Chẳng lo nghĩ việc sanh sống mà đi dạo xóm luận nói những chuyện xấu tốt, hay dở của người ta và hay cãi cọ, đánh lộn, ganh ghét dòng họ. Làm dâu như thế bị thiên hạ khinh dễ lắm”.
Nàng Ngọc-Da nghe Phật dạy một hồi mới sanh lòng xấu hổ mà thưa rằng: “Con thực ngu si quá, chẳng biết gì Chánh-pháp nên những việc con đã làm đều là sai quấy; nay con xin Ngài tha lỗi cho. Rồi nàng thọ Tam-Qui và Ngũ giới với Phật.
Kinh Ngọc-Da

Nước Câu-Lưu có người Bà-La-Môn tên Ma-Ha-Mật, nhà rất giàu có và trí huệ hơn người; ông ta làm quan đến chức Quốc-Sư. Nhưng bị lòng xan tham chẳng tin Phật pháp. Ông ta sinh hạ bảy đứa con gái, nhan sắc đẹp đẽ vô song, lại thêm nhà giàu có, ngọc vàng trang sức đầy đủ, trang nghiêm. Bấy giờ có ông bạn tên là Phân-nho-Đạt đến bảo Bà-La-Môn rằng: “Anh đem mấy đứa con gái của anh vào trong thành cho người xem; nếu có người chê xấu, thời anh đưa tôi năm trăm vàng, mà nếu không một ai chê xấu, thì tôi đền anh năm trăm vàng. Hai ông dẫn bảy đứa con gái đi dạo khắp trong nước, thời gian đến chín mươi ngày mà không một ai chê xấu nửa lời. Bây giờ hai ông nghe tin Đức Phật thuyết pháp tại Tịnh xá Kỳ Viên, liền rủ nhau dẫn đến nơi Phật mà thưa rằng: “Ngài hay dạo đi khắp các nước, Ngài đã từng thấy có những người con gái nào xinh đẹp như vậy không? Phật quở rằng: Mấy đứa gái này chẳng có chút gì đẹp cả”. Bà-la-môn nói: “Toàn quốc không một ai chê con tôi xấu mà sao Ngài lại chê nó xấu?”. Phật đáp: “Người đời họ xem cái đẹp của năm căn năm cảnh cho là đẹp, còn Ta cho là cái thân chẳng tham trơn láng, cái miệng chẳng nói lời ác, tâm ý chẳng nghĩ điều ác mới là đẹp vậy.
Kinh Thất-Nữ

Phật nói: Đàn bà có 5 thế lực: 1) Nhan sắc; 2) Thân tộc; 3) Đất ruộng; 4) Con trai; 5) Tự giữ mình. Mà khinh dễ người chồng. Nhưng người chồng chỉ có 1 thế lực giàu sang là có thể địch lại năm món kia.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Ông An-Na Phấn-Kỳ trưởng giả cưới vợ cho con, người dâu nhan sắc đẹp như sắc bông đào. Nàng là con gái của một Đại thần triều vua Ba-Tư Nặc; bởi vậy mà nàng ỷ thế nhà cha nên chẳng thèm cung kính cha mẹ và chồng, cũng không biết tin Tam-Bảo. Trưởng-giả đến nhờ Phật dạy bảo cho. Sáng ngày Phật đến nhà trưởng giả và bảo rằng: Này cô dâu mới ! Phép về làm vợ người có 4 việc:
1) Vợ như mẹ.
2) Vợ như bà con.
3) Vợ như kẻ thù.
4) Vợ như đầy tớ.
Làm vợ như mẹ là đối với chồng thừa sự cúng dường chẳng thiếu món gì cả. Vợ như người bà con là xem chồng không có tâm tăng giảm, phải khổ vui cùng hưởng. Còn làm vợ như kẻ địch là đối với chồng ôm lòng giận dữ ganh ghét, chẳng biết vâng thờ gì cả. Mà làm vợ như đứa tớ gái là người vợ hiền lương, với chồng nhẫn nhịn chẳng dám nói lời trả treo, thường có tấm lòng thương mến vậy. Người khéo thờ chồng khi chết sanh lên cõi Trời, mà tệ ác với chồng, chết đọa địa ngục. Nàng Thiện Sanh nử nghe Phật dạy rất xấu hổ và thưa rằng: "Thưa Thế Tôn! Con từ nay xin làm vợ như làm đứa tớ gái vậy". Và nàng quy y Tam Bảo làm Ưu Bà Di.
Kinh A-Na-Phấn Kỳ Hóa Thất Tử

Khi Đức Phật ở nước Xá Vệ bây giờ có nhà học vấn sâu rộng tên là Bà-Tư Nị-Ca, gia tư tại thôn Trưởng Đề cách thành Xá Vệ về phía tây hơn 20 dặm. Ông này có lòng thâm tín Phật giáo và sanh hạ được một cô gái đầu lòng tên Am-Đề-Giá, đã gả lấy chồng và đã theo chồng; nhưng có việc trở về nhà, vừa lúc Phật sắp đến nhà ông này và Ngài đã nhận lời mời bữa trước. Khi Phật đến, cả nhà đều ra nghinh tiếp, duy có cô Đề-Giá không ra rước vì đợi người chồng về. Một lát sau người chồng về cô rất vui mừng rồi hai vợ chồng cùng nhau ra lễ Phật. Đức Phật mới bảo với Ngài Xá Lợi Phất rằng: “Khi thầy trò mình đến cô này không ra vì chưa có mặt chồng, đợi khi chồng về hai người mới ra lễ. Thế là cô này đã hiểu lễ phép lắm vậy!
Kinh Sư-Tử Hầu-Liều Nghĩa

Ông A-Nan Phấn Kỳ Trưởng-giả ở thành Xá-Vệ kết bạn thâm giao với Ông Mãn Tài Trưởng-giả ở thành Mãn Phú. Nguyên do họ A có lập một sở nhà hành buôn bán lớn bên thành Mãn-Phú, thì ngược lại họ Mãn cũng có sở nhà hàng bên thành Xá-Vệ khuếch trương buôn bán tương đương và cũng vì thế mà việc giao hảo giữa hai Ông lại càng thân mật.
Họ A có một con gái út, họ Mãn muốn hỏi về làm dâu, nhưng họ A còn lưỡng lự chưa quyết, vì đôi bên khác tín-ngưỡng. Họ A nghĩ bụng: E việc này nên thưa Phật. Thì Phật bảo cứ gã cho họ đi. Thế là hai ông Trưởng-giả định ngày thành hôn. Đến ngày ấy cô út lo tắm rửa, xoa dầu thơm, và trang điểm vàng ngọc rồi lên xe hoa về nhà chồng, tức là nhà ông cha chồng Mãn Tài tại thành Mãn Phú.

Nhưng chiếu theo luật của Quốc-gia này thì không được cưới người nước ngoài về làm dâu, nếu ai phạm phải thì chịu phạt bằng cách cúng dường một bữa ăn cho sáu ngàn ông Phạm Chí Bà-la-môn. Vậy nên, cũng nhơn ngày rước dâu bày luôn tiệc phạt cúng dường cho sáu ngàn ông Phạm Chí. Các ông Phạm Chí để trần nửa cái thân mà đi vào nhà họ Mãn. Lúc các ông đến cửa thì Trưởng-giả bảo cô dâu mới ra lễ bái các Ngài. Cô dâu bất tuân lịnh cha chồng và nói: “Tôi không thể lễ những kẻ trần mình; Đức Phật Thầy tôi thường dạy chúng tôi rằng: Kẻ nào chẳng biết hổ trẽn là những kẻ chẳng biết phân biệt cha mẹ, an hem, tôn tộc và bà con dòng họ; các Ông Bà-la-môn kia là những kẻ không biết hổ trẽn nên tôi không muốn lạy. Khi ấy các Bà-la-môn nghe nổi sân si, bỏ tiệc ra về. Ông Mãn Tài rất buồn rầu, thường lên lầu cao nằm mà bực tức. Bây giờ có Ông Phạm Chí tên Tu-Bạt đến thăm thấy ông Mãn buồn phiền mới hỏi thì ông Mãn cho biết vì việc mới xảy ra. Ông Tu-Bạt nói: “Bậc thầy của cô dâu mới này oai đức cao cả lắm ông đừng buồn làm chi để tôi thuật chuyện chính tai nghe mắt thấy cho ông nghe: “Có một lần tôi đi đến ao A-Nậu, thần giữ ao không cho tôi vào, một lát sau tôi thấy có ông niên thiếu Tỳ-kheo đến thì Thần ao ra nghinh đón và mời ngồi trên một tòa bằng vàng mà lễ bái rất cung kính. Đó là đệ tử mà con như thế, huống chi bực Thầy… Ông Mãn nghe rất vui mừng và đòi cô dâu lên hỏi: Nay ta muốn mời thầy của ngươi về nhà cung phụng mà ta không hiểu phép thỉnh mời như thế nào, cha nhờ con thỉnh hộ. Nàng vâng lời và rất vui mừng. Tắm rửa sạch sẽ rồi thường lên lầu cao đốt hương hướng về hướng Phật làm lễ mà thỉnh cầu: Cúi xin đức Thế-Tôn chứng giám: Con nay về nước người hiện đang bị nạn; cúi xin Ngài đến cứu khổ.

Bấy giờ Phật dạy A-Nhã Câu-lân đi hầu tả, Xá-Lợi Phất đi hầu hữu, A-Nan mang bình bát đi hầu sau, và một ngàn hai trăm năm mươi vị đi chung quanh Ngài và thẳng đến nhà ông Trưởng-giả Mãn Tài. Đến cửa, Trưởng-giả và cô dâu ra lễ rước Phật cùng chư Tăng. Bây giờ sáu ngàn Phạm Chí thấy Phật vào nước mình và bảo với nhau rằng: “Nay Sa-môn Phật đã vào nước mình thì chúng mình không thể ở đây được nữa, nên bỏ xứ mà đi cho rồi, vì Phật đã hiện thần thông rất mầu nhiệm, chúng ta không thể bì kịp… rồi họ bỏ nước đi hết.

Đức Phật thuyết pháp cho gia đình ông Mãn và cả một số đông đảo nghe. Có người đã được tĩnh ngộ và đa số đều quy-y Tam-Bảo và thọ trì Ngũ-giới.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Vua Ưu-Đà-Diên nước Câu-Chiên-Di có hai bà phu nhân. Bà thứ nhất tên Xá-Ma, có lòng thâm tín Phật-Pháp, bà thứ hai tên Đế-Nữ tánh tình dua nịnh, thường đến chỗ vua mà sàm tấu và bài báng rằng bà phu-nhơn thứ nhất cùng với Phật làm việc phi-pháp, vua nghe thế nổ sân nộ dữ tợn liền lấy cung tên đem bắn bà phu-nhơn thứ nhất. Lúc ấy vì bà thương hại nhà vua nên bà liền vào Thiền-định Từ Ái. Vì thế mà tên bắn không trúng. Vua cả kinh hỏi bà tại sao? Hay người là Trời là Rồng gì chăng mà ta bắn không trúng? Bà đáp: “Tôi không phải là Trời là Rồng gì, mà tôi chỉ có lòng tin Phật được nghe Chánh-pháp và tôi tu-trì ngũ giới. Nay tôi vì lòng thương Đại-vương nên nhập Từ-ái Tam-muội Thiền-định dầu cho Đại-vương tuy có ác tâm cũng không thể hại được lòng từ-bi của tôi. Nhà vua nghe hết sức ăn năn đã tin lời sàm tấu của đệ Nhị phu nhân, và ông liền vội vã chạy đến chỗ Phật rồi tự thuật lại chuyện vừa xảy ra và cầu xin ăn năn sám hối. Rồi quy-y Tam-Bảo làm kẻ Ưu-Bà-Tắc.
Kinh Bảo Tích

Bà phu nhân cùng các Tì nữ của Đại Thọ Khẩn Na La thưa Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn chúng con đã phát tâm vô thượng đạo mà làm thế nào cho đạo tâm ấy mau thành tựu, cúi xin Ngài dũ lòng thương chỉ dạy cho”.
Đức Phật bảo phu nhân cùng các Tì nữ rằng: “Các ngươi đã phát tâm Bồ Đề rất thù thắng ở trong tam giới, trừ được phiền não tức chóng thành tựu quả Bồ Đề. Dưới đây có mấy điều các ngươi cần học tập:
1) Gần gũi với Phật.
2) Lìa kẻ tà kiếng quyết mau thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Giữ thân giới,
2) Giữ khẩu giới.
3) Giữ ý giới quyết mau thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Đem tâm vô vi tu bố thí.
2) Chẳng nên dối trá mà tu hạnh trì giới.
3) Đem tâm cung kính hướng về các bậc Thánh Hiền.
4) Nghe được Chánh pháp thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Chẳng tham ăn.
2) Chẳng tham yến ầm.
3) Chẳng tham kẻ trượng phu.
4) Chẳng tham đồ trang sức.
5) Chẳng tam đi du ngoạn.
6) Chẳng tham giỡn cười.
7) Chẳng tham kẻ ca nhạc sĩ, ca hát đánh nhạc.
8) Chẳng tham những kẻ nhảy múa, và giao hội rượu trà.
Thế là mau thành tựu bồ đề.

Lại nữa:
1) Chẳng nên nói ngã kiến.
2) Chẳng nên nói chúng sanh kiến
3) Chẳng nên nói thọ giá kiến.
4) Chẳng nên nói nhơn kiến
5) Chẳng nên nói đoạn vô kiến
6) Chẳng nên nói thường hữu kiến
7) Chẳng nên nói thấp trước hữu kiến
8) Chẳng nên nói chấp trước vô kiến
9) Phải khôn khéo hiểu pháp nhơn duyên sanh.
Thế là mau thành tựu bồ đề

Lại nữa:
1) Thương các chúng sanh.
2) Chẳng nên tham mến của người ta.
3) Chẳng nên nghĩ nhớ trai thanh niên con của người ta.
4) Giả sử có phải mất mạng cũng đừng nói dối.
5) Chẳng nên nói hai lưỡi.
6) Chẳng nên nói lời thô ác.
7) Chẳng nên nói thêu dệt.
8) Chẳng nên sanh khởi vô-minh phiền não
9) Chẳng nên khởi giận dữ.
10) Chẳng nên khởi ngu si.
Thế là mau thành tựu bồ đề.

Lại nữa: Thiện nữ nhơn! Nên quan sát ngũ uẩn pháp như sau: Quan sát sắc uẩn như bọt nước, chẳng nên tham tửu sắc. Quan sát thọ uẩn như bong bong nước, chẳng tham lạc thọ, chẳng bỏ rời khổ thọ, và đối với bất khổ bất lạc thọ, chẳng nên sanh ngu si. Quan sát tưởng uẩn như chớp sáng, chẳng nên khởi tưởng tượng phân biệt trai gái. Quan sát hành uẩn như cây chuối biết các hạnh chẳng chắc thiệt, chẳng nên chấp đắm các pháp. Quan sát thức uẩn như huyễn, đừng cho tâm thức đắm nhiễm các pháp.

Phu nhơn cùng các người! Cứ quan sát như vậy, và tu hành ngay đi, thời được nam thân mau được thành tựu quả Bồ đề.
Bấy giờ bà Phu nhơn và các kẻ dâm nữ của vua Đại thọ Khẩn Na La vui mừng nhảy nhót lễ Phật mà lui.
Kinh Đại Thọ Khẩn Na La Vương Sở Vấn

Bà Vô Cấu Quang nghe Đức Phật thuyết pháp, liền khi ấy phát tâm Bồ đề, đồng thời trong pháp hội cũng có 75 bà vợ của các ông cư sĩ cũng đồng phát tâm Bồ đề.

Bấy giờ ngài Xá Lợi Phật hỏi các bà kia rằng: “Chồng của các ngươi đã cho phép các người tu phạm hạnh nầy chưa?”. Các Bà đáp: “Chúng tôi đã từng hỏi chồng chúng tôi như thế nầy: “Chúng ta từ đâu đến đây và ngày mai sẽ đi đến xứ nào?” mà chồng chúng tôi không thể trả lời được. Cho nên chúng tôi tu phạm hạnh của chúng tôi chớ không cần hỏi ý kiến các ông ấy làm gì. Bởi vì nay chúng tôi được nghe Phật thuyết pháp; Phật là bậc cha mẹ, là Đấng Sở Tôn, là bậc Đại sư và là Đấng Phước Điền của chúng tôi vậy” Rồi các Bà làm lễ Phật.

Bấy giờ 75 ông chồng kéo đến thấy vợ mình đang làm lễ Phật, các ông trẻ lại chỗ ngài Xá Lợi Phất xin hỏi nguyên do. Xá Lợi Phật cho biết là các bà ấy đã lãnh thọ Phật pháp; từ nay các Bà tri cấm giới tu phạm hạnh, vì thế mà các Bà làm lễ Phật đó.

