- Chủ nhật Tháng 12 21, 2008 2:06 am
Truyện ngắn của NLT
Xóm Giàng nằm trên một cồn đất bồi, sông nước bao bọc chung quanh. Bên kia là một xứ đạo lâu đời, có nhà thờ xây gạch lợp ngói đồ sộ, có trường tiểu học do các nữ tu dòng Mến Thánh Giá phụ trách, giáo dân cũng trên ngàn người. Cha Chánh Xứ là một Linh Mục Âu châu thuộc Hội Thừa sai Paris, qua Việt Nam từ mấy chục năm trứơc, khi ngài mới ngoài ba mươi tuổi. Dân trong vùng gọi ngài là "Cố Phương". Tuy là người Tây, nhưng ngài sống khổ hạnh, ăn uống bình dân như người trong vùng: cá kho, rau luộc, canh cải, đôi khi có chút thịt, trứng...
Ngài giữ luật rất nghiêm, tiếp xúc với giáo dân tại phòng khách. Nếu là nữ giới khi có việc thưa trình thì phải có một vị trong hội đồng giáo xứ hoặc một người đàn ông hiện diện. Ngài thường đi thăm các họ nhánh bằng xe đạp. Nơi gần thì ngài đi bộ. Có lần trời mưa, đường bị hư hại nặng, ngài có việc cần cấp phải đi ra khỏi nhà ban đêm, rủi ro bị té xuống hố, không đứng dậy được. Có người đi qua, nghe tiếng ngài gọi:
- Ai đó? Cứu Cha với!
Nhưng khi bàn tay của người ấy vừa đụng tới, thì ngài lại nói:
- Khoan đã! Xin cho biết là đàn ông hay đàn bà?
Những câu chuyện như thế đã được dân quanh vùng kể lại với sự khâm phục tính cẩn thận giữ luật của ngài.
Cố Phương thường qua thăm các gia đình tân tòng ở Xóm Giàng, ngài đi bộ ra bến đò, lên thuyền, tới bờ bên kia, lại tiếp tục đi bộ thêm một đoạn khá xa nữa mới đến nơi. Giáo dân ở đây rất nghèo, đa số làm nghề đánh cá, sáng dậy sớm lên ghe ra biển, chiều mới về. Có người phải làm việc cả ngày Chúa Nhật mới đủ ăn nên chẳng những ngày thường họ không đi lễ được mà ngay đến ngày lễ buộc họ cũng bỏ luôn. Có người nghèo đến nỗi không có áo quần mặc, vợ chồng con cái sống trên một chiếc thuyền, quanh năm đóng khố. Trong nhà chỉ có một cái quần dài vải đen, mỗi lần đi lễ Chúa Nhật thì chồng nhường cho vợ hoặc vợ nhường cho chồng, người này đi thì người kia ở nhà.
Thấy tình cảnh dân chúng như vậy, ngài thường viết thư về gia đình ở thành phố Bruxelles, nước Bỉ, để xin bà con và những vị ân nhân bên đó giúp đỡ. Mỗi lần qua thăm Xóm, ngài thường mang theo nào quần áo cũ, nào thuốc men, thức ăn... Bọn trẻ con trong xóm hễ thấy một cụ già nào cao lớn, vai mang cả một bao vải to tướng từ bến đò xuất hiện là bọn chúng vui mừng chạy ra tiếp tay với Cha... Và, tất nhiên, mọi người trong xóm cũng được báo tin một cách nhanh chóng và cùng kéo ùa ra đón ngài. Cha thường khuyên mọi người cố gắng đọc kinh lần hạt và đi lễ ngày Chúa Nhật, ngài thường cho họ ăn trưa sau khi tham dự Thánh Lễ. Ngài cũng xin tiền để xây cho Xóm Giàng một nhà nguyện nhỏ có thể chứa khoảng một trăm người. Mỗi lần Cha đến dâng lễ thì giáo dân quanh vùng cũng đi theo ngài để thăm anh chị em tân tòng nên nhà nguyện không đủ chỗ, phải đứng ra ngoài sân. Người ta trải chiếu giữa nền nhà nguyện cho mọi người qùy hay ngồi vì không có bàn ghế.