Bà Vô Cấu Quang về đến nhà mẹ bảo mẹ nên phát tâm vô thượng chánh đẳng tâm thời đó là con đã trả ơn cho mẹ rồi vậy. Bà mẹ nói với con rằng: Mẹ đã phát tâm từ lâu con không biết chớ khi mẹ mang thai con, mẹ không sanh khởi lòng xan tham, phá giới, giận dữ, biếng nhác, loạn niệm, ác huệ, tham tâm và ngu si, tà kiến. Mẹ thường vui mừng chánh pháp, cho nên thân tâm được an vui. Và thường chiêm bao thấy Phật và các đệ tử Phật đến thuyết pháp cho mẹ nghe.
Kinh Chuyển Nữ Thân
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
G. –TỪ LÀ CỘI GỐC (168-177)
Những kẻ có căn lành, lòng từ là cội gốc.
Kinh Niết Bàn

Từ tâm tức là nhơn duyên của tất cả sự an vui. Rời từ bi thời chẳng còn có pháp lành.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Bồ tát là nhà đại thí chủ, có bao nhiêu của cải bình đẳng thí cho chúng sanh mà không hối tiếc, chẳng mong quả báo, chẳng cầu danh vong, chẳng cầu sanh về chỗ hơn, chẳng cầu lợi dưỡng. Mà Bồ tát chỉ muốn cứu độ tất cả chúng sanh, muốn thu lấy lợi ích cho chúng sanh, muốn học theo bổn hạnh của các Đức Phật, muốn hiển hiện bổn hạnh của các Đức Phật, và muốn khiến tất cả chúng sanh lìa tất cả khổ, được vui rốt ráo.
Kinh Hoa Nghiêm

Người trí tu hạnh bố thí chẳng vì mong trả ơn, chẳng vì cầu được việc, chẳng vì hộ kẻ xan tham, chẳng vì sanh các cõi trời hưởng vui, chẳng vì tiếng tốt lưu bố ra ngoài, chẳng vì sợ hãi nỗi khổ ba ác đạo, chẳng vì cầu việc chi hết, chẳng vì hơn người, chẳng vì mất của, chẳng vì có nhiều, chẳng vì chẳng dùng, chẳng vì tục lệ của gia truyền, chẳng vì đề gần gũi.
Người trí tu bố thí: Vì lòng thương xót, vì muốn khiến kẻ kia được an vui, vì muốn họ cũng sanh lòng bố thí, vì muốn cùng các bậc thánh nhơn mà tu đạo, vì muốn phá hoại phiền não và vì muốn vào cõi Niết bàn đoạn hữu vậy.
Người không của tự nói không có của là không thiệt. Tại sao? Là người ai lại không có được một chén nước, một cọng cỏ? Những kẻ nghèo xơ, sau một bữa ăn, đem nước rửa chén mà bố thí cũng vẫn được phước; hay là đem một hạt cơm thí cho con kiến cũng vẫn được phước báo vô lượng; dầu cho những người cực nghèo trong thiên hạ ai lại không có một hạt cơm, hay một miếng bánh bằng bột? Những người cực nghèo tuy không có áo mặc, nhưng đâu phải họ thiệt ở truồng, nếu họ biết đem một sợi chỉ nơi áo quần bố thí cho người bị thương băng bó vết thương.
Nầy Thiện nam tử! Dầu cho những kẻ bần cùng trong thiên hạ đi nữa, đâu phải họ không có cái thân, nếu họ không có vật chỉ bố thí, thì mỗi khi thấy có kẻ khác tu bố thí, họ đem thân đến mà hiệp lực giúp đỡ với kẻ kia.
Nếu người không có Tâm bố thí thì dầu cho làm đến vị Quốc vương, cũng chưa chắc bố thí cho ai được chút gi!
Kinh Ưu Bà Tắc Giới.

Đời lắm kẻ ngu, giữ chặt lòng bủn xỉn, chẳng bố thí, chứa vàng của vạn ức, cho là vật sở hữu của ta. Đến khi chết, mắt thấy ác quỷ, đao-phong cắt thân, tuyệt hơi thở. Bây giờ tùy theo lòng tham nặng nhẹ, lãnh lấy quả báo đau khổ. Đến chỗ chịu khổ mới biết ăn năn, đâu còn kịp nữa!
Kinh Bồ-Tát Xử Thai

Nếu có người bần cùng, không của bố thí, khi thấy kẻ khác bố thí nên sanh tâm tùy hỉ; phước báu tùy hỉ, ngang với kẻ tu bố thí không khác. Ấy là việc rất dễ tu, ai tu chẳng đặng vậy.
Kinh Nhơn Quả

Nếu Bồ-tát tu thí, chỉ có lòng thương xót cũng được đầy đủ, huống là còn cho tài vật nữa. Nghĩa là Bồ-tát đem lòng từ bi nghĩ việc bố thí, tuy không có tài vật, khi thấy người đến xin chẳng nỡ nói: “Không có”, thương mà sa nước mắt. Bồ-tát có 3 trường hợp rơi nước mắt:
1) Khi thấy người tu công đức mà rơi lệ, vì lòng kính mến.
2) Khi thấy chúng sanh đau khổ bởi không công đức mà rơi lệ vì lòng thương xót.
3) Khi tự tu đại bố thí thương, vui nhảy nhót mà rơi lệ.

Bồ-tát tu bố thí xong chúng sanh no đủ liền vào núi, tu thiền định giúp trừ ba độc.
Kinh Luận-Đại-Trượng-Phu

Bảo với người xin rằng: “Ngươi nay thật làm nhơn công đức cho ta, vì khiến ta lìa lòng xan tham, đều nhớ nhơn duyên ngươi đến xin.”
Kinh Ưu bà tắc giới

Nếu thấy có người đến xin mà mặt mày nhăn nhó, thời phải biết người ấy họ đang mở cửa ngạ quỹ.
Kinh Bồ-Tát Bổn Hạnh

Xưa có người muốn sắp mở hội mời số khách đông để cúng dường sữa bò. Rồi tự nghĩ: “Nếu từ nay, cứ mỗi ngày nặng lấy sữa thì sữa sẽ nhiều không đồ chứa; mà chứa để lâu ngày sợ e sữa hư; chi bằng chứa luôn trong bụng bò, đến ngày khách đến sẽ nặng lấy một lần cho tiện. Thể rồi liền dắt bò con đem cột riêng xa bò mẹ. Qua thời gian một tháng, mới mời khách đến, đem bò ra nặng sữa, sữa đã khô mất hết, nặng không ra một giọt!
Người muốn đợi cho giàu to mới tu đại bố thí, chớ thường ngày chẳng chịu bố thí. Đến khi muốn thí thời của cải đã bị nước, lửa, giặc cướp đoạt mất hết chẳng còn một đồng mà thí! cũng như chứa sữa trong bụng bò.
Kinh Bách Dụ

Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: Thí cho nhằm thì có 5 việc :
1) Thí cho kẻ từ xa đi đến
2) Thí cho kẻ sắp đi xa
3) Thí cho người bịnh
4) Thí cho lúc đói kém
5) Mới được dưa, quả mới chín, hoặc cơm mới, phải trước cúng cho vị tinh tấn, trì giới, nhiên hậu mình mới dùng.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo có 5 món thí được phước báu lớn:
1) Tạo lập vườn tược
2) Trồng cây bên đường
3) Tạo tác cầu cống
4) Đóng thuyền to
5) Vì người sẽ đến, xây cất nhà cửa chổ ở.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Lòng thương thí một người, công đức lớn bằng đất; vì mình thí tất cả, được báo bằng hột cải. Cứu một người nguy nạn, hơn bố thí tất cả, các sao tuy có sáng, chẳng bằng sáng mặt trăng.
Luận Đại-Trượng-Phu

Thí kẻ bần cùng, sanh lòng thương xót; thí đấng phước điền, sanh lòng vui mến; thí bậc thân hữu sanh lòng tinh tấn.
Kinh Ưu bà tắc giới

Tu bố thí được phước; tu từ tâm không oán; làm điều thiện hết ác; bỏ dục không phiền não.
Kinh Trường A Hàm

Đức Phật đến trước cửa một nhà để khất thực, người vợ chủ nhà đem cơm để vào bình bát ngài, rồi làm lễ cúng.
Đức Phật dạy: Đem giống trồng một sanh mười, trồng mười sanh trăm, trồng trăm sanh ngàn, trồng ngàn sanh vạn, và trồng vạn sanh ức; được thấy đạo lý chắc chắn.
Người chồng không tin bảo: Cúng một bát cơm có đâu được phước nhiều như thế?
Đức Phật liền chỉ: Người có thấy cái Đại Thọ Ni Câu Đà kia không ? Nó cao lớn thịnh mậu đến 45 dặm. Cứ mỗi năm trái nó sinh ra chừng vài vạn hộc, hột nó nhỏ như hột cải, mà đất nó có biết đâu được sức kết quả nhiều như thế? Nhưng là đất, chớ người là thuộc loại hữu tình; do tâm vui mừng đem một bát cơm dâng lên Phật, được phước rất lớn, không thể kể xiết.

Bấy giờ tâm ý đôi vợ chồng được tỏ ngộ liền chứng đạo quả Tu-đà-hoàn.
Kinh Tạp Thí Dụ

Thường vui tu trí huệ, mà chẳng tu bố thí, đời sau được thông minh, nghèo túng không của cải; chỉ vui tu bố thí, mà chẳng tu trí huệ, đời sau được giàu to, ngu ám chẳng biết gì; thí, huệ đều song tu, đời sau giàu, trí đủ; hai món đều chẳng tu, nhiều kiếp bị nghèo, ngu !
Kinh Phân Biệt Nghiệp-Báo

Nếu người lòng tham nhiều lắm, đối với đất bùn xem nặng hơn vàng ngọc; trái lại kẻ nhiều bi tâm, tuy bố thí vàng ngọc, coi nhẹ hơn cỏ cây. Nếu người lòng bủn xỉn làm nhiều, rủi mất của cải, lòng rất sầu khổ. Nếu kẻ bố thí khiến người lãnh thọ vui mừng, tự mình cũng mừng. Phỏng có đồ ăn ngon, nếu chẳng đem bố thí mà để tự ăn, thời cũng chẳng cho là đồ ăn ngon; hay có đồ ăn dỡ mà đem bố thí rồi mới chịu ăn, trong lòng vui sướng cho là đồ rất ngon. Hoặc bố thí rồi còn dư tự ăn, ấy là bậc đại trượng-phu, tâm sanh vui mừng như chứng được Niết Bàn. Những kẻ không có lòng tin, họ đâu tin nổi những lời nói trên.

Người không có lòng tin, dầu có đồ ăn dỡ mà có kẻ đói đang đứng xin trước mặt, họ vẫn chẳng thí, huống là những vật tốt đẹp khác dâu dễ cho ai.

Như có hai người: Một giàu to, một nghèo cùng. Nay có người hành khất đến xin, cả hai người đều ôm lòng buồn lo: Kẻ giàu, lo sợ nó xin của; người nghèo lo tự bảo: Ta làm sao có được ít của vật gì cho họ. Hai người như vậy, tậm trạng lo khổ tuy đồng, mà được quả báo khác nhau, người nghèo vì lòng thương lo nghĩ, được sanh về cõi trời, hưởng sự giàu vui vô tận; còn kẻ xan tham đọa vào ngạ-quỉ, chịu khổ cũng khó hết.
Luận Đại-Trượng-Phu

Nếu bức bách gia tộc lấy của làm bố thí, người ấy chẳng được quả báo lớn. Trước chẳng hay cúng dường cha mẹ, mà lại làm khổ não vợ con, giả danh làm bố thí, thì chẳng được gọi là nghĩa khí. Tu bố thí như vậy, vì thiếu lòng thương xót nên gọi là: Chẳng biết trả ơn.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Nếu vì muốn sanh Thiên mà tu thí, hoặc cầu tiếng khen; hoặc mong trả báo, hoặc vì sợ hãi mà tu bố thí thì được quả báo chẳng được thanh tịnh.
Kinh Phân Biệt Nghiệp-Báo

Trước nghĩ muốn cho nhiều, khi cho lại cho ít.
Lựa những vật xấu đem cho người, vật tốt để lại mình
Đã cho xong, tâm sanh hối tiếc. Ba việc như vậy là bất-tịnh-thí

Lại có 8 việc thí xong mà chẳng thành tựu quả báo tốt:
1) Thí rồi tìm thấy lỗi của kẻ thọ.
2) Khi thí tâm chẳng bình đẳng
3) Thí rồi có ý lợi dụng kẻ thọ
4) Thí rồi vui sướng tự khen ngợi lấy
5) Chỉ nói suông chứ chẳng cho gì cả
6) Cho rồi ác khẩu mắng chửi
7) Cho rồi, cầu trả lại gấp đôi
8) Cho rồi sanh lòng nghi.
Kẻ thí chủ như vậy, không thể gần gủi và gặp gỡ các Đức Phật và các bậc Hiền Thánh
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Lại có 5 món chẳng nên đem thí cho người.
1) Phi lý cầu của, chẳng nên thí, vì của bất tịnh
2) Rượu và vật độc chẳng nên thí, vì loạn chúng sanh
3) Lưới giăng, cạm bẩy chẳng nên thí, vì hại chúng sanh
4) Dao, cung tên chẳng nên thí, vì giết chúng sanh
5) Đồ âm nhạc và nữ-sắc chẳng nến thí vì hoại tịnh tâm
Kinh Bảo-Tích

Nước Xá-Vệ có cô gái nghèo tên Nan-Đà, thân thế cô độc sanh sống bằng lối đi xin. Bấy giờ cô thấy các vị vua chúa, quan Đại thần, trưởng-giả v.v… cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: Ta mắc tội báo gì mà sanh vào nhà bần tiện thế nầy nên không thể cúng dường đấng Phước Điền. Cô tự hối trách lấy mình qua một ngày nọ đi xin chỉ được một đồng tiền liền đến nhà bán dầu để mua. Người bán dầu hỏi: Mua một đồng số dầu rất ít dùng sao được, vì sao mua ít thế? Nàng tỏ bày nỗi niềm và tâm nguyện của mình. Sau khi nghe, người bán dầu thương tình mà bán cho số dầu gấp bội. Nan-Đà xiết nỗi vui mừng, đem thẳng đến tinh-xá kỳ-viên dâng cúng Đức Thế Tôn. Rồi nàng phát nguyện rằng: “Nay tôi xin đem một ngọn đèn mọn nầy cúng dường Đức Phật, nguyện nhờ công đức nầy đời sau tôi được trí huệ sáng suốt, và được trừ dứt ngu ám cho tất cả chúng sanh.” Phát nguyện xong, lễ Phật và lui về.

Quá nửa đêm, các ngọn đèn kia đều tự tắt hết, chỉ còn một ngọn đèn nầy không tắt; ngài Mục-Kiền-Liên ba lần tắt mà nó chẳng tắt. Đức Phật thấy bảo: Nầy Mục-Kiền-Liên, ngọn đèn đây do người tín-nữ đem tâm bồ đề mà cúng dường, dầu cho lấy nước bốn biển cả mà đổ lên nó vẫn chẳng tắt.
Kinh Hiền Ngu

còn tiếp
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
H. –NGƯỜI THĂM BỆNH (177 – 182)
Đức Phật dạy: Từ nay về sau, cần thăm người bệnh. Nếu ai muốn cúng dường cho ta, thì cúng dường cho người bệnh trước.
Luật Tứ Phần

Nếu là Phật tử, thấy tất cả những người tật bịnh nên cúng dường như cúng dường Phật không khác. Trong tám món phước-điền, món phước-điền thăm bệnh là đứng đầu. Hoặc cha mẹ, Sư-Tăng, đệ tử có bệnh, người tàn tật, trăm điều trăm khổ, thời đều nuôi cho lành mạnh.
Kinh Phạm Võng

Đức Phật bảo Ưu-Ba-Ly: Người bệnh có 3 thứ:
1) Ứng theo bệnh được thuốc và cho đồ ăn, được hợp pháp thăm bệnh mà bị chết.
2) Ứng theo bệnh chẳng được thuốc, cho đồ ăn là hợp pháp thăm bệnh được lành sống
3) Ứng theo bệnh được thuốc, cho đồ ăn, được hợp pháp, người thăm bệnh, bệnh nhơn chắc lành sống.
Vậy nên, Ưu-Ba-Ly! Người bị bệnh nếu được người thăm bệnh chẳng đúng như pháp thời bệnh nhơn chết. Mà trái lại, thời sống, chỉ trừ kẻ tận mạng. Cho nên cần phải thăm bệnh, việc đúng như pháp, mới khiến bệnh nhơn được yên ổn.
Kinh Tăng-Kỳ

Cần thăm kẻ tật bệnh, thăm hỏi điều nguy khốn, lành dữ có trả báo, như trồng cây được trái.
Kinh Sanh Tử

Người bệnh, chẳng nghe theo lời chỉ bảo của người thăm bệnh; hoặc người thăm bệnh làm trái ý người bệnh đôi bên đều mắc lỗi.
Luật Tỳ-Ni-Mấu

Nên vì người bệnh, phải dùng những nhơn duyên thí dụ khéo nói kinh pháp nhiệm mầu, tùy theo tâm nguyện của kẻ bệnh, thời được lợi ích.
Kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh

Bình sanh thường tu thiện, sắp chết lại nghĩ ác, thời đọa vào ác đạo; mà bình sanh hay làm ác, khi đến ngày tận mạng, ăn năn nghĩ điều lành, thời liền sanh lên trời.
Luận Trí Độ

Đức Thế Tôn bảo các các Tỳ-kheo rằng: Người bị tật bệnh có 5 điều cần:
1) Chọn lựa vật ăn,
2) Tùy thời mà ăn,
3) Gần gủi thầy thuốc,
4) Đừng buồn, vui, giận,
5) Phải thuận theo kẻ thăm.

Kẻ nuôi bệnh cũng có 5 điều:
1) Cần phân biệt thuốc than,
2) Ngủ sau dậy trước, siêng năng chớ biếng nhác,
3) Ít ngủ nghỉ,
4) Dùng pháp cúng dường, đừng tham ăn uống,
5) Nên vì người bệnh nói pháp.
Kẻ bệnh và người khan hộ mà trái những điều dạy trên, thời bệnh nhơn khó lành được.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Người thăm bệnh:
1) Nên biết kẻ bệnh, món gì nên ăn và chẳng nên ăn mà cho
2) Đối với đồ đại tiểu tiện, đàm, mũi của kẻ bệnh chẳng nên nhờm gớm
3) Có lòng từ bi, chẳng vì lợi lộc mà thăm
4) Năng sửa sang thuốc thang cho đến khi lành mạnh, hoặc mạng chung, chẳng nên nãn lòng.
5) Năng vì kẻ bệnh thuyết pháp, khiến họ vui mừng
Thế là mình đã có pháp lành tăng trưởng
Luật Tứ Phần

Người thăm bệnh tuy biết kẻ bệnh chắc phải chết, nhưng đừng nói ra, phải khuyên họ quy y Tam-Bảo, niệm Phật – Pháp – Tăng, siêng tu cúng dường. Bởi vì bệnh khổ đều do đời trước gây nghiệp nhơn chẳng lành, nên bị quả báo đau khổ, nay phải bày vẽ cho họ biết sám hối. Hoặc giả họ nghe xong, lại sanh lòng giận dữ, nói ác, mắng chửi, ta nên nhẫn nại làm thinh, cũng chẳng nên bỏ họ.
Kinh Thiện-Sanh

Người thăm bệnh, nên tùy theo sở học của người bệnh từ trước mà khen ngợi hay chê bai, nhưng chẳng đặng khiến họ lui mất thiện tâm đã sẳn có từ trước.
Luật Thập Tụng

Đức Phật vì người bệnh sắp chết nói kệ rằng:
- Niệm Phật chánh định chắc thấy Phật
- Sau khi lâm chung về cõi Phật
- Chính lúc lâm chung khuyên niệm thiện
- Thị hiện Tôn-hình khiến chiêm ngưỡng
- Lại khuyên tưởng niệm quy y Phật
- Nhờ thế được thấy Phật quang minh
Kinh Hoa Nghiêm

Nên xem nuôi người bệnh, cẩn thận đừng trách móc, lành rồi hãy còn thăm, vì e bệnh tái phát. Nếu thấy đã bình-phục, mạnh như khi chưa bệnh, mới sanh tâm vui mừng, đừng mong trả ơn nghĩa.
Không may họ qua đời, nên vì lo tẫn tang, nói pháp để an ủi, bè bạn và thân thuộc. May mắn bệnh được lành, họ thành tâm trả ơn, mình vui lòng nhận lãnh, chuyển thí cho kẻ nghèo. Nuôi bệnh được như vậy, phải biết những người ấy, là bậc đại-thí-chủ, thiệt cầu Đạo vô thượng.
Kinh Thiện-Sanh

Trong đời vị lai, nếu có các vị quốc vương hay Bà-la-môn thấy các kẻ già, bệnh và phụ nữ sanh sản, trong khoảng một niệm, đủ lòng đại từ, bố thí thuốc thang, ăn uống, áo mền, khiến cho an vui: Tu phước lợi như thế, rất không thể nghĩ bàn được.
Kinh Địa-Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Nếu có chúng sanh, thấy các người bệnh, thí cho thuốc thang, khiến hết bệnh khổ mạng chúng sanh cõi trời lục-dục thọ hưởng năm món dục lạc; từ cung trời mạng chung, hoặc được sanh thân người, giàu có của cải; hoặc thấy người bệnh, gần chết mà khát nước, nên lấy nước đường phèn, nước trái cây hay các thứ nước mát đem cho. Sau khi mạng chung được sanh cõi trời thanh-lương, hưởng khoái lạc cung trời; từ cung trời mạng chung, được sanh làm thân người, thường khỏi đói khát.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
CHƯƠNG IV (183-187)
TAM BẢO

***
A. –PHẬT BẢO

Ơn Tam-Bảo là lợi lạc cho chúng sanh không thể nghĩ bàn, và không khi nào ngừng nghỉ vậy. Thân các Đức Phật là chơn-thiên vô lậu, vì trong thời-gian vô số đại-kiếp đã tu nhơn chứng quả. Những nghiệp quả trong ba cõi, đã dứt hẳn không còn. Công đức đồ sộ như quả núi vàng, tất cả chúng hữu tình làm sao biết được. Phước đức thâm sâu như biển cả, trí huệ thông suốt như hư không; ánh sáng chiếu khắp mười phương ba đời. Tất cả chúng sanh vì phiền não nghiệp chướng ngăn che nên không hay biết, nên chìm đắm biển khổ, sống chết không cùng, Ngôi Tam Bảo ra đời là vị đại Thiền-Sư năng vượt qua dòng ái, thẳng lên bờ bên kia. Những kẻ có trí thảy đều mến mộ vậy.
Kinh Tiểu-Địa Quán

Hỡi thiện nam tử, thiện nữ-nhơn! Sau khi Ta vào Niết Bàn, có nhiều chúng sanh mặc áo pháp-phục, tham lam lợi dưỡng, giả phát đạo tâm, làm tổn hại chánh pháp, không có tâm thanh tịnh. Những kẻ như vậy, tuy ở trong chúng hội của Ta, mà cách Ta rất xa.
Nếu có trai lành gái thiện tu hành vô trước, tuy chưa lên địa vị Bồ-tát, nhưng lòng đã vững vàng, chẳng bỏ đạo tâm, tuy xa Ta trăm ngàn vạn do tuần, mà rất gần nơi Ta vậy.
Kinh Bồ-Tát Anh-Lạc

Nầy Thiện-nam-tử! Trong ngôi Phật bảo có đầy đủ 6 món công đức mầu nhiệm:
1) Có ruộng vô-thượng đại công đức
2) Có ruộng vô-thượng đại ân đức.
3) Đối với trong các loại không có chân, hai chân, nhiều chân rất là tôn quý.
4) Rất nỗi khó gặp, như đóa hoa Ưu-đàm
5) Độc nhứt xuất hiện ra giữa ngàn triệu cõi thế giới
6) Viên mãn công đức thế gian và xuất thế gian

Vì đủ 6 công đức nhiệm mầu như vậy, nên thường hay làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Vì lợi ích tất cả chúng sanh, cho nên ngôi Phật bảo có nghĩa là bất khả tư-nghì.

*
Một hôm, có 500 ông Trưởng-giả hỏi Đức Phật rằng: “Ngôi Phật Bảo thường lợi ích cho chúng sanh, cớ sao chúng sanh trong thế gian phần nhiều chẳng thấy Phật, mà vẫn bị các khổ não.”

Phật đáp: “Ví như mặt trời, tuy soi khắp thế-giới mà những kẻ mù nào có thấy ánh sáng. Cũng thế, còn nhiều chúng sanh thường gây ác nghiệp mà chẳng tự giác, không biết hỗ trẽn, chẳng gần gũi Phật-Pháp-Tăng. Nếu có chúng sanh, biết tôn trọng Tam-Bảo, người ấy nghiệp chướng tiêu trừ, phước huệ thêm lớn, căn lành trọn nên, hẳn lìa sanh tử, thời được chứng quả Bồ-Đề.”
Kinh Tâm-Địa Quán

Đệ nhất Bồ-tát nói: “Phật là vô-thượng pháp vương. Bồ-tát là tôi của Pháp-bảo; duy đức Phật Thế Tôn là đấng sở tôn sở trọng vậy. Cho nên thường phải nhớ Phật.”
Đệ nhị có các Bồ-tát tự nói: “Đức Thế Tôn! Chúng tôi, từ bấy nhiêu kiếp đến nay, được nhờ nuôi lớn pháp thân, trí thân, đại từ bi thân và thiền định, trí huệ, vô lượng hạnh nguyện đều nhờ Đức Phật tác thành. Vì muốn trả ơn, thường xuyên gần Phật; cũng như bề tôi đại thần, nhờ ơn sủng nhà vua, nên thường nhớ đến vua.”

Đệ-tam có các Bồ-tát lạ nói thế nầy: “Lúc ta tu nhơn gặp ác-trí-thức bài báng Bát Nhã, bị đọa ác đạo, trải qua nhiều kiếp, có tu các hạnh, nhưng chưa được ra khỏi; về sau một thuở nhờ nương gần bên thiện-tri-thức dạy ta tu niệm Phật tam muội. Bấy giờ mới được tiêu các nghiệp chướng liền được giải thoát.
Vì có được lợi ích lớn lao như thế, nên nguyện chẳng xa lìa Đức Phật.”
Luận Trí Độ

Như-Lai vô số kiếp, cần khổ vì chúng sanh tại sao các thế gian, chẳng trả ơn Đại-sư
Kinh Hoa Nghiêm

Tu đầy đủ 10 pháp, mới thật cúng dường Như-Lai:
1) Lấy pháp cúng dường
2) Lấy các hạnh cúng dường
3) Lợi ích bình đẳng tất cả chúng sanh
4) Lấy lòng từ bi tùy thuận
5) Lấy Như-Lai lực
6) Tất cả pháp lành siêng tu chẳng bỏ
7) Tất cả sự nghiệp của Bồ-tát chẳng bỏ
8) Như nói mà tu, như tu mà nói
9) Tu thời gian lâu, tâm chẳng mỏi chán
10) Tâm Đại bồ-đề thường tu chẳng bỏ.

Nếu tu đủ mười pháp trên đây mới gọi là cúng dường đức Như Lai. Chớ như của báu, uống ăn, áo mặc ấy đều là chẳng phải chơn cúng dường vậy.
Kinh Hoa Nghiêm

Hành giả an trụ 10 pháp thời các Đức Phật vui sướng:
1) An trụ bất phóng dật,
2) An trụ vô sanh nhẫn,
3) An trụ đại-từ,
4) An trụ đại bi,
5) An trụ các pháp rốt ráo,
6) An trụ các hạnh,
7) An trụ đại nguyện,
8) An trụ phương tiện khéo léo
9) An trụ sức mạnh mẽ,
10) An trụ trí huệ.

Tại sao? Đức Như Lai tôn trọng Pháp như con thảo, tôn trọng cha mẹ, kính thuận dung nhan, tâm chẳng chút nới. Đức Như Lai tự tu hành mà được thành Đạo; cho nên ai tu hành là cúng dường vậy.

Như-Lai ra đời, vì lợi ích chúng sanh; kẻ nào không lòng từ bi, chẳng được lợi ích; kẻ chẳng tùy thuận tất cả, chẳng đặng lợi ích; kẻ chẳng tu pháp lành chẳng đặng lợi ích, kẻ chẳng như nói mà tu chẳng đặng lợi ích, kẻ sanh tâm mỏi chán, chẳng đặng lợi ích, và kẻ nào bỏ tâm đại bồ đề, thời chẳng đặng lợi ích.
Kinh Hoa Nghiêm
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
B. –PHÁP BẢO (188-194)

Nầy Thiện-nam tử! Như trong tất cả Pháp-Bảo, có vô lượng Đức Phật, Như-Lai nói Pháp-Bảo cũng vậy; trong tất cả có vô lượng nghĩa.
Thiện-nam tử! Pháp-Bảo có 4 thứ: Giáo-pháp, Lý-pháp, Hành-pháp và Quả-pháp. Pháp-Bảo năng phá tất cả lao ngục sanh tử, giống như kim-cang năng phá muôn vật. Pháp-Bảo năng soi chúng sanh tối tăm, giống như ánh sáng mặt trời soi thế giới. Pháp-Bảo năng cho chúng sanh vui mừng, giống như nhạc trời làm vui các người trời. Pháp-Bảo năng khiến chúng sanh qua bờ bên kia, giống như con thuyền to bền chắc. Pháp-Bảo năng phá bốn môn ma chướng được Đạo Vô-thượng Bồ đề, giống như mũ, áo giáp kim-cang. Pháp-Bảo năng khiến cắt đứt giây sanh tử thoát khỏi ràng buộc, giống như gươm bén trí huệ. Pháp-Bảo năng vận tải chúng sanh ra khỏi nhà lửa, giống như chiếc xe báu. Pháp-Bảo năng soi phá tối tăm trong ba đường, giống như đèn sáng. Pháp-Bảo khéo dẫn dụ chúng sanh đến chỗ báu, giống như vị Đạo-sư dẫn đường hiểm.
Gọi là ơn Pháp-Bảo chẳng khá nghĩ bàn.
Kinh Tâm-Địa Quán

Ta khi mới thành đạo, quan sát gì là đáng kính đáng khen, không gì hơn bằng Pháp-Bảo, vì Pháp-Bảo năng thành lập tất cả phàm, Thánh vậy.
Kinh Bát Nhã

Các ngươi chính-thân chính-ý tréo chân mà ngồi, chuyên nghĩ Pháp-Bảo đừng tưởng gì khác. Vì Chánh-pháp diệt trừ được các dục ái và trần lao, tâm khát ái hẳn chẳng sanh khởi khiến dục tâm không còn tham dục nữa, và xa lìa các trói buộc phiền não và tật bệnh vậy. Tự mình niệm nhớ chánh pháp và khiến người niệm nhớ.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Ta từ cây thọ-vương đứng dậy đi đến vườn Lộc-giả trong thành Ba-La-Nại, vì các ông A-Nhã, Câu Lân năm người tất cả, khi chuyển bánh xe Tứ-đế cũng nói các pháp xưa nay vắng lặng, thay đổi chẳng dừng sanh diệt từng nơi mỗi niệm. Trong thời gian ở đây và các nơi khác, vì các Tỳ-kheo và các Bồ-tát biện bạch diễn nói pháp mười hai nhân duyên và sáu món Ba-la-mật, cũng nói các pháp xưa nay vắng lặng, thay đổi chẳng dừng, sanh diệt từng mỗi niệm. Nay cũng trở lại nơi đây diễn nói kinh Đại-Thừa Vô-lượng nghĩa, cũng nói các pháp xưa nay vắng lặng, thay đổi chẳng dừng, sanh diệt từng mỗi niệm.
Nầy Thiện-nam-tử! Vậy nên trước nói, giữa nói, nay nói văn từ là một mà nghĩa có sai khác; vì nghĩa sai khác, nên chúng sanh hiểu cũng khác; vì hiểu khác, nên đắc pháp, đắc quả, và đắc đạo cũng khác.
Kinh Vô Lượng Nghĩa

Chúng sanh mà điên cuồng mờ ám bởi ba món khát ái che khuất chìm trong biển khổ; bị bốn món trái ngược nó làm cho điên đảo; với trong pháp hữu lậu vọng tưởng thấy biết: Không ta thấy có ta, vô thường thấy thường, không vui thấy vui, chẳng sạch thấy sạch, bị sanh, lão, bệnh, tử đổi dời, vô thường trong mỗi niệm. Bị năm món che mười món trói che khuất luân hồi trong ba cõi chịu đủ thứ sanh tử không có đầu đuôi giống như sợi giây xích. Vậy nên giáo pháp đức Như-Lai tùy theo cơ nghi có ba tạng chín bộ cho đến 12 bộ kinh, chia giòng giáo hóa tùy lòng tin sâu cạn nên nói các kinh điển.
Kinh Phật-thuyết-đại-phương-tiện Báo-ân


C. - TĂNG-BẢO

Người nào trọn nên các nghiệp lành, chất-trực mà thuận nghĩa, không có tà nghiệp; trọn nên giới pháp, trọn nên chánh-định, trọn nên trí huệ, trọn nên giải thoát và trọn nên tri-kiến, tức là ngôi Tăng-Bảo vậy. Tăng là ruộng phước của đời, cho nên tự mình chuyên lo cung-kính lễ thuận v.v…
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Kẻ tại-gia, thấy vị Sa-môn, liền mở cửa đợi sẳn, nghinh rước và hỏi han, bày ghế, chiếu, tiếp hộ Kinh tạng và cúng vật thanh khiết. Ấy là 5 việc của người tại gia vậy.
Dạy dỗ tác thành lòng tin, tác thành giới-hạnh, tác thành đa-văn, tác thành bố thí, và tác thành cho họ trí huệ nữa, ấy là năm việc của Sa-môn vậy.
Tại gia và xuất-gia đều làm trọn mấy điều trên đây, thời thiện pháp chẳng đến nỗi suy đồi vậy.
Kinh Thiện Sanh Tử

Phải dùng 5 việc phụng sự Sa-Môn Đạo-sĩ:
1) Đem thiện tâm mà xu hướng
2) Lựa lời đẹp cùng hầu chuyện
3) Đem thân nghiệp cung kính
4) Thường phải mến mộ.
5) Thường phải cung kính thừa sự và hỏi thăm việc độ-thế của các ngài.

Sa-môn Đạo-Sĩ cũng phải lấy 6 điều chú ý đối lại nhơn dân:
1) Dạy họ bố-thí chẳng đặng xan tham
2) Dạy họ trì-giới chẳng đặng hủy phạm
3) Dạy họ nhẫn nhục chẳng đặng giận dữ
4) Dạy họ siêng năng chẳng đặng lười biếng
5) Dạy họ nhứt tâm chẳng đặng buông ý
6) Dạy họ trí huệ chẳng đặng ngu si

Sa-môn Đạo-sĩ dạy người bỏ ác làm lành, khai mở chỉ vẽ chánh đạo, ơn ấy lớn hơn ơn cha mẹ.
Kinh Lục Phương Lễ

Bồ-tát có thể khiến hột giống Tam-Bảo chẳng dứt mất. Tại sao? Vì giáo hóa chúng sanh khiến phát tâm Bồ-Đề, là khiến nối luôn giống Pháp-Bảo; vì hộ trì giáo-pháp mà chẳng trái lỗi, và khiến cho nối luôn hột giống Tăng-bảo vậy.
Lại nữa: Ngợi khen đại-nguyện, là nối luôn giống Phật-Bảo; phân biệt diễn nói pháp nhơn duyên là nối luôn giống Pháp-Bảo; siêng tu sáu pháp hòa kính là nối luôn hột giống Tăng-Bảo.
Lại nữa: Gieo trong đám ruộng chúng sanh hột giống Phật, là ối luôn giống Phật; chẳng tiếc thân mạng để hộ trì chánh pháp là nối luôn giống Pháp; quản lý đại chúng không biết mỏi mệt là nối luôn hột giống Tăng-Bảo vậy.
Kinh Hoa Nghiêm

Nếu người nào một lòng thành khẩn quy-y Phật-Đà, người ấy chắc đặng vui sướng to, vì Phật tâm không ngày cũng không đêm thường nhớ nghĩ chúng sanh vậy. Nếu người nào một lòng thành khẩn quy y Pháp-Bảo người ấy chắc đặng vui sướng lớn vì sức Pháp-Bảo không ngày cũng không đêm thường gia trì chúng sanh vậy. Nếu người nào một lòng thành khẩn quy y Tăng-Bảo người ấy được yên ổn lớn, vì oai đức Tăng-già không ngày cũng không đêm thường bảo hộ chúng sanh vậy.
Kinh Đế-Thích Sở-Vấn