Qua lại Xóm Giàng nhiều lần trên chuyến đò ngang, mùa nước lũ hay mùa mưa gió có khi thuyền bị lật giữa sông rất nguy hiểm nên Cha nghĩ cách thực hiện một cây cầu gỗ để giúp dân qua lại chuyên chở nông hải sản cho tiện. Trước hết, ngài cho người lên thị xã tiếp xúc với Ty Nông Nghiệp, đặt mua nhiều cây giống đem về trồng trên bãi sông vừa có bóng mát cho dân chúng nghỉ chân vào mùa nắng, vừa có gỗ dùng. Ngài khuyến khích mỗi gia đình trồng cây và săn sóc cây. Loại cây dương liễu mọc rất nhanh, mấy năm sau đã thấy chúng cao lớn có thể lấy gỗ làm cầu được rồi. Ngài đã nhờ một chuyên viên thiết kế một cây cầu gỗ rồi vận động tiền bạc, nhân lực trong vòng chưa đầy một năm đã làm xong. Các loại xe chuyên chở nhẹ hai bánh, ba bánh hay bốn bánh đều có thể qua lại được. Mỗi tuần, ngài thường đi xe đạp đến Xóm Giàng sinh hoạt với trẻ em và dân chúng... Ngài cũng vay vốn mua một chiếc tàu máy chạy đường sông để đưa khách và chuyên chở sản phẩm địa phương như rau, quả, tôm, cá, gà, vịt, heo, bắp, đậu, lúa, gạo, v.v... lên chợ tỉnh để bán. Do đó, thu nhập của người dân Xóm Giàng cũng như trong vùng đã gia tăng rất nhiều.
Thỉnh thoảng Bà Bề Trên Dòng Mến Thánh Giá ở tỉnh đi xe kéo về thăm các nữ tu và trường tiểu học của giáo xứ... Theo luật xưa, nữ tu không được đi một mình khi ra ngoài nên mỗi lần Bà đi đâu thì có hai chị nhỏ đi theo. Bà đã lớn tuổi, răng đen và thích ăn trầu. Bà ngồi trên xe hai bánh do một anh phu xe lực lưỡng cầm càng kéo đi, hai nữ tu chạy bộ theo, một chị mang cau trầu, một chị mang thuốc lá. Anh phu xe chạy nhanh, hai chị chạy theo không kịp. Bà có thói quen ăn trầu phải thêm một miếng thuốc lá bỏ vào miệng, bà ngồi trên xe kéo, mắt nhìn thẳng về phía trước, đưa tay phải ra để nhận miếng trầu rồi lại đưa tay trái ra để nhận miếng thuốc lá. hai nữ tu trẻ tuổi phải cố chạy cho kịp để trao tận tay bà mà không bị rớt xuống đường.
Anh phu xe thì không để ý gì đến công việc của hai chị, cứ xả hết tốc lực mà chạy làm cho hai chị toát mồ hôi trán. Hai chị được trao công tác đi hộ tống Bà cũng là người có khả năng và có kinh nghiệm. Cái danh dự là được ở bên cạnh Bề Trên nên các chị trong Dòng nhiều người cũng mơ ước được chọn vào địa vị ấy. Chạy theo bà lâu ngày nên cặp giò của hai chị cũng được luyện tập dẻo dai, nếu có cuộc thi chạy Marathon thì chắc hai chị cũng đã đoạt giải vô địch rồi.
Mỗi năm Bà về thăm một lần, các nữ tu tập họp học sinh toàn trường khoảng trên một trăm em, cũng có văn nghệ hát hò, diễn kịch để chào mừng. Tất nhiên, trường cũng mời Cha Xứ và các vị chức sắc trong hội đồng giáo xứ đến dự và sau đó, có một bữa tiệc nhẹ để mời Bà và quan khách. Bà cũng không quên mang theo kẹo để làm quà cho các em học sinh, mỗi đứa được một hai cái kẹo bi hay kẹo cau là loại kẹo đường có hình viên bi hay miếng cau.
Đời sống của giáo dân bên giáo xứ vui vẻ, no đủ hơn bên Xóm Giàng nên Cha Xứ thường để tâm lo lắng cho Xóm ấy nhiều hơn. Thời tiết từ tháng Mười trở đi đến lễ Giáng Sinh ở miền Trung thường hay có mưa bão, đường sá lầy lội nên một tuần trước ngày lễ, Cha Xứ thường hô hào dân chúng qua bên kia sông chở cát về rải trên các lối đi quanh nhà thờ và trong làng để mọi người đi lễ được sạch sẽ. Ngoài ra, ngài cũng nhắc nhở các gia đình phát quang, chặt bớt nhánh cây tre đổ xuống đường, dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị làm lồng đèn, treo cờ, trang trí máng cỏ. Đặc biệt vùng này người ta thích làm đèn sao với hình chạm nổi hoa văn, hình Chúa, Mẹ, máng cỏ, thiên thần và loại đèn cù khi thắp nến bên trong thì đèn xoay quanh, hình ảnh dần hiện lên trông rất đẹp.
Trước lễ Giáng Sinh một tuần, trời tạnh ráo, cả giáo xứ hân hoan chuẩn bị mừng lễ thật long trọng: nào là máng cỏ, làm đèn chạm, sửa sang đường sá, nhốt gà vịt vào lồng để dành sẵn làm thịt. Nhưng trước lễ một hôm, trời trở rét, mưa dầm rất trở ngại cho việc tổ chức ngày lễ... Cha Xứ rất lo lắng, ngài đi ra đi vào nhắc nhở anh em. Mặc dù thời tiết trở ngại nhưng anh em vẫn tiếp tục làm máng cỏ, làm đèn, đi xưng tội, dọn mình... Vào khoảng 5 giờ chiều, có người ghé qua nhà Cha, đứng ở ngoài nói vọng vào:
- Thưa Cha, có ông Bính ở Xóm Giàng đau nặng, xin Cha đến cho ông ấy xưng tội và chịu Mình Thánh Chúa...