Bấy giờ trong Hội có một vị đồng tử mới 7 tuổi tên Tuyển-Trạch, từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay bạch Phật rằng: “Thưa Đức Thế Tôn! Tôi đã phát tâm Bồ-tát nguyện thành ngôi Pháp-vương. Thưa Thế Tôn! Nhưng nay tôi lại muốn làm thân Tỳ-kheo tu hành chánh đạo; vì Tỳ-kheo tinh tiến tu thiền định và trí huệ, nên mau được chánh giác. Tôi từ nay tinh tiến cầu xin mau cho tôi làm Tỳ-kheo tu Đạo an lạc, đến Niết Bàn trừ các mê ám, đem ánh sáng chánh pháp soi khắp thế gian”.
Đức Phật liền cho ngay đồng-tử được làm Tỳ-kheo và ngài nói pháp: Tuyển-Trạch ! Tuy chẳng mặc áo nhuộm, mà tâm không đắm nhiễm là chơn thật Tỳ-kheo vậy. Tuy chẳng cởi đồ sức hảo mà hay dứt các trói buộc là chơn Tỳ-kheo vậy. Tuy chẳng thọ giới cấm, mà tâm bỏ các ác, mở cửa công đức định huệ, thật là chơn Tỳ-kheo vậy.
Tự Quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Đại-Đạo nối thịnh giống Phật.
Tự quy y Pháp xin nguyện chúng sanh sâu vào Kinh tạng trí huệ như biển.
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
Kinh Hoa-Thủ

(còn tiếp)
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
D. –CỨU KHỔ - CHO VUI

Các đệ tử ! Thường vui tu trì pháp thập thiện với các sanh vật, thường sanh khởi bi tâm, cứu vớt đau khổ; thường sanh khởi từ tâm cho điều vui sướng.
Kinh Bát Nhã

Đem của bố-thí làm cho chúng sanh mến, đem pháp bố-thí thường được thế gian kính trọng. Thí của được kẻ ngu mến, thí pháp được người trí trọng, thí của phá trừ cái nghèo cũng về của, thí pháp phá trừ cái nghèo cùng về công đức. Hai món thí nầy ai chẳng kính trọng. Cho của là cho vui hiện tại; cho pháp là cho vui Niết Bàn tương lai. Người có lòng bi hay thương tất cả chúng sanh, mà thương chúng sanh tức là thương mình vậy.
Luận Đại-Trượng-Phu

Kẻ thuyết pháp cần tu 4 hạnh:
1) Học rộng nghe nhiều, năng giữ tất cả ngôn từ chương cú.
2) Quyết định khéo biết hành-tướng sanh diệt của các pháp thế gian và xuất thế gian.
3) Phải được thiền định và trí-huệ, tùy thuận các kinh pháp mà không tranh luận
4) Chẳng thêm chẳng bớt, cứ đúng như Pháp mà nói.
Luận Thập Trụ Tỳ bà -Ta

Thân tâm; mình đã được giáo huấn rồi lại đem dạy người, thời chẳng khó; nếu muốn dạy người trước phải dạy mình đã.
Kinh Phật Trị-Thân

Trước trừ ác mình, sau dạy người trừ; nếu mình chẳng trừ, mà dạy người trừ, đâu có lý vậy. Vậy nên Bồ-tát trước phải tự bố-thí, trì-giới, tri-túc, cần hành, tinh-tấn, nhiên hậu mới giáo-hóa người.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Như vị Đại Thuyền Sư thường đem con thuyền vĩ đại, hạ giữa dòng chảy, chẳng đụng bên nầy, chẳng chạm bên kia, chẳng trụ giữa dòng, cứ thẳng tiến tới, không chút ngừng nghỉ.
Cũng thế, Bồ-tát lấy thuyền Ba-la-mật, ở trong giòng sanh tử, mà chẳng chán sanh tử, chẳng thủ Niết Bàn, mà cũng chẳng ở giữa dòng, là vì muốn khiến chúng sanh đạt đến bờ bên kia, nên không ngừng tay. Trong khoảng vô lượng kiếp, thường tu tinh tiến giáo hóa chúng sanh.
Kinh Hoa Nghiêm

Nếu có Tỳ-kheo vì người thuyết pháp mà tự suy nghĩ: “Ta vì kẻ kia thuyết pháp, khiến họ tin kinh ta, sẽ cho ta rất nhiều vật uống ăn, áo mặc, nên ta thuyết pháp,” ấy là bất tịnh thuyết pháp. Trái lại Tỳ-kheo vì người thuyết pháp, mục-đích muốn người nghe chứng giải Phật pháp, lìa các phiền não, trừ khổ hiện tại. Và có thể khiến kẻ nghe, nghe mình thuyết pháp, như thuyết tu hành, vì khiến người nghe lãnh hội được pháp, được nghĩa, được lợi, và được yên vui. Thuyết pháp như thế gọi là thanh-tịnh từ bi thuyết pháp.
Kinh Trường A Hàm

Ngài Phú-Lâu-Na thưa Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! Tôi đã được nhờ Thế tôn giáo hóa; nay tôi muốn qua bên xứ Du-Lô-Na phía Tây để hóa độ người bên ấy.”

Đức Phật hỏi: Người dân xứ kia tính tình hung ác, dữ tợn, tệ bạo mà hay mắng chửi. Nếu ngươi bị họ làm dữ và mắng chửi, hủy nhục thì ngươi làm sao?
Thưa: Nếu đối trước mặt tôi mà họ tệ bạo như thế thì tôi tự nghĩ: Họ còn hiền lành và có trí khôn, tuy làm dữ như thế mà chẳng cầm đá đánh đập.
Phật hỏi: Họ làm thế ngươi còn nhẫn được, chớ phỏng họ dùng đá đánh đập thì ngươi nghĩ sao?
Thưa: Nếu họ làm vậy tôi lại nghĩ rằng: Họ còn chút hiền lành và có trí khôn, nên chẳng dùng dao gậy.
Phật hỏi: Nếu họ dùng tới dao gậy người làm cách nào?
Thưa: Nếu họ làm vậy tôi tự nghĩ rằng: Họ vẫn còn hiền lành và có trí khôn, tuy là đánh chém, mà chẳng giết chết.
Phật hỏi nữa: Phỏng như họ giết chết ngươi, bấy giờ ngươi sẽ tính cách nào?
Ngài Phú-Lâu-Na lại thưa Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! Quả thật họ giết chết tôi, tôi lại nghĩ rằng: họ cũng còn hiền lành và có trí khôn với tấm thân hủ bại này, họ làm chút phương tiện khiến cho tôi liền được giải thoát.
Đức Phật khen ngợi: Hay thay! Phú Lâu Na ngươi đã học được pháp nhẫn nhục; ngươi nay đủ sức qua ở bên xứ Du-Lô-Na mà giáo hóa nhơn-gian. Ngươi nên đi ngay. Qua bên ấy ngươi sẽ độ những kẻ chưa được độ, an ẩn những kẻ chưa được an ẩn, và những kẻ chưa được Niết Bàn độ cho họ được Niết Bàn.
Kinh Tạp-A-Hàm

Sau khi Ta nhập diệt các đệ tử phải truyền nhau mà tu hành pháp lợi mình lợi người, thời pháp thân Như-Lai thường còn chẳng mất vậy.
Kinh Di-Giáo

Kẻ nói pháp, xem căn cơ của người nghe mà nói, họ nhất tâm nghe hiểu thấu vào trong nghĩa của lời nói, như khát được uống; và thấy kẻ nghe pháp buồn vui hỗn độn mới nên vì nói pháp.

Luận Trí Độ
Bồ-tát biết chỗ sở tác của chúng sanh, biết nhơn duyên, biết tâm hành, và biết ưa thích của chúng mà nói pháp: Với kẻ tham dục nhiều, nên nói pháp bất tịnh; với kẻ giận dữ nhiều, nên nói pháp đại-từ, với kẻ ngu si nhiều nên nói pháp siêng năng, quan sát các pháp; với kẻ ba món độc đều nhiều, nên dạy khiến thành tựu pháp môn trí huệ; với kẻ ưa vui sanh tử, nói pháp ba món khổ; với kẻ đắm chấp các thứ “có” nói pháp “không tịch” ; với kẻ lười nhác, nói pháp đại tinh tấn; với kẻ ôm lòng ngạo mạn nói pháp bình đẳng, với kẻ nhiều dua dọc, nói pháp Bồ-tát tâm; với kẻ tâm tánh chất-trực mà ưa vắng lặng, nên rộng vì nói các pháp khiến họ thành tựu Đạo quả.
Kinh Hoa Nghiêm

Đức Phật bảo các đệ tử rằng: “Cũng như thợ vàng, lấy các thứ vàng, tùy ý muốn tạo thành các thứ trang điểm: Như chuỗi anh-lạc, vòng, thoa, kiền mão v.v… hình tướng tuy khác nhau nhưng chẳng ngoài vàng mà có.

Đức Như-Lai cũng thế, chỉ lấy một Phật Đạo tùy thuận chúng sanh, mà Phân biệt nói ra nhiều pháp. Như một thức phân biệt nói có sáu: Một sắc phân biệt nói thành sáu; vì muốn giáo hóa chúng sanh nên phải phân biệt vậy.
Kinh Niết-Bàn

Tại thành Tì-Đa-Ly, có ông cư-sĩ tên Duy-Ma-Cật. Ông giỏi biện tài, có thần thông trí huệ đầy đủ, phương tiện thông suốt, trọn thành đại-nguyện.
Vì hiểu rõ tâm xu hướng của chúng sanh, nên có thể phân biệt căn cơ lanh chậm. Ông vì mục đích muốn độ người nên mới dùng phương tiên ăn ở trong thành giàu có của cải vô-lượng, thường giúp các dân nghèo. Ông phụng trì giới cấm mà chẳng hủy phạm; thủ chí nhẫn nhục mà chẳng giận dữ, tin tiến mà chẳng biếng nhác; nhứt tâm thiền định mà chẳng loạn ý; dùng quyết định trí-huệ mà nhiếp phục kẻ vô tri.

Tuy là người tại gia mà tu luật hạnh Sa-Môn thanh-tịnh. Đọc các kinh sách ngoại Đạo mà lòng chánh tín chẳng sờn; học các sách thế gian mà ưa vui Phật-pháp.

Hay dạo đi bốn cửa thành để lợi ích chẳng chúng sanh. Vào trong giảng-đường, giảng dạy Đạo-pháp; vào trong học hiệu, dạy dỗ trẻ em; vào trong dâm xá, chỉ rõ tội lỗi dâm dục; vào trong quán rượu, dạy dùng phải lẽ.

Khi tiếp các Trưởng-giả, vì nói thẳng pháp; tiếp cư sĩ khiến dứt tham đắm; nghinh-tiếp vua chúa, giáo hóa nhẫn nhục, tiếp Bà-la-môn, khiến trừ ngã mạn; tiếp quan Đại-Thần giáo hóa chánh pháp; tiếp các Vương-tử dạy điều trung hiếu; tiếp các nội quan, diễn nói chánh pháp; tiếp xúc với thứ dân dạy nên tu phước lực… làm lợi ích chúng sanh rất nhiều.

Bấy giờ cư-sĩ mới thị-hiện bằng cách dùng phương tiện đau ốm; thế là quốc-vương, đại thần, Trưởng-giả, cư-sĩ… đều đến thăm bệnh. Nhơn đấy cư-sĩ rộng vì thuyết Đại-pháp cho các kẻ kia.

Bấy giờ Đức Phật hay tin Duy-Ma-Cật lâm bệnh, mới đòi Xá-Lợi-Phất đến bảo: “Ngươi qua thăm bệnh cư sĩ?” Xá-Lợi-Phất thưa: Tôi không dám đi, vì có một hôm nọ, lúc tôi đang ngồi thiền định dưới cội đại thọ trong rừng, chợt cư sĩ đến bên tôi thình lình bảo: “Xá-Lợi-Phất, hà tất phải phải ngồi thiền định nơi đây; lẽ phải ngồi thiền định cả Tam giới mà chẳng hiện thân ý; chẳng khởi diệt-tận-định mà hiện các oai nghi; chẳng bỏ Đạo-pháp mà hiện sư việc phàm phu; đối với các kiến chấp chẳng bị lay động mà tu 37 phẩm trợ Đạo; chẳng dứt phiền não mà vào Niết Bàn. Làm được các việc như trên mới chính là ngồi yên trên Tòa mà thiền định.”
Thưa Thế Tôn, sau khi nghe Ông nói, tôi không thể đáp được một câu, cho nên nay tôi không dám qua thăm bệnh.”

Đức Phật cho dời các Ông: Mục-Kiền-Liên Ca Diếp, Tu-Bồ-Đề, Phú-Lâu-Na, Ca-Chiên-Diên, A-Na-Luật, Ưu-Bà-Ly, La-Hầu-La và A-Nan là 10 vị đại đệ tử cũng đều từ thác: “Bất kham” vì đều đã bị những trường hợp tương tợ như Xá-Lợi-Phất.

Đức Phật lại cho mời ngài Di-Lặc đến, thì Di-Lặc vẫn từ rằng: “Tôi cũng bất kham. Vì ngày trước, lúc tôi mới nói ba bậc bất thối chuyển thì cư sĩ Duy-Ma-Cật đến bảo: “Tôi vừa nghe Ngài được Đức Phật thọ ký cho sẽ làm Phật. Vậy Ngài sẽ làm Phật vào đời nào? Quá khứ, vị lai hay hiện tại chăng? Xét ra quá khứ qua rồi, vị lai chưa đến, mà hiện tại thì chẳng trụ; như vậy ba đời đèu tìm chẳng được. Hoặc là thọ cho vô sanh chăng? Nhưng vô sanh là chính vị, mà đã chính vị là trung-ương thì đâu còn có thọ ký gì nữa? Hay là như tánh mà thọ ký chăng? Lại cũng không được, vì tất cả chúng sanh đều như tánh, cho nên khi Ngài được thọ ký thì tất cả chúng sanh cũng được thọ ký; tại sao? Vì tất cả chúng sanh là tướng Bồ Đề vậy. Nếu Ngài được Niết Bàn, thì tất cả chúng sanh cũng được Niết Bàn; tại sao? Vì tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng là tướng Niết Bàn, mà tướng ấy là bất sanh bất diệt rồi vậy.” Sau khi nghe ông thuyết một hồi, tôi cũng chẳng đối đáp gì được ráo. Cho nên tôi cũng bất kham.”

Bấy giờ Đức Phật cho đòi Ngài Văn-Thù Sư-Lợi đến và bảo thay Ngài đi qua thăm bệnh cư sĩ. Thì cả Đại chúng đều nghĩ rằng: Nay Văn Thù Sư Lợi cùng Duy-Ma-Cật gặp nhau chắc hai Đại-Sĩ sẽ đàm luận đạo pháp nhiệm mầu. Thế là cả Đại-chúng tùy tòng với Văn-Thù mà vào thành Tỳ-Da-Ly.

Thì cư-sĩ đã biết trước ngài Văn-Thù Sư Lợi thừa lệnh Đức Phật sẽ đến thăm mình, nên ông cho những người nhà và thị giả đều lui hết; trong nhà trống trơn chẳng còn một vật gì cả, chỉ còn một chiếc giường đủ ông nằm thôi.
Cư-sĩ vừa thấy ngài Văn-Thù liền nói:” Văn-Thù Sư-Lợi! Là tướng chẳng đến mà đến, tướng chẳng thấy mà thấy.”

Ngài Văn-Thù nói: “Cư-sĩ! Đến rồi thì chẳng đến, đi rồi lại chẳng đi. Rồi nhập đề: Cư-sĩ! Bị bệnh chi, có dễ chịu không? Bệnh tăng hay giảm? Đó là lời ân cần của đức Thế Tôn gởi thăm Cư-sĩ.” Và hỏi tiếp: Vậy chớ bệnh của Cư-sĩ do đâu mà sanh?

Đáp: Bệnh tôi do ái mà sanh, vì tất cả chúng sanh bệnh nên tôi mới bệnh; nếu tất cả chúng sanh không bệnh thì bệnh tôi cũng lành. Xin mời Ngài xem: Bồ-tát chẳng phải vì chúng sanh mà vào sanh tử? Mà hễ ai vào sanh tử là phải bị tật bệnh. Nhưng, nếu chúng sanh không bệnh, Bồ-tát cũng không tật bệnh gì. Ví như Trưởng-giả có một chút con trai, mà cậu con bị bệnh, thời ông bà Trưởng-giả kia cũng bị bệnh theo. Bệnh của Bồ-tát là bởi lòng từ-bi mới sanh.
Kinh Duy-Ma-Cật

Bồ-tát thường hay tu phương tiện thắng trí mà biết được tâm của chúng sanh ưa muốn những gì, rồi tùy theo bệnh mà cho thuốc diệt trừ hết các bệnh nghĩa là khiến chúng sanh thông suốt Phật pháp , gọi là phương tiện Ba-la-mật. Vì muốn khiến chúng sanh được lợi ích, nên chẳng tiếc thân mạng, gọi là thân cận ba-la-mật. Vì các chúng sanh nên đối với kẻ oán người thân bình đẳng nói pháp mầu nhiệm, khiến vào Phật trí, gọi là chơn thật ba-la-mật ai trọn nên ba món sau đây, thì mới gọi là thành tựu thiện xảo ba-la-mật (ba-la-mật là nghĩa rốt ráo).
*
Dùng sức chánh-trí có thể hiểu rõ tâm; hành thiện, ác của chúng sanh mà vì nói pháp tương-ưng khiến vào nghĩa sâu xa mầu nhiệm, an trụ Niết Bàn rốt ráo, gọi là lực ba-la-mật. Dầu hy sinh thân sống vì mục đích lợi lạc chúng sanh, gọi là thân cận ba-la-mật. Đem sức Diệu-trí mà giáo hóa chúng sanh tà kiến, khiến dứt ác nghiệp, chứng quả Niết Bàn “thường lạc,” gọi là chơn thiệt ba-la-mật. Thành tựu 3 món nầy, mới là thành tựu trí lực ba-la-mật.
Kinh Bát Nhã

Bồ-tát, hoặc khi làm vị Đế-vương, lâm ngự đại-quốc, oai đức trùm khắp, danh lừng cả thiên hạ, những kẻ oán địch thảy qui thuận. Mỗi khi ra mệnh lệnh, căn cứ nơi chánh pháp. Lấy một chiếc lọng che khắp muôn phương, ai thấy chẳng phục; chẳng dùng hình phạt, lấy đức cảm hóa. Nhà vua, hoặc vì cầu chánh pháp mà thưở nay chưa từng có, nên phải gieo mình dưới hầm lửa dữ; hoặc vì muốn hộ trì Như-Lai chánh pháp, nên đem thân chịu khổ sở mà vẫn đành lòng. Hoặc lắm khi vì cầu pháp cho đến một chữ một câu mà đã hay xả thí sự giàu sang khắp cả bốn biển chẳng chút lẫn tiếc.
Kinh Hoa Nghiêm

còn tiếp
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
PHẦN III. –NHƠN QUẢ (206 – 217)
*
CHƯƠNG I
MUÔN VẬT TRONG VŨ-TRỤ

(Chương nầy hơi khó hiểu, vì đạo lý cao siêu. Lời dịch giả)

*
A. –THẬT TƯỚNG CỦA MUÔN VẬT

Gây quả là nhơn, được Quả là Quả.
Thật tướng là mẹ của các Đức Phật ba đời.
Kinh Bát Nhã

Nầy các thiện-nam-tử ! Bồ-tát trụ đạo mới thấy chơn nghĩa các pháp, chơn như ấy là chơn vậy. Mà thật nghĩa là in như hư-không tức chân như. Chơn-như là tự mình thân chứng bên trong, chớ chẳng phải dùng văn tự mà có thể phô bày được. Tại sao? Vì nó siêu vượt tất cả văn thư ngôn thuyết và những lời nói vô nghĩa vậy. Nó xa lìa các tướng ra vào, phân biệt, xa lìa các cảnh giới tà ma và phiền não. Tự tính yên-lặng, nên không nhơ, và không thấm nhơ, rất trong sạch mầu nhiệm hơn hết. Thường trú bất động chẳng hoại diệt; nếu các Đức Phật có ra đời hoặc không ra đời nó vẫn thường-trú mà chẳng biến đổi.
Này các Bồ-tát, vì muốn làm lợi ích cho các thiện-nam-tử, nên mới đem sức dũng mãnh tinh tiến mà chứng lấy vậy thôi; nên mới có nhiều tên gọi sai khác là: Chơn như, thật tướng, nhất thế trí, nhất thế chủng-trí và bất-khả tư-nghì v.v… Cho nên chúng ta nhờ dùng trí-huệ nghe, hoặc suy nghĩ chớ chưa được khéo chứng.

Ví như có người, gặp mùa nóng bức mà đang đi giữa đồng nội; người nầy từ Đông đi qua Tây; lại có người khác từ Tây đi qua Đông. Người qua Tây vì khát nước rất ngặt, gặp người từ Đông qua liền hỏi thăm nước để uống. Người từ Đông qua đáp: “Cách đây chẳng xa có một suối nước, tôi mới vừa uống, từ đây qua đó, giữa đường có hai đường tẻ, anh nên tẻ qua đưỡng bên hữu, mà đừng đi đường bên tả, thời anh sẽ thấy trên quả núi có đám rừng xanh biếc; trong đám rừng ấy có một suối nước mát mẽ, có thể giải-khát cho anh.”
Nầy các thiện-nam-tử ! Người kia bị nắng nóng và khát nước khó chịu lắm, nhưng nhờ nghe được tên nước mà có thể chữa được bệnh khát nước. Người bị khổ khát nước ấy, trong thân sẳn có nước thanh tịnh, nhiên hậu mới trừ được bịnh nóng và khát. Cũng như chỉ nghe và suy nghĩ như thế, chớ chẳng phải đã chứng được chơn-như.
Kinh Bảo-Võ

Tâm chơn như là bản thể đại-tổng tướng pháp-môn của nhất pháp-giới vậy. Có chỗ đã gọi là tâm tánh chẳng sanh chẳng diệt, cả thảy các pháp chỉ do vọng-niệm mà có sai khác. Nếu xa lìa vọng niệm thời không có tướng sai khác của tất cả các cảnh giới. Cho nên tất cả cảc pháp từ hồi nào đến giờ, xa tướng nói phô, lìa tướng danh tự và xa lìa các tướng tâm duyên rốt ráo bình đẳng không có biến đổi sai khác, không thể phá hoại; duy chỉ nhất tâm, nên gọi là chơn-như.

Bởi vì tất cả lời nói phô là giả danh chứ không thật, chỉ tùy theo vọng niệm, chứ chẳng khá được vậy. Mà nói là chơn như cũng không có tướng, nghĩa là cùng tột của lời nói vậy thôi; bởi vì đem lời nói để khiển trừ lời nói, mà bản thể của chơn như không thể khiển trừ được, vì tất cả pháp đều là “chơn”, và cũng không thể thành lập được, vì tất cả pháp đều là ‘như”.
Cho nên phải biết, tất cả pháp chẳng khá nói, chẳng khá nghĩ, cho nên gọi là chơn-như.
Có lời hỏi: Nếu như các nghĩa vừa nói trên, thì các chúng sanh làm sao “thuận theo” mà có thể “chứng vào” được?

Đáp: Nếu biết tất cả pháp, tuy nói mà không có pháp hay nói và bị nói; tuy nghĩ mà cũng không có pháp hay nghĩ và bị nghĩ. Ấy là thuận theo, nghĩa là nếu xa lìa được vọng niệm gọi là được chứng vào.
Lại nữa: Chơn-như mà nương theo sự phân biệt do lời nói phô thì có hai nghĩa: Một là như-thật-không, vì hay hiện-thật rốt ráo vậy; hai là như-thật bất không, vì tự thể có đầy đủ tánh-công đức vô lậy vậy.

Nói rằng: “Như-thật-không” là từ hồi nào đến giờ, nó chẳng tương-ưng với tất cả các pháp ô-nhiễm nghĩa là xa lìa tướng sai khác của tất cả pháp, bởi vì nó không có tâm niệm hư-vọng vậy.

Và phải biết: Tự-tánh của chơn-như, chẳng phải có tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải chẳng có tướng, chẳng phải chẳng không tướng; chẳng phải tướng có không chung lại. Chẳng phải nhất-tướng, chẳng phải dị tướng; chẳng phải chẳng nhất-tướng, chẳng phải chẳng dị tướng; và cho đến nói tóm tắt.

Bởi tất cả chúng sanh đem vọng tâm-mỗi niệm phân biệt đều chẳng tương ưng, cho nên nói là “không”. Nếu rời vọng tâm, thật không thể nói là “không” vậy.
Còn nói rằng: “Bất-không” là vì đã hiển hiện pháp thể, thời không còn vọng tâm, tức là chơn-như, thường hằng chẳng biến đổi, các pháp trong sạch đầy đủ, nên gọi là ‘bất không”. Cũng không có tướng có thể nắm lấy được vì nó xa lìa cảnh giới tâm tướng, duy chỉ chứng được mới tương ưng mà thôi.
Luận Đại Thừa Khỉ-Tín

Tướng của các pháp như trò huyễn thuật, không có tự-tánh cũng không có tha-tánh, xưa kia tự-nhiên, nên nay chẳng diệt.
Kinh Duy-Ma-Cật

Tự tính của các pháp chẳng khác được, in như hành-dâm trong chiêm bao thảy đều hư-giả.
Kinh Bảo-Tích

Hiểu thấu các thế gian, giả-danh không có thật, chúng sanh và thế gian, như chiêm bao, ánh sáng.
Kinh Hoa Nghiêm

Rõ biết các thế gian, như ánh nắng, ánh sáng, như tiếng vang và mộng, như trò huyển và biến hóa.
Kinh Hoa Nghiêm

Đức Phật dạy ngài Đức-Bổn rằng: Nầy Đức Bổn ! Các pháp ước lược có 3 món: Một là các pháp đều giả danh mà an lập, tùy theo mà khởi ra lời nói, là tướng chấp đắm của chúng sanh; hai là tất cả pháp do nhơn-duyên sanh, nghĩa là do vô minh duyên sanh ra hành, cho đến duyên cuối cùng là nhóm họp một đống đại khổ; ba là hiện ra tướng trạng tuy có sai khác, nhưng bản tính của tất cả pháp ấy thảy đều bình-đẳng chơn-như. Biết được bản tính của các pháp như vậy, thời quay về lại bản tính.

Ví như có người mắt bị bệnh mù lòa, dụ cho món thứ nhất; như người mù lòa ấy, thấy các tướng hiện ra sai khác hoặc xanh vàng đỏ, trắng, dụ cho món thứ hai; như khi người ấy trừ được bệnh mù lòa, mắt được trong sáng, biết được bản tính, là dụ cho món thứ ba.
Kinh Giải-Thâm-Mật

Các pháp do nhơn duyên sanh khởi, không có tự-tính, vì không có tự-tính, tức là rốt ráo “không”; cái rốt ráo “không” ấy, từ hồi nào đến giờ vẫn là “không”, chớ chẳng phải Phật hay người nào làm cho nó mới bị “không”.
Luận Trí Độ

Các pháp chẳng phải có, cũng chẳng phải không, vì do nhơn-duyên phát khởi các pháp vậy.
Kinh Duy-Ma-Cật

Bồ-tát dùng chánh niệm mà quan sát các pháp trong thế gian đều bởi nghiệp-duyên mới có, và quan sát tất cả pháp đều do nhơn-duyên mà phát khởi, không có sanh cho nên không có diệt.
Kinh Hoa Nghiêm

Đức Phật dạy: Tự-tính của các pháp xưa này vắng lặng, là tư-tánh Niết-Bàn; vì Niết Bàn nên chẳng nhận được tự-tính, nên nói là không có tự-tính. Vì chấp đắm các pháp là có, nên mới có tướng chúng sanh, chỉ là giả danh mà không thật có.

Lại nữa, các pháp do nhơn-duyên mới được thành lập, thế thì giả-dối là có; mà chơn thật thời không.

Lại nữa: bản tính của các pháp, chẳng khá nghe, không sanh cũng không diệt.
Kinh Giải-Thâm-Mật

Các Đức Phật Như-Lai đã chứng được pháp tính, pháp ấy, pháp nào an-trụ vị-trí pháp nấy; Như-Lai có ra đời hay không ra đời, pháp ấy vẫn thường trú mà chẳng biến đổi.
Kinh Lăng-Già

Nầy các Phật-tử ! Tướng chơn thật của các pháp là không có tướng, vì chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn; chẳng một chẳng khác; chẳng đến và chẳng đi.
Kinh Phạm Võng

Tất cả chúng sanh đều “Như”, tất cả các pháp đều “Như,” các bậc Hiền-Thánh cũng đều “Như”, cho đến Ngài Di-Lặc cũng là “Như” vậy.
Kinh Duy-Ma-Cật

Tất cả các pháp đều “Như”, tất cả cảnh giới các Đức Phật cũng vậy, cho đến không có một pháp nào ở trong “Như” mà có sanh diệt; nhưng vì chúng sanh vọng phân biệt, nên mới có Phật, và thế-giới. Nếu hiểu thấu pháp-tính thời không có Phật và thế-giới.
Kinh Hoa Nghiêm

Tất cả pháp-tính thường vắng lặng, không một pháp nào năng tạo tác.
Kinh Hoa Nghiêm

Pháp-giới tức là Như-Lai, vì đấy là chơn thân Như-Lai vậy.
Kinh Tối Thắng-Vương

Bấy giờ Ngài Đại-Trang-Nghiệm Bồ-tát và tám muôn các vị Đại Bồ-tát vừa nói xong bài kệ khen Phật, và đồng thanh thưa Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Cả tám muôn Bồ-tát chúng tôi nay đối trong chánh pháp của Như-Lai có điều muốn thưa hỏi, vậy chẳng biết Thế-Tôn có dũ lòng thương xót mà cho phép chăng?
Đức Phật bảo Ngài Đại-Trang-Nghiêm và tám muôn Đại Bồ-tát rằng: Hay thay ! Hay thay ! Các thiện-nam-tử, các ngươi khéo biết nhằm thời, mặc ý các ngươi muốn hỏi gì cứ hỏi: Như-Lai chẳng còn bao lâu nữa sẽ vào Niết-Bàn. Sau khi ta vào Niết-Bàn khiến mọi chúng sanh không còn nghi ngờ gì nữa. Các ngươi muốn hỏi điều chi, thì nên hỏi ngay.

Liền khi ấy, Ngài Đại-Trang-Nghiêm cùng tám muôn Bồ-tát tức thì đồng thanh mà thưa Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Đại Bồ-tát muốn được mau trọn nên quả Chánh-Đẳng Chánh-giác cao tột, cần nên tu hành những pháp môn nào? Và những pháp môn nào có năng lực khiến các Đại Bồ-tát mau chứng được quả cao tột ấy.

Đức Phật bảo Đại-Trang-Nghiêm Bồ-tát và tám muôn Bồ-tát rằng: Các thiện-nam-tử ! Có một pháp môn khiến Bồ-tát mau chứng được quả Chánh-Đẳng Chánh-giác cao tột; nếu Bồ-tát nào học được pháp-môn ấy thì chắc mau được chứng quả cao-tột kia.

Các Bồ-tát thưa: Bạch Đức Thế Tôn ! Pháp-môn ấy danh tự gì? Nghĩa nó thế nào và Bồ-tát làm sao tu học?

Phật dạy: Các thiện-nam-tử ! Pháp-môn ấy gọi là “Vô lượng nghĩa”. Bồ-tát muốn được tu học pháp Vô lượng nghĩa, cần phải quan sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tính, tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, chẳng trụ chẳng động, chẳng tiến chẳng thoái; in như hư-không, không có hai thứ. Mà các chúng sanh luống dối quấy chấp: Là đây là kia, gây các ác nghiệp; do đó bị trôi lăn trong sáu thú chịu bao khổ sở, vô lượng ức kiếp, không thể tự ra khỏi. Các đại Bồ-tát quan sát kỹ càng như thế, mới sanh lòng thương xót, phát tâm đại từ-bi mà cứu vớt chúng sanh.

Lại nữa: Phải quan sát sâu vào trong tất cả các pháp; pháp nầy tướng như thế, nên “Sanh” pháp như thế; pháp nầy tướng như thế nên “Trụ” pháp như thế; pháp nầy tướng như thế, nên “Dị” pháp như thế; pháp nầy tướng như thế, nên “Diệt” pháp như thế.

Pháp nầy tướng như thế, hay “Sanh” ác pháp; pháp nầy tướng như thế, hay “Sanh” thiện pháp. “Trụ, Dị, Diệt” cũng đều quan sát như thế.

Bồ-tát quan sát đầu đuôi của bốn tướng như thế, hiểu biết tường tận khắp cả rồi mới lần lữa quan sát kỹ càng, tất cả các pháp, từng mỗi niệm, chẳng đứng dừng, mới mới luôn, vì sanh diệt; và lại quan sát: Chính đang lúc sanh diết ấy vẫn gồm đủ sanh, trụ, dị, diệt đủ bốn tướng.

Quan sát như thế rồi, mới quan sát sâu vào tính-dục của các căn cơ chúng sanh; vì tính-dục nhiều vô lượng nên nói pháp cũng phải nhiều vô lượng; vì nói pháp nhiều vô lượng thời nghĩa cũng nhiều vô lượng là từ “một pháp” mà sanh ra; một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Vô tướng như thế, là vô tướng tức bất tướng, bất tướng tức vô tướng, gọi là thật tướng.
Kinh Vô Lượng Nghĩa.

Đức Thế Tôn từ trong chánh-định quang minh xuất định và thong thả đứng dậy rồi bảo Ngài Xá-Lợi-Phất rằng: Trí huệ của các Đức Phật sâu thẳm không lường được, cửa trí huệ ấy khó hiểu khó vào, nên tất cả hàng Thanh-văn và Bích-Chi Phật không thể biết được. Ta đã từng gần gũi cúng dường các Đức Phật nhiều vô số trăm ngàn vạn ức, và tu hết đạo pháp của các Đức Phật nhiều vô lượng, cho nên danh tiếng mạnh mẽ tinh tấn được đồn khắp, và trọn nên pháp thẳm sâu chưa từng có, tùy theo căn cơ mà nói pháp, ý thú rất khó hiểu.

Nầy Xá-Lợi-Phất ! Ta từ khi thành Phật đến nay, đã dùng các món nhơn-duyên, thí dụ để rộng diễn nói giáo pháp, và dùng vô số phương tiện khéo léo để dắt dẫn chúng sanh, khiến xa lìa các chấp trước, ấy là Như-Lai đầy đủ phương tiện tri-kiến rốt ráo vậy.

Nầy Xá-Lợi-Phất ! Tri-kiến của Như-Lai rộng lớn sâu xa, thiền định, giải thoát vô-lượng, vô ngại, và sức vô-sở-úy quan sát sâu vào các pháp không ngằn mé, trọn nên tất cả các pháp chưa từng có.

Nầy Xá-Lợi-Phất ! Như-Lai hay dùng nhiều môn phân biệt khéo léo mà nói pháp, lời lẽ êm dịu, để cho những kẻ nghe ưa thích. Nầy Xá-Lợi-Phất ! Phật thảy đều trọn nên ngần ấy pháp chưa từng có, nhiều vô-lượng vô-biên. Nhưng thôi, Ta chẳng cần nói nữa. Những pháp mà Phật đã trọn nên là hiếm có và khó hiểu đệ nhứt, duy Phật với Phật mới có thể cùng tột thật tướng của các pháp. Gọi là thật tướng là hành tướng các pháp như thế, tự tính như thế, bản thể như thế, năng lực như thế, tác dụng như thế, chánh nhơn như thế, trợ duyên như thế, và trước sau rốt ráo vẫn như thế.
Kinh Pháp Hoa
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
B. –MUÔN VẬT SANH KHỞI (217-221)

Tâm sanh diệt ấy, là vì nương Như-Lai-tạng nên có tâm sanh diệt; có chỗ nói: Bất sanh bất diệt, hòa hiệp với sanh diệt, chẳng phải một, chẳng phải khác, gọi đó là thức a-lại-da. Thức nầy có hai nghĩa hay thu nhận tất cả các pháp, và hay sanh ra tất cả các pháp. Nhưng hai nghĩa gì? Một là nghĩa giác, nghĩa là bản thể của tâm xa lìa tưởng niệm; xa lìa tưởng niệm ấy, là như cõi hư không, không chỗ nào chẳng khắp, pháp giới nhất-tướng tức là Như-Lai bình-đẳng pháp thân vậy. Còn nghĩa bất giác ấy, là vì chẳng như-thật-tri chơn-như bất pháp vậy. Nên sanh khởi tâm bất giác mà có ra niệm; niệm ấy không có tự tướng, vì chẳng lìa bản-giác; giống như người mê đường vì nương theo phương hướng nên mới có mê, nếu lìa phương hướng thời không có mê. Chúng sanh cũng thế, nương nơi “giác”nên mới có “mê”, nếu lìa giác tính thời không có bất giác. Vì có tâm bất giác vọng tưởng, nên mới hay biết danh nghĩa, gọi là chơn-giác. Nếu lìa tâm bất-giác thời không có tự tướng của chơn-giác mà khác nói.
Luận Đại Thừa Khởi-Tín

Trong Phật pháp của Ta lấy tâm làm chủ, tất cả các pháp đều do tâm sanh.
Kinh Tâm-Địa Quán

Tâm, như kẻ họa-sĩ, có thể họa các thế gian, năm món uẩn đều sanh. Nếu người tâm hành thời khắp biết tạo các thế gian, người ấy sẽ thấy Phật, vì hiểu rõ Phật chơn-thật tính vậy. Tại sao thế? Vì tâm, Phật và chúng sanh ba pháp ấy không sai khác. Nếu ai muốn biết rõ các Đức Phật ba đời nên quan sát pháp-giới tánh, tất cả chỉ tâm tạo.
Kinh Hoa Nghiêm

Đối tất cả pháp, tâm là kẻ dẫn đường; nếu biết được tâm là đều biết các pháp. Các món thế-pháp đều do tâm tạo.
Kinh Bát Nhã

Rõ thấu ba cõi do tâm, 12 pháp nhơn duyện cũng như thế. Sanh tử đều do tâm gây nên, nếu dứt được tâm thời sanh tử liền hết.
Kinh Hoa Nghiêm

Nước biển bị gió động, sóng-mòi không dừng nghỉ; khi gió-cảnh thổi đến, sống-thức liền sanh ngay. Như nước biển đổi gió, như đất không sai khác, vật ngăn che có khác, tạng-thức cũng như thế. Nội-tâm hiệu cảnh-giới, lại duyên lấy nội-tâm.
Kinh Mật-Nghiêm

Trên núi Tuyết-sơn có con ác thú, mỗi khi nó thấy trâu thì hiện hình trâu mà hại trâu ăn thịt, hay thấy ngựa dê cũng thế. Những kẻ tà đạo cũng vậy, họ đối với thức a-lại-da sanh lòng chấp “ta”; nương theo chỗ chấp đắm của mỗi người đều có sai khác.
Kẻ tà đạo chẳng biết đạo lý duy-thức, rồi sanh ra chấp cái “ta”, rồi gắng gượng phân biệt cho là có ta, hoặc cho không ta; hoặc cho là một cái ta, hay là nhiều cái ta. Còn những người tu quán-hạnh đối với “thức” thanh trừ chấp ta. Hành-giả tự tư tập và khuyên người khác cũng tu tập.
Kinh Mật-Nghiêm

Đức Phật hỏi ngài Văn-Thù rằng: Nầy Văn-Thù Sư Lợi! Địa ngục do tự mình phân biệt mà có hay tự nhiên mà sanh ra?
Ngài Văn-Thù đáp: Bạch Thế Tôn! Địa ngục mà có là do nương theo sự luống dối phân biệt của kẻ phàm phu; súc-sanh hay ngạ quỉ cũng thế. Chớ như trước mắt tôi đâu có địa-ngục và khổ. Ví như người chiêm bao thấy mình bị đọa địa ngục, thân đang chịu khổ trong chảo nước sôi, buồn rầu rất đỗi, hãi sợ la to rằng: “Khổ thay”. Bấy giờ người nhà chẳng hiểu vì việc chi mà người ấy la khổ.
Kinh Đại-Pháp-Cự Đà-La-Ni

Tâm lấy địa ngục, lấy ngạ-quỉ, tâm lấy súc sanh, và tâm lấy trời, người. Hễ có các hình mạo đều do tâm gây nên. Ai có thể uốn dẹp được tâm, kẻ ấy rất nhiều sức mạnh.
Ta đã phấn đấu với tâm, nhiều kiếp đến vô số, nay mới thành Phật, chỉ một mình ta ra khõi ba cõi.
Kinh Ngũ-Khồ Chương Cú

Ngài Thiện-Hiện hỏi Đức Phật rằng: Phật trước có nói: Như chiêm bao, như hình tượng, như tiếng vang, như ánh sáng, như ánh nắng, như huyển thuật, như đô thành tầm-hương (giả hiện chẳng thiệt) như việc biến hóa. Những các pháp ấy không có thật sự, vì nó đều lấy vô-tiúnh làm tự-tính. Nhưng làm sao lại được thành các pháp sai khác: Nào là lành dữ, nào là hữu-lậu vô-lậu, nào là thế gian, xuất-thế-gian, nào là hũu-vi vô vi?

Đức Phật đáp rằng: Nầy Thiện Hiện! Chúng sanh trong thế gian, chẳng biết như chiêm bao, như hình tượng, như tiếng vang, như ánh sáng, như ánh nắng, nó cũng chẳng biết như trò huyển, như đô thành tầm-hương và chẳng biết như việc biến hóa. Cho nên mới điên-đả chấp đắm, rồi do thân, ngữ, ý gây ra những hành nghiệp lành, chẳng lành, phước, chẳng phước và nghiệp bất-động; cho nên mới có sai khác, chớ kỳ thật không có sai khác
Kinh Bát Nhã
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
CHƯƠNG II
CHÚNG SANH


A. –VÔ THƯỜNG (222-245)

Đức Phật dạy: Phật xuất hiện quý như hoa Đàm, gặp Phật sanh lòng tin là rất khó; Phật lâm Niết Bàn, cúng dường đầy đủ pháp bố-thí lại càng khó hơn. Bài kệ rằng:
Tất cả các thế gian, vật sống đều phải chết. Thọ mạng tuy rất nhiều, rốt cuộc quyết phải hết. Lúc thịnh dần đến suy, hội hop quyết biệt ly, hoa-niên được bao lâu, thịnh sắc bị bệnh cướp. Các khổ chạy vòng tròn, trôi lăn không chú nghỉ, ba cõi đều vô thường. Các cõi đâu có vui!
Kinh Niết-Bàn

Ba cõi không yên, in như nhà lửa, các khổ đầy nhẩy, rất là đáng sợ.
Kinh Pháp Hoa

Ba cõi đều là khổ, thì quốc độ nương nhờ đâu mà còn.
Kinh Nhơn-Vương

Có năm vị Quốc vương, quốc gia gần nhau việc bang giao qua lại rất là thân mật, chẳng hề gây hấn với nhau.
Vị Quốc vương đàn anh tên là Phổ-An. Việc trị nước của vua Phổ-An rất là minh chánh, mà bốn vị kia lại theo tà đạo.
Có một hôm, năm vị mở một yến hội bảy ngày, ca hát, đàn nhạc đủ thứ vui thú dục-lạc. Khi mãn hội, ai sắp về nước nấy. bấy giờ vua Phổ-An đích thân tiễn chân bốn vị kia ra trước hoàng-môn và hỏi rằng: “các bạn ưa thích những lạc thú gì, nói cho ta nghe thử?” Các vua tuần tự trình bày:
Vua thứ nhứt đáp: Tôi thích mùa xuân ba tháng, cỏ hoa tươi thắm, dạo mà thưởng thức, thích thú biết bao.
Vua thứ hai đáp: Tôi thích được làm vua lâu đài, mỗi khi lâm triều, mặc triều-phục cho oai, ngự giữa điện rồng, lầu các; bá quan thần dân hầu hạ hai bên; tiếng chuông trống ngân rền, cờ xí đôi hàng rực rỡ.
Vua thứ ba đáp: Tôi lại thích vợ đẹp vô song, con xinh như ngọc, cùng nhau mà hưởng cảnh vui thú sang giàu.
Ông Vua thứ tư đáp: Tôi muốn cha mẹ tôi được trường-thọ bách-niên, vợ con sum họp, anh em đông nhiều; mặc những áo đẹp, ăn những vật ngon, và cùng nhau chung hưởng vui đời cho khoái.
Đoạn bốn vua đồng thanh bảo lại: “Chúng tôi đã trình bày xong, thì Đại vương cũng nên tỏ sở thích của mình cho an hem tôi nghe với chớ?”.

Phổ-An thong thả góp: Những sở thích mà các bạn vừa trình-bày đều chẳng phải thú vui vĩnh-viễn. Riêng tôi, tôi chỉ thích cái vui: chẳng sanh, chẳng tử, chẳng khổ, chẳng não, chẳng lạnh, chẳng nóng.
Bốn vua kia lấy làm quái lạ đồng thanh khen và hỏi dồn: Hay quá. Vậy chớ ai dạy những điều ấy cho Đại-vương và vị ấy hiện ở đâu?
Phổ-An đáp: Đức Thế-Tôn hiện giờ Ngài đang ngự tại Tịnh-xá Kỳ-viên.
Bốn vua kia nói: Vậy chúng tôi có thể yết-kiến Ngài được không ?
Phổ-An đáp: Được chớ, quí lắm đấy. Thế là năm vua đồng đi đến Tịnh-xá Kỳ-viên để ra mắt Đức Phật.

Sau hồi năm vua hành lễ và thưa thỉnh xong, lui về chỗ ngồi an tọa, Đức Phật mới bắt đầu thuyết:
Này các Đại-Vương lắng nghe! vì người đời ngu ám không có chánh trí nên nhiều kẻ say mê vui đời mà chẳng hề biết tội phước là gì cả, cho nên bị khổ. Những khổ của đời quá nhiều mà gọn lại chỉ còn 8 thứ: 1) sanh, 2) già, 3) đau, 4) chết, 5) tình yêu ly biệt, 6) cầu mong chẳng đặng, 7) gặp kẻ oán ghét, 8) rầu lo khổ não:

1) Những khổ về sanh: người chết rồi thần thức chẳng biết đi về hướng nào. Sống cái thân trun-ấm với thời gian 21 ngày, gặp khi cha mẹ giao cấu liền chạy vào thai: bảy ngày ban đầu hình trạnh như chất bơ lỏng, bảy ngày thứ hai như bơ đông đặc, bảy ngày thứ ba như bơ đông cứng, bảy ngày thứ tư như lát thịt mỏng. Đến bảy ngày thứ năm mới bắt đầu hành bào thai; như gió vào trong bụng mẹ mà thổi nơi thân thể, thời sáu căn mới mở khai. Nếu mẹ ăn phải một bát đồ ăn nóng thì bào-thai như bị nằm trong chảo nước sôi, hoặc uống phải một ly nước lạnh thì như nằm trong hàng-băng, và lấn ép thân thể của mẹ, mẹ rất đau khổ. Đầy đủ tháng ngày, đứa con mới quay đầu xuống nơi sản-môn của mẹ, như hai viên đá ép, mạng mẹ nguy hiểm, lòng cha lo sợ. Ra khỏi cửa mẹ, da thân mỏng tanh, bị phải lá cỏ đụng vào thân, như bị dao cắt hoảng hốt mà thất thanh khóc lớn.

2) Những khổ về già: chịu nhờ ơn nuôi nấng của cha mẹ, lớn to mạnh mẽ, nhưng lần lữa đã già đầu bạc, răng rụng, mắt mờ, tai điếc, và sức mạnh lui dần nhường cho suy yếu hay thế. Da dùn mặt nhăn, trăm đốt xương đau nhức, bước đi cực khổ, ngồi đứng rên hừ hừ, lòng dạ lo buồn và tinh thần dần dần tiêu giảm.

3) Những khổ về đau: Thân người do bốn đại là: đất, nước, gió và lửa hiệp lại mà thành. Nếu một món chẳng điều hòa, thời phát sanh 101 bịnh, mà bốn đại không điều hòa thì 404 bịnh sanh khởi. Như địa-đại chẳng điều hòa thì thân thể nặng nề; thủy-đại chẳng điều hòa, thân thể phù thủng, hỏa-đại chẳng điều hòa thân thể nóng nảy, phong-đại chẳng điều hòa thân thể động chuyển. Cảm giác trăm đốt đau khổ: nên tay chân chẳng cử động theo ý muốn, khí lực mòn dần, ngồi mà đứng dậyphải nhờ người phò trợ. Miệng khô lưỡi thụt, mũi nghẹt, mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe, những đồ nhơ nhớp tuôn trào, rồi ngồi nằm trên ấy ! Tâm thần khổ não giọng nói bi ai, buồn thảm. Bà con đến thăm nuôi ngày đêm chăm sóc chẳng chút nghĩ ngơi; món ngon vật quí ngọt thơm, khi đưa vào miệng đều biến thành vị đắng.

4) Những khổ về chết: Thân người đến lúc sắp chết, thời 404 bịnh nhất tề phát khởi, bốn đại phân tán thần thức chẳng an, gió thổi tới như dao cắt, đau nhức toàn thân; toát mồ-hôi trắng, hai tay buông xuôi. Phong-đại tản đi là hết hơi thở; hỏa-đại đi theo là tấm thân lạnh ngắt như đồng!

5) Những khổ về tình yêu ly biệt: Trong ngoài gia-đình: cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu giòng họ yêu mến lẫn nhau: một khi bị phá hoại lư vong, mỗi người mỗi ngả: cha đông con tây, vợ nam chồng bắc, hoặc làm tôi tớ cho người, tuyệt vọng những ngày đoàn tụ !

6) Những khổ về mong cầu chẳng đặng: Của mất lại cầu. Muốn quí cầu quan, muốn sang cầu giàu, khổ cực tìm cầu đủ cách. Phỏng như cầu được quan sang rồi cũng bị mất vì lòng tham của dân cướp lấy, lại mong cầu nữa mà nào dễ được đâu !

7) Những khổ về gặp kẻ oán ghét: Con người ở trong cảnh ái dục, một việc chút xíu, cũng vẫn tranh giành, rồi do đó mà giết hại lẫn nhau, gây thành oán lớn; tuy cố tình lánh mặt nhưng không nơi tránh thoát,chỉ còn nước mạnh ai nấy mài dao, chuốt tên, giương cung, nắm gậy gặp nhau giữa đường hai bên xáp lại, dao gậy đối địch, cuối cùng tất nhiên đôi bên đều bị tổn hại, chẳng ai hơn gì.

8) Những khổ về lo rầu khổ não: Người sanh ra đời, có sống lâu lắm cũng chừng trăm năm là cùng; lắm kẻ mới vào lòng mẹ vừa bị trụt thai. Nay cú người sống đủ trăm tuổi mà luận: hết 50 năm thuộc về ban đêm, 5 năm say rượu, hoặc tật bệnh là những năm bất tri nhơn sự; 15 năm thơ ấu chẳng biết việc gì. Và qua 80 tuổi thời già ngu hết trí tuệ: tai điếc mắt mù không còn biết lễ độ phép tắc gì nữa. Và giảm kiếp 20 năm nữa, cho nên chỉ còn 10 năm mà thôi.

Trong khoảng 10 năm ấy, chỉ có lo rầu là chiếm hết phần nhiều: lo rầu thời cuộc biến loạn; lo rầu thiên thời nắng hạn, lụt bão, mưa đá, mùa màng hư mất; bà con nội ngoại đau ốm, nghèo khổ. Lại còn những nỗi nầy nữa: lo sợ của cải mất mát, người nhà và giòng họ bị bắt giam vào ngục, chẳng biết ngày nào ra khỏi, an hem vợ con đi xa… Như vậy người sống ở cõi nhơn gian chỉ có lo buồn mà phải bị già chết!
Kinh Pháp-Cú Thí-Dụ

Vua chết nuốt chúng sanh, suy già uống tuổi trẻ, bệnh đến mạnh khỏe tiêu, người thế gian không biết.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ

Tại thành Xá-Vệ có ông trưởng-giả giàu có vô song, nhưng nhà chưa có con trai. Ông lo sau khi ông qua đời của bị quan thu theo quốc pháp, nên mới phát tâm quy-y Tam bảo, thành tâm tinh tấn khẩn nguyện cầu tự. Quả nhiên toại nguyện; bà phu-nhơn mang thai, sanh hạ một con trai tướng mạo tuấn tú, tuổi vừa khôn lớn sớm lo cưới vợ.
Đôi bạn tân hôn yêu quí dắt nhau dạo rừng du ngoạn thưởng vui. Trong rừng có cây vô-ưu trên cành hoa nở từng đóa, phô bày cành nhụy màu sắc trắng bồng rất đẹp. Nàng thích quá tỏ ý với chồng muốn được thứ hoa quý ấy. Chàng liền trèo cây tức thì bị gảy vì đòn yếu, anh sa xuống chết ngay.
Cha mẹ hay tin, tức tóc chạy đến ôm lấy xác con mà khóc ngất đi hồi lâu mới tỉnh lại; rồi than khóc liên miên tổn thương tinh thần; tình cảnh như thế, ai hay mà chẳng thương lòng!
Bấy giờ vào lúc Đức Phật và ngài A-nan vào thành khất thực. Thấy việc người sa cây bị chết, ngài bảo với trưởng-giả rằng: người có sống, chết, vật có thành, bại; thời đến mạng tận không thể tránh được thế nên ngươi đừng buồn rầu than khóc chi nữa”, và ngài tiếp: “đứa con nầy từ trên trời sanh xuống nhà ngươi, rồi mạng nó tận cũng từ nhà ngươi mà lên trời. Thế thì nó chẳng phải con trời, mà cũng chẳng phải con ngươi. Nó cứ tùy theo nghiệp nhơn của nó mà sống, chết, giống như kẻ lữ hành qua đường; chết không thể tránh khỏi, đi không thể bắt lại được.
Kinh Trưởng-Giả-Tử Áo-Não Tam-Xứ

Đức Phật đang ngự tại Tịnh xá Kỳ-viên vì các đệ tử nói pháp. Khi ấy có con gái của Phạm-Chí tuổi mới độ mười lăm nhan sắc đẹp đẽ, bản tính thông minh, cha mẹ rất yêu mến; bỗng bị đau nặng và chết luôn. In như lúa chín khô trong ruộng bị lửa đồng đốt cháy. Phạm-Chí buồn rầu đến nỗi thất-ý, hoảng hốt như kẻ điên cuồng, tự không giải được.
Ông nghe đồn có Đức Phật là vị Đại-thánh làm thầy cả trời người, nên ông đến lễ bái và thưa Đức Phật rằng: “Tôi vốn hiếm hoi ít con chỉ có chút cháu gái, nó an ủi cho gia-đình tôi, nhưng chẳng may nó bị đau và chết mất; tôi thương nhớ quá đỗi, thật chẳng biết làm sao được, cúi xin đức Thế-Tôn dủ lòng thương xót mà dạy cho tôi bớt nỗi rầu rĩ.”
Đức Phật bảo Phạm-Chí rằng: “ Này Phạm-Chí! đời có 4 việc không thể vĩnh cửu được:
1) Hữu thường phải vô thường
2) Phú quí phải bần tiện
3) Hội hiệp phải biệt ly
4) Mạnh bạo quyết già chết.
Rồi Ngài tóm tắt: Thường phải hết, cao phải thấp, hội phải ly, sống phải chết. Phạm Chí nghe xong, tâm liền khai mở, tức thì phát nguyện xin Phật làm Tỳ-kheo, tự cạo râu tóc, thành vị Tỳ-kheo, chuyên tu pháp vô-thường chứng A-La-Hán.
Kinh Pháp-Cú Thí-Dụ

Xưa có một bà già, chỉ có một cậu con trai, chẳng may bị bịnh rồi chết luôn. Bà con đem thây chôn vào mả. Bà già thương buồn quá đỗi! và tủi phận: Ta chỉ có một mình con để nhờ vào lúc tuổi già, mà con nay bỏ mẹ chết đi sao! Rồi bà nằm luôn tại mả con tính chết theo con bằng cách tuyệt thực đã bốn năm ngày rồi.
Đức Phật quán biết động lòng thương, liền đến gò mả hỏi bà già kia rằng: người nằm chi đây, sao buồn thảm thế”. Bà già kể lể: “Thưa Ngài, đời tôi chỉ có chút con trai, đã lớn khôn, nay nó bỏ tôi mà chết: tôi thương nó quá, muốn chết một chỗ với nó cho rồi cái đời bất hạnh nầy.” Đức Phật hỏi: “Ngươi muốn con ngươi sống lại không?" Thưa Ngài muốn lắm.

Đức Phật nói: muốn là phải. Ta vẽ cho ngươi làm như vầy: Ngươi đến nhà nào, từ xưa nay chẳng có người chết xin chút lửa nhang đem về đây. Ta sẽ làm phép nó sống lại cho. Bà già nghe lời làm theo. Đi đến đâu, hễ gặp nhà người thì liền hỏi trước: nhà của ngươi từ trước đến nay đã có người nào chết chưa? Thì người ta đều đáp rằng: từ trước đến nay tổ tiên tôi đã chết nhiều lớp rồi. Bà cứ như thế đi qua vài mươi nhà mà chẳng được lửa nhang.
Bà trở về chỗ Phật thưa rằng: Tôi đi khắp nơi mà xin không được lửa, vì không có nhà nào mà không có người đã chết, cho nên tôi đành về không.
Đức Phật nói: Từ ngày có trời đất đến nay ai sống lại chẳng bị chết, sao ngươi mê muội lắm vậy. Lại còn muốn chết theo con là nghĩa làm sao? Bà lão nghe nói mới tỉnh ngộ lý vô thường mà liền được vào Đạo.
Kinh Tạp Thí Dụ

Người đời hèn kém, tranh giành nhau những việc chẳng phải gấp, rồi đối với những việc kịch liệt khổ ác nầy mà đem thân kinh doanh mọi việc để mưu cầu tự cấp tế cho mình. Do đó mà không còn có kẻ sang người hèn, kẻ giài người nghèo, lớn nhỏ trai gái đua lo tiền của; rốt cuộc kẻ có người không cùng nhau là khổ rồi mà thôi. Qua cơn suy nghĩ đến việc kinh doanh, khổ nhọc lo lắng quá nhiều, sai khiến tận tâm rong chạy không lúc nào yên: kẻ có ruộng lo ruộng, người có nhà lo nhà, trâu ngựa lục súc, tôi tớ tiền tài, áo mặc cơm ăn, vật này vật nọ, lo rồi lo nữa. Chấp chứa nghĩ lo, buồn rầu sợ hãi những tai biến phi thường: nước lửa giặc cướp, oan gia trái chủ: cháy, trôi, cướp đoạt tiêu tan. Lo khổ rộn ràng, không giờ nào rảnh, bó buộc trong lòng chẳng rời lo khổ, tâm ý bền chắc không chút rời bỏ.
Hoặc bị mạng chết thân tiêu, bỏ đó mà đi chớ đem gì theo được! Cao sang giàu mạnh cũng vẫn bị thứ khổ nầy, lo sơ muôn bề, cần khổ như thế, kết nhiều nỗi lạnh nóng, rồi cùng với với sự đau khỗ ấy mà chung ở.
Còn hạng nghèo cũng hạ liệt, thường bị quẩn bách thiếu thốn; kẻ không ruộng lo muốn có ruộng, người không nhà lo muốn có nhà, không có trâu ngựa lục-súc, tôi tớ tiền của, áo cơm, vật kia vật nọ cũng đều lo muốn cho có đầy đủ; vừa được một món, lại thiếu them một món, có món nầy thiếu món kia, rồi nghĩ lo cho có đủ. Mới vừa đủ có, đã bị tiêu tan; như vậy lo tìm cầu lại nữa, hoặc khi chẳng đặng, thời lo nghĩ vô ích, thân tâm đều nhọc, ngồi đứng chẳng yên, lo rầu nối tiếp, cần khổ như thế kết nhiều nóng lạnh, ở chung với khổ, hay ngồi trên đống khổ, mà trọn đời chẳng biết làm lành, tu đạo tiến đức. Đến khi mạng chung thân chết, một mình đi xa, đi không chỗ đến, vì đường thiện ác nào ai biết trước!
Kinh Vô Lượng Thọ

Nước chảy luôn chẳng đầy, lửa chứa lâu chẳng cháy, mặt trời mọc rồi lặn, trăng tròn rồi lại khuyết, kẻ tôn vinh hào quí, tránh sao khỏi vô thường.
Kinh Tội Nghiệp Báo Ứng

Giả sử thọ mạng đủ một trăm năm, bảy vật báu đày đủ, hưởng các khoái lạc, thần chết nó đến khó tránh vô thường.
Kinh Tâm-Địa Quán

Xưa có bốn anh em giòng Đại Phạm-Chí đều có thần thông biết sẽ chết, cùng bàn với nhau rằng: cái chết nó đến, người ta khó tránh; nhưng bọn ta tránh được bằng cách đi trốn.
Rồi một bay cao lên không trung, một vào trong biển cả, một nữa vào trong giữa núi Tu-di, và ông thứ tư chạy vào trong giữa đám rất đông người tại chợ lớn mà trốn. Nhưng đến ngày chết thời bốn người đều chết cả. Vì lẽ tất cả là: vô thường, khổ, không, vô ngã. Nếu ai biết suy nghĩ đạo lý nầy, thời sẽ khỏi sanh-lão-bệnh-tử, và ưu bi khổ não mà đạt đến đạo quả Niết bàn.
Kinh Xuất Diệu

Khi Đức Phật ngự tại nước Xá-Vệ, trong thành có một ông già giòng Bà-la-môn đã 80 tuổi, nhà giàu của cải vô số. nhưng thuộc hạng người nan-hóa, chẳng biết gì đạo đức, chẳng biết lo cơn vô thường mà chỉ biết lo làm nhà cho đẹp: nào là nhà trước nhà sau, noà là lầu mát nhà ấm, nào là nhà đông nhà tây, hai hàng dài có chừng vài chục nóc. Nhưng chỉ có cái nhà tiền-đường và hậu tẩm còn cách nhau chưa liền, mỗi khi đi lên xuống thường bị mưa nắng bất tiện, nên ông đích thân ra kinh doanh và chỉ-huy cho chúng bạn làm.
Đức Phật dùng đạo-nhãn xem thấy ông già nầy, không còn mấy hôm nữa sẽ bị tận mạng; thế mà ông có tự biết đâu, nên cứ loay-hoay nhọc sức, không ích gì cho đời sau, thật là đáng thương !
Đức Phật với A-Nan hai thầy trò cùng đi đến tận nhà, vui vẻ hỏi ông rằng: “ông lão làm cái gì đó, có nhọc mỏi không? và nay còn cất nhà nầy nữa chi thế?”
Ông đáp và giải thích: “Nhà trước để tiếp khách, nhà sau để tự ở, hai dẫy đông tây thì con cháu tôi tớ ở, và để của cải. Mùa hè nóng bức thượng lên lầu cao cho mát; mùa đông lạnh lẽo, trụt xuống nhà kín cho ấm. Ngài đã hiểu hết chưa?”

Đức Phật bảo Tôi nghe danh ông lão đã lâu, muốn gặp nhau để đàm luận cho vui, nên tôi sẵn có một bài kệ khẩn yếu; kện nầy có ích cho những lúc an lành hay bất hạnh, giờ đây muốn tặng, ông lão nên nghĩ tay cùng ngồi, tôi đọc nghe chừng được không ?
Ông đáp: Tôi đang bận việc lắm, nên không thể ngồi mà đàm luận được; mai mốt nếu Ngài đến thời hay biết bao. Mà bài kệ khẩn yếu thì Ngài cứ việc đọc, tôi vừa làm vừa nghe cũng được.
Đức Phật phải chìu lòng đọc kẹ:
“Có con có của, ngu lo bận rộn,
Ta chẳng phải ta, con của đâu có.
Nóng sẽ hết nóng, lạnh sẽ hết lạnh,
Lắm ngu lo trước, chẳng biết tai đến.
Ngu mờ ngu mịt, tự cho là trí;
Ngu mà xưng trí, ấy là rất ngu.”

Ông già bạc phước ấy khen: Ngài thuyết kệ hay thật, nhưng nay bận quá, ngày mai Ngài đến, chúng ta sẽ cùng nhau bàn luận thì hơn.
Thế là Đức Phật thương hại cho ông ta rồi đi.
Đức Phật vừa đi không xa, ông già tự tay đưa cây lên cho thợ làm, chẳng may bị sẩy tay cây rơi xuống đánh vỡ đầu chết ngay tức thì ! Người nhà la khóc, động cả xóm làng. Đức Phật đi chưa bao xa, thì xảy ra tai biến nầy.

Ngài đi đến một làng khác, vừa gặp mười người Phạm-Chí họ hỏi Ngài đi đâu vậy, thì Phật đáp: Ta đi đến nhà ông già ở làng kia, với mục đích để thuyết pháp, nhưng ông không tin lời Phật, và cũng không biết tai biến vô thường. Ta vừa đi thì ông đã chết vì cây rơi đánh. Rồi Phật lại vì các ông Phạm-Chí thuật lại ý nghĩa bài kệ mà Ngài vừa mới đọc cho ông già nghe khi nãy. Nge xong các Phạm-Chí vui mừng hớn hở, đều được thấy dấu vết của Đạo.
Liền đó Đức Phật thuyết một bài kệ khác cho mấy ông nghe:
Ngu ám gần trí, như bầu chứa vị
Chứa đựng tuy lâu mà chẳng biết mùi.
Sáng suốt gần trí, như lưỡi nếm vị
Đưa đến chót lưỡi, liền biết vị gì.
Người ngu tạo tác, vì thân chuốt họa.
Cam lòng làm ác, tự gây tội nặng.
Gây điều bất thiện, khi biết ăn-năn,
Khóc rơi nước mắt, trả báo do nhơn.
Các ông Phạm-Chí được hân hạnh nghe bài kệ này nữa, lòng tin càng bền vững, vui mừng làm lễ phụng hành.
Kinh Pháp-Cú Thí-Dụ

Giòng sanh mạng chảy không ngừng, mau hơn nước núi chảy xuống, ngày nay tuy tồn tại, ngày mai khó bảo đảm. Thế mà cứ buông lòng làm ác. Sức mạnh chẳng ngừng như ngựa bôn chạy, làm ao ỷ-lại mà sanh khinh mạn. Giống như ác quỷ, rình mò bắt người, bốn đại ác quỷ thường rình bắt ta, làm sanh khởi ác ý. Ví như nhà mục sẽ sập nay mai, mạng ta cũng y như thế.
Kinh Niết-Bàn

Biển Nam-Hải, vụt nổi một cơn sóng dữ dội kinh khủng, đẩy ba con cá lớn vào trong chỗ nước cạn. Cá cùng bảo nhau rằng: “Chúng ta bị nguy tại đây rồi! Nhưng hiện giờ nước chưa cạn, còn chảy ra vào, cần nên ngược dòng trở về biển cả.” Nhưng không may lại vừa có con thuyền chận ngang thủy khẩu, nên cá không thể tự do chạy ra. Con thứ nhứt đem tận lực vượt qua khỏi thuyền, con thứ hai may nhờ đám cỏ cũng lủi qua được. Duy con thứ ba bỡi sức yếu nên bị ngư ông bắt được ! Đức Phật xem thấy việc nầy liền nói bài kệ rằng:
Ngày nay đã qua, mạng ta giảm đi
Như cá ít nước, đâu có vui gì!
Bởi vì cá lấy nước làm nhà sống, mà nước hết thời chết. Người nương mạng căn mà còn, mạng giảm thời tiêu. Mạng căn theo đêm ngày mà giảm, thân thể bởi tám khổ mà mòn; vô thường già bệnh chẳng cho người hẹn. Kìa như cá khô nước đâu có vui gì.
Kinh Xuất Diệu

Mạng người sống in như dắt trâu đến lò thịt: trâu đi một bước, thì một bước đến gần chỗ chết, cũng như thế người sống qua một ngày hệt như trâu nọ từng bước một đi đến lò chết, mạng sống chảy theo sau vậy.
Kinh Lục Độ Tập

Xưa có người hàng thịt nuôi một ngàn con trâu, con nào cũng béo mập to lớn. Cứ mỗi một ngày giết một con đem thịt bán. Giết đã hết năm trăm con, còn lại năm trăm con; mà nó vẫn cùng nhau húc báng, nhảy nhót, kêu rống vui giỡn.
Bấy giờ đức Thế-Tôn vào làng thấy những con trâu vô tình như vậy, Ngài động lòng từ, mà ngoảnh lại sau bảo với các đệ-tử rằng: Trâu này ngu si quá, bè bạn sắp phải tận mạng, mà nó vẫn cứ vui giỡn! Người cũng như vậy chứ gì? Qua một ngày rồi, mạng người giảm dần; cho nên Đạo độ thế chẳng khá chẳng suy nghĩ mà siêng năng cầu vậy.
Kinh A-Dục-Vương Thí-Dụ

Đức Phật hỏi một vị Sa-môn rằng: mạng người sống chừng bao lâu?
Đáp: Chừng trong vài ngày, Phật nói: Ngươi chưa biết Đạo. Ngài lại hỏi một vị khác, thời vị này đáp: Chừng trong một bữa ăn. Ngài cũng quở nữa: ngươi cũng chưa biết Đạo. Phật hỏi đến vị thứ ba, Vị này đáp: Mạng sống của con người ở trong chừng một hơi thở ra vào. Đức Phật khen: Hay thay, ngươi là kẻ biết đạo vậy.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương

Tất cả chúng sanh tham đắm vui đời mà chẳng lo vô-thường. Ví như có người ở giữa đồng nội, bị con voi điên đuổi sợ mà chạy hoảng, thấy một giếng khô cạnh có rễ cây, người ấy nương rễ mà vào lần xuống giếng, nhưng ở dưới giếng có con độc long rất to, nó vừa hả miệng trông lên, bốn phía giếng lại có thêm bốn con rắn độc dữ tợn không thể nói. Người ấy tuy chăm lòng nắm lấy rễ cây, lại còn có hai con chuột trắng đen cắn phá rễ cây.
Bấy giờ con voi điên đã đến miệng giếng, người ấy hoảng sợ không còn chỗ tránh. nhưng trên cây đứng bên giếng có một tổ ong, cứ mỗi lát xuống một giọt mật trúng ngay vào miệng anh, nên anh chỉ nhớ mật mà quên hết sự nguy hiểm đang xảy ra đến cho mình; và nguy hơn nữa lại còn chẳng muốn ra khỏi cái giếng nguy hiển này.
Con voi điên là dụ vô-thường của cảnh đời, giếng là dụ nhà của chúng sanh, độc-long là dụ địa-ngục; bốn rắn độc là cụ cho thân bốn đại, rễ cây dụ cho mạng căn người, hai con chuột đen trắng, dụ cho ngày và đêm. Mạng người ngày càng mòn dần mà chẳng chút ngừng nghỉ, kẻ tu hành phải quan sát cơn vô thường để xa lìa các nỗi khổ lụy.
Kinh Thí-Dụ

Xưa có ba người tu đạo cùng hỏi nhau rằng: Các anh nhờ đâu mà được Đạo? Một người đáp: Khi tôi còn ở trong nước tôi, một buổi mai tôi thấy giàn nho trái rất đẹp, quá trưa người ta đến hái hết trái và làm cho cành lá hư hao tàn tạ. Tôi nhận thấy vậy, mới giác ngộ lẽ vô thường. Đó là duyên cớ tôi đắc Đạo.
Người kế đáp tiếp: Khi tôi ngồi bên bìa nước, thấy có người đàn bà đang quậy tay rửa bát, hai chiếc hoàn nơi cánh tay chạm vào nhau, do nhơn duyên hội họp mà phát ra thành tiếng, tôi do đó mà đắc Đạo.
Người thứ ba đáp: Lúc tôi đang ngồi bên hồ sen, thấy hoa sen rất đẹp, khi quá trưa có vài chục chiếc xe đến, rồi nào là người ngựa lội xuống tắm bơi làm hư nát tan tành, bao nhiêu những đóa hoa tuyệt hảo. Tôi mới giác-ngộ các pháp vô-thường là như thế. Do đó tôi đắc Đạo.
Kinh Tạp thí-dụ

Xưa có vị Quốc vương, bỏ nước không làm vua, mà làm Sa-môn, vào trong núi tinh cầu tu niệm; lấy tranh cỏ làm nhà, lấy lá cây chất đống làm giường nằm, coi bộ đắc ý lắm, nên bỗng nhiên cười to la lớn lên rằng: Khoái thay, khoái thay.
Gần bên có kẻ Đạo-nhân hỏi rằng: Ngồi một mình tu trong núi, đâu có sướng gì mà la như thế?
Sa-môn đáp: Khi ta còn làm vua lo sợ trăm bề: nào lo sợ các vua ở gần tới cướp nước; nào lo sợ kẻ cướp tới lấy của cải; nào lo sợ người tham lam của công; nào lo sợ bọn hạ thần đương triều lợi dụng của cải của ta mà làm phản, thì còn ai mà trị. Chớ như nay ta làm một Sa-môn thời còn ai tham gì với ta nữa. Thật sướng chẳng thể nói, mà chẳng nói sướng, còn nói gì nữa.
Kinh Tạp Thí Dụ

Vua A-Dục có người em ruột tên là Thiện-Dung, một hôm vào trong núi săn bắn chơi, nhận thấy các ông Phạm-Chi ở trần truồng tu khổ-hạnh, mà chẳng được quả Vị gì. Thiện-Dung suy nghĩ: Các Phạm-Chí nầy ăn sương uống gió, khí lực mòn mỏi mà hãy còn dâm dục, tội lỗi chẳng trừ, huống chi các ông Sa-Môn họ Thích, ăn sang mặc đẹp, ấm lạnh theo mùa, ở nhà cao, nằm giường kỹ còn thêm hương hoa thơm tho thì làm gì vô-dục được.
Bấy giờ vua A-Dục nghe em bàn luận như thế, ôm lòng lo lắng: Ta chỉ có một đứa em mà nó vừa sanh lòng tà kiến e sẽ đọa đày nhiều kiếp, ta nên tìm cách trừ ác niệm cho chú nó mơi xong.
Vua liền vào cung, bảo các kỹ-nữ mỗi đứa tự trang điểm tử tế cùng đến chỗ Thiện-Dung mà đán hát cho hay. Và vua mật bàn trước với một đại thần rằng: Trẫm có lập chút mưu. Nếu khi trẫm sắc cho người giết Thiện-Dung thi ngươi lien can rằng: Xin cho qua bảy ngày rồi sẽ giết.
Phần các kỹ-nữ tuân lệnh vua đến chỗ Thiện-Dung đán hát chưa được bao lâu thì nhà vua giả bất ngờ đi đến mà nộ Thiện Dung rằng: Sao người cả gan dám cùng với kỹ-nữ và thê thiếp của ta chơi bời như thế này là sao? Rồi vua liền triệu tập các Đại-Thần mà phán rằng: Trẫm chưa già yếu gì; cũng chẳng có giặc giã chi xâm lấn biên-cảnh Trẫm từng nghe lời ngạn ngữ các bực cổ hiền nói rằng: Hễ người có phước bốn biển quy phục; mà phước đức mỏng manh thì kẻ vây cánh phản loạn, nhưng nay ta tự xét ta chưa đến nỗi thế. Vậy mà Thiện-Dung em ta dám dỗ những kẻ kỹ-nữ và vợ hầu của ta mà lung chơi như thế là nghĩa làm sao?

Ta ra lệnh cho các ngươi đem nó ra ngoài chợ, mà giết đi cho thiên-hạ biết. Có Vị Đại-thần đồng can rằng: Cúi xin Đại-vương tha lỗi cho lời nói mọn của kẻ hạ thần, xin Đại-Vương hoãn cho sau 7 ngày rồi sẽ thi-hành việc ấy cũng chẳng muộn.
Nhà vua giả vờ lặng lẽ nghe theo lời can. Và lại còn khoan ân bảo các Đại-Thần: Đem đồ phục sức của Trẫm mà mặc cho chú nó và dẫn chú nó vào trong cung kín cua Trẫm, khiến bọn kỹ nữ ca hát đàn địch cho chú nó thỏa mãn một lúc rồi sẽ hay. Rồi vua còn sắc với một Đại-Thần rằng: ngươi mặc áo giáp cho oai, và cầm chiếc gươm thiệt bén và đến chỗ của nó mà bảo rằng: Tâu Vương-Tử mãn hạn bảy ngày bắt đầu từ nay thì Vương-tử phải bị giết vì theo lệnh của Hoàng-Thưọng đã phán quyết, vậy nên Vương-Tử nổ lực mờ tung năm căn mà mà hưởng năm món dục lạc cho khoái, thích kẻo uổng, bằng nay chẳng tận hưởng năm món dục lạc cho khaói, để đến khi sắp chết có ăn năn cũng vô ích.

Qua một ngày vua sai kẻ Tôi ấy đến bảo cho Thiện-Dung biết chỉ còn có sáu ngày nữa là hết hạn. Cứ tuần tự như vậy cho đến còn một ngày là mãn hạn. Vị Đại-Thần ấy đến bảo: Thưa Vương tử đă hết sáu ngày rồi, sáng mai đây Ngài phải đến pháp trường mà chịu chết, vậy phải ráng sực mà hưởng cho khoái kẻo uổng.
Sáng ngày thứ bảy, vua đích thân đến chỗ Thiện-Dung giả lời hỏi: Sao? mấy hôm qua tâm ý của Hiền đệ được tự do hưởng khoái lạc có sung sướng không?
Đáp: Tâu Vương-huynh, thật em chẳng thấy chẳng nghe gì cả, thì có đâu mà sung sướng. Vua lại hỏi nữa: Em mặc đồ sức phục của anh vào ở trong cung điện của anh, và cùng với bọn kỹ nữ của anh mà hưởng vui, và lại ăn những món ăn hảo hạng. Mà nói chẳng thấy chẳng nghe, chẳng vui sướng gì hết; sao dám nói khi với anh như thế?
Đáp: Người đáng chết tuy là mạng căn chưa dứt, người với người đã chết chẳng khác gì mấy, thì còn lòng dạ nào mà hưởng vui sướng gì nữa.

Nhà vua mới nói rõ dụng ý: Theo thiển ý của anh thì Hiền-Đệ chi lo rầu cho cái thân một đời, mà hãy còn khổ đến như thế. Khi nghe thân sắp chết, hiện đang ở trong cảnh ngũ dục mà chẳng vui, huống chi các vị Sa-môn lo nghĩ nỗi khổ não trong ba đời: một khi thân này chết rồi lại thụ một thân khác, cứ như thế trải qua ngàn vạn ức kiếp nhiều thân chịu khổ, thật là cái khổ vô lượng không sao nói cùng. Vì các Ngài nghĩ việc cay đắng này, mới xuất gia tu đạo để tìm phương pháp vô-vi độ thế; nếu các Ngài chẳng tinh tiến tu trì thì sẽ chịu khổ trải qua nhiều kiếp, nhiều đời. Hiền đệ có hiểu không?

Bấy giờ Thiện-Dung vương-tử mới sáng mắt dến trước vua mà thưa rằng: Em nghe những lời Vương-huynh dạy mới được tĩnh ngộ; sanh, già, đau, chết, thật là đáng sợ; lo-buồn, khổ-não trôi lăn, chẳng dừng. Cúi xin Đại-Vương, cho tôi xuất gia cầu đạo cẩn thận mà tu trì. Nhà vua hoan hỷ: Phải lắm, nhăm lúc, nhăm lúc.
Thế là Thiện-Dung từ giã vương cung xuất-gia mà làm Sa-môn tinh tấn tu Đạo, chứng quả A-La-Hán.
Đức Phật bảo các đệ-tử: Các Đức Phật chỉ nói nửa bài kệ rằng:
Các hạnh vô-thường
Là pháp sanh diệt
Dứt xong sanh diệt
Yên Lặng là vui.
Kinh Câu -Ly Lao-ngục
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Echo
B. –THÂN NGƯỜI

Đức Phật kể chuyện với các Tỳ-kheo rằng: Ngày xưa xa có một vị Ngũ-thông Tỳ-kheo tên là Tinh-Tấn-Lực, ngồi dưới gốc cây trong núi yên lặng mà tu Đạo, cũng chính nơi đây và lúc này có bốn con cầm thú, nương ở xung quanh là: Chim cáp, chim quạ, con rắn và con nai. Có một đêm chúng nó tự hỏi với nhau rằng: Cái khổ trong đời, thứ nào nặng hơn?

Chim quạ nhọn mồm có ý kiến trước: Đói khát là khổ hơn hết, những khi đói khát, thân ốm, mắt mờ, lòng dạ chẳng yên, cũng vì thế lắm khi thân sa vào cạm lưới, chẳng tránh mũi nhọn; chúng ta tán thân mất mạng đâu chẳng bởi vì đói khát.

Chim cáp: Dâm dục khổ hơn hết: Mỗi khi sắc dục bức bách thì không chỗ nào là không nghĩ tới, cũng nhơn đó rồi bị nguy thân thiệt mạng; nó báo hại hơn cả, theo ý tôi.

Đến lượt rắn độc: Riêng tôi thì giận dữ là khổ hơn hết, một khi nổi giận là chẳng kể gì kẻ thân người sơ, và lắm khi làm hại mình, hại người nữa là khác.

Cuối cùng là con nai: Tôi cho sự kinh hãi là khổ hơn hết: Tôi ở trong rừng lòng thường lo hồi hộp run sợ, những kẻ thợ săn, chó săn, lang sói, chợt nghe có tiếng động phảng phất thôi thì tuôn chạy, bán sống bán chết, ruột gan run sợ, bỏ cả mẹ con, lắm khi bị sa hầm sụp hố, nguy hiểm đến tính mạng nữa là khác. Sau khi nghe chúng bàn luận, Tỳ-kheo đính chánh rằng: Những điều các ngươi vừa nói đó chỉ là thứ khổ ngọn ngành chứ chưa xét đến cái khổ cội gốc. Nỗi khổ trong thiên hạ không gì bằng cái thân. Thân là cái món đồ để đựng mọi thứ khổ, cho nên ta bỏ tục xuất-gia tu Đạo, chính vì muốn tiêu diệt ý tưởng xằng xiêng, chẳng tham đắm thân tứ-đại giả dối, mục-đích là dứt nguồn gốc đau khổ vậy.
Kinh Pháp-Cú

Cho rằng: Thứ khổ cũ là thật khổ, mà thứ khổ mới là vui, như người gánh nặng trở vai.
Kinh Tọa-Thiền Tam-Muội

Quan sát tấm thân do cha mẹ sanh giống như thổi một mảy bụi trần vào giữa thái hư-không mười phương hoặc còn hoặc mất; lại cũng như biển cả Đại-dương yên lặng, chợt nổi lên một bong bóng trôi nỗi lênh đênh sanh hay diệt cũng chẳng từ đâu mà có.
Kinh Lăng Nghiêm

Thân này như bọt, chẳng đặng còn lâu; thân này như huyễn do điên đảo khởi; thân này như mộng từ vọng thấy sanh; thân này như bóng bởi nghiệp duyên hiện.
Kinh Duy-Ma

Ngày xưa có người con ông Trưởng giả, vợ chồng mới cưới rất yêu kính nhau. Chồng bảo vợ: Em vào trong nhà bếp lấy rượu ra đây cùng uống cho vui. Người vợ vào vừa giở nắp lu, chợt thấy bóng mình hiện ở trong lu, liền cho là có người khác đã ẩn tự bao giờ, nổi tam bành lục tặc, trở ra sân si với chồng rằng: Anh đã chứa dấu đàn bà trong lu còn cưới tôi về làm chi nữa?

Chồng tức quá vào xem lại thấy bóng mình, nổi sân chạy ra, nạt vợ rằng: Mày dấu trai trong đó mà đổ thừa cho tao dấu gái? Thế là hai đứa sân si ấu đá kịch liệt, thôi thì đánh nhau dữ dội la khóc om sòm, đàng nào cũng cho mình là phải. Giây lát có thầy Tỳ-kheo đi ngang qua nghe được nguyên do việc xảy ra đám đánh, đến mà xem thử mới biết là đánh lộn vì bóng, mà bùi ngùi tự than rằng: Người đời quá ngu, cho cái giả là cái thật. Rồi tự đấm ngực xung phong mà rằng: Ta sẽ vì các ngươi mà bắt người trong lu ra cho; rồi Ngài lấy một cục đá to đập lu vỡ, rượu chảy linh láng, con người bóng trong lu cũng mất biến. Giải quyết cái bóng xong, đôi vợ chồng ôm lòng hổ trẻn.

Bấy giờ thầy Tỳ-kheo vì nói pháp, khiến cho đắc Đạo. Đức Phật lấy thí dụ; thấy bóng đánh lộn là bởi người đời chẳng biết cái “khổ không” của năm uẩn và bốn đại mà phải bị khổ sanh tử chẳng lúc nào dứt vậy.
Kinh Tạp Thí Dụ

Xưa có ngôi nhà hoang tương truyền nhà ấy thường có con ác quỉ, mọi người đều tránh chẳng ai dám đến ở hay ngủ.
Bấy giờ có một thanh niên tự xưng mình to gan và bảo với người ta rằng: “Tôi dám vào trong nhà hoang ấy mà ngủ một đêm cho bà con biết mặt.” Tức thì anh vào ngủ thật.

Lát sau lại có một chàng nữa ở xóm khác thường ngày tự cho mình là gan dạ và mạnh bạo hơn ai hết, cũng nghe người ta nói trong nhà hoang có quỉ, anh liền vác dùi đến và xô cửa vào mà đánh.

Thì anh chàng vào trước tưởng là quỉ thật ở ngoài đánh vào mình, nên anh giữ cửa rất chặc, phòng thủ cẩn thận, chẳng cho quỉ ngoài tiến vào. Thì anh ở ngoài lại quả quyết trong nhà đã sẳn có quỉ thật, nên dùng tận lực đánh vào…

Thế là trong đánh ra ngoài đánh vào rất là kịch liệt, cho đến khi trời sáng mới nhìn nhau biết chẳng có quỉ quái gì cả.

Mọi người trong đời cũng như vậy. Do nhơn duyên mà tạm gặp nhau, thật chẳng có cái ta, nhưng các chúng sanh nào có biết ! Rồi ngang chấp có ta, mới cưỡng sanh ra tranh tụng.
Kinh Bách Dụ

Vua Di-Lan hỏi ngài Na-Tiên Tỳ-kheo rằng: Sa-môn có tự yêu tấm thân mình không ?
Na-Tiên đáp: Là Sa-môn chẳng còn tự yêu thân nữa.
Vua nói: Nếu chẳng tự yêu thân sao còn ở nhà ấm, ăn thức ngon, và tự muốn bảo vệ lấy nó?
Na-Tiên gặn lại: Nhà vua đã từng vào trận chiến chứ?
Vua đáp: Có. Tôi đã có vào trận chiến.
Na-Tiên hoỉ: Khi vào trận đã có bị thương chưa?
Vua đáp: Đã có bị thương, vì mũi dao và tên nó chọt.
Na-Tiên hỏi: Rồi làm sao cho vết thương?
Vua đáp: Tôi liền lấy thuốc và băng bó
Na-Tiên hỏi: Vì yêu vết thương mà băng bó hay sao?
Vua đáp: Chẳng phải yêu vết thương
Na-Tiên hỏi: Chẳng phải yêu mà chăm sóc làm gì?
Vua đáp: Muốn nó mau lành
Ngài Na-Tiên thuyết: Các vị Sa-môn cũng thế. Các Ngài chẳng phải yêu vì cái thân nên việc ăn mặc cũng chẳng phải vì ăn sang mặc đẹp, mà chỉ dùng để chi-độ cho thân thể đặng phụng hành đạo pháp của Đức Phật mà thôi, cho nên trong Kinh nói: Thân người có 9 lỗ là 9 chỗ thúi hôi bất tịnh.
Vua Di-Lan khen: Hay quá, Ngài nói hay quá !
Kinh Na-Tiên Tỳ-kheo

Đức Phật dạy các đệ tử: Mọi kẻ phàm phu ăn cơm mặc áo, dùng đồ nằm là muốn cho thân tâm vui sướng. Bồ-tát, nếu khi phải dùng áo chẳng vì thân, mà chỉ vì pháp, cho nên chẳng kiêu-mạn, mà phải thấp xuống; chẳng vì trang sức, chẳng vì xấu hổ, mà chỉ vì che lạnh nóng, gió độc mà thôi. Với việc ăn cũng thế, tâm chẳng tham đắm, chẳng vì kiêu-mạn, chẳng vì thân lực… ăn với mặc như nhau.
Kinh Niết-Bàn

Đức Phật dạy Ngài Văn-Thù rằng: Vì chúng sanh không có sức từ bi, ôm lòng sát hại, cho nên phải cấm dứt ăn thịt; nếu chẳng muốn ôm lòng sát hại, có lòng đại từ bi, vì muốn giáo hóa tất cả chúng sanh, thì không có tội lỗi.
Kinh Văn-Thù Sư-Lợi Vấn

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: Chốn đại-địa nầy biến thành biển cả; bấy giờ có con rùa mù sống lâu vô lượng qua trăm ngàn năm nó mới ngoác đầu lên một lần. Tại biển cả có một cây nổi lênh đênh, khi đông khi tây, vì bị sóng dập gió dồi liên tiếp; mà trong thân cay chỉ có một cái lỗ. Thế thi khi rùa mù ngóc đầu tìm cây và chui đầu vào cây chừng có dễ gặp không?
Ngài A-Nan trả lời rằng: Bạch đức Thế-Tôn ! Khó mà gặp được, bởi lẽ rùa thì rùa mù, biển đông hải mênh mông, cây lại cây nổi, trôi theo chiều sóng gió đẩy đưa, đông tây bốn hướng nào có định đậu nơi nào. Cho nên chắc chắn khó mà gặp được.

Phật dạy: Rùa mù, cây trôi tuy khó gặp, nhưng còn có hy vọng; chớ đến như kẻ phàm phu ngu si trôi nổi trong năm thú mà tái sanh được thân người, mới thật là khó hơn rùa gặp cây gấp mấy. Vậy nên các ngươi chính ngày nay phải tinh tiến tìm mọi phương tiện phát khởi tâm muốn học đạo càng tăng cao mới được.
Kinh Tạp-A-Hàm