Nói xong, người đó đi ngay. Cha không kịp hỏi thêm được điều gì.
Cha mặc áo mưa, mang Mình Thánh Chúa trong người, lên xe đạp ra đi khi trời tối. Mưa lũ, nước sông lênh láng ngập bờ, ngài lầm lũi đi qua con đường làng ra tới cầu gỗ, thẳng đến xóm nhà dân chài. Mọi người đều đã đi đánh cá ngoài khơi cả rồi, không còn một ai ở nhà để đón tiếp nên Cha tự đi tìm nhà người bệnh. Ngài đi qua nhiều ngỏ ngách dẫn vào một con đường hẻm lối đi chật hẹp, nhà cửa lụp xụp, nghèo nàn. Ngài dừng lại trước một căn nhà tranh nhỏ bé bên trong có ánh đèn leo lét và cất tiếng gọi:
- Có phải nhà ông Bính đây không?
Nhưng không có tiếng trả lời. Cha Xứ đứng trước cổng nhà một lúc như để nhận định cho đúng mục tiêu: Phải rồi, đây chính là nhà có người đang đau nặng...
Cha liền để xe đạp bên thềm rồi đẩy cửa bước vào nhà, chưa kịp cởi áo mưa. Qua ánh đèn dầu leo lét, ngài thấy có một người ốm o gầy còm đang nằm trên chiếc giường tre ọp ẹp. Cha đưa tay vặn to ngọn đèn lên cho sáng rồi đi đến gần người bệnh. Khi Cha vừa đến nơi thì bỗng người đàn ông đang nằm trên giường nhảy chồm lên ôm chầm lấy ngài, rồi thè lưỡi ra thật dài liếm áo Cha từ trên cổ xuống tận ngực nghe sột soạt như tiếng mài dao. Nhưng Cha vẫn bình tĩnh đứng yên không có một phản ứng nào. Một phút sau, người đó buông tay ra và nói:
- Cha đi xuống bếp múc cho con một gáo nước. Con bị lên cơn sốt mấy hôm rồi...
Cha liền hiểu ra cử chỉ vừa rồi của người bệnh là vì khát quá nên đã ôm choàng lấy Cha và liếm những hạt nước còn đọng trên áo đi mưa của ngài.
Sau khi cho người bệnh uống hết một gáo nước, Cha thấy anh ta tỉnh táo trở lại và bắt đầu cho anh xưng tội, chịu Mình Thánh Chúa. Cha an ủi, hỏi thăm bệnh tình và trao cho anh mấy viên thuốc sốt rét và thuốc cảm cúm mà Cha thường mang theo khi đi thăm bệnh nhân.
Hôm sau là ngày lễ Giáng Sinh, cả giáo xứ hân hoan tổ chức lễ thật long trọng. Đặc biệt năm nay anh em có làm một hang đá thật vĩ đại với cảnh trí của thành Bê Lem, những lâu đài, nhà cửa, núi non, suối nước chảy, tuyết đọng trên những tàn cây. Ngôi sao lạ chiếu xuống tượng Chúa Giêsu Hài Đồng đặt trong máng cỏ bên cạnh tượng Đức Mẹ, Ông Thánh Giuse còn có các mục đồng và chiên, lừa,v.v... Ban đêm, khi thắp đèn lên thấy ánh sáng từ cửa sổ các lâu đài giống như nơi đó đang có người ở vậy. Trước khi cử hành Thánh Lễ nửa đêm, ca đoàn đã trình bày những bài hát về lễ Giáng Sinh và các em nhỏ trong giáo xứ đã diễn lại sự tích ngày Thiên Chúa Ngôi Hai ra đời. Có hai em bé được hóa trang làm thiên thần xuất hiện trong màn Bảo mục đồng hát câu: Vinh danh Thiên Chúa trên trời; bằng an dưới thế cho người thiện tâm để báo tin cho các mục đồng đang chăn chiên, bò lừa ngoài đồng vắng được biết tin Con Thiên Chúa ra đời. Tiếp đến là các mục đồng nghèo khó, rách rưới, trong đêm Đông lạnh giá, nhìn thấy sao lạ và nghe tiếng hát thiên thần... đã vội vàng bảo nhau hãy nhanh chân đến hang đá để thờ lạy Chúa Hài Đồng. Hoạt cảnh rất linh động làm cho mọi người không phân biệt lương giáo đang có mặt trong nhà thờ đều sốt sắng hướng lòng về Thiên Chúa trên trời mà cầu nguyện. Cha Xứ nói tiếng Việt rất giỏi, đã thuyết giảng về ý nghĩa ngày lễ Giáng Sinh. Bài giảng của ngài không chỉ dành riêng cho người Công Giáo mà còn hướng về quan khách và đồng bào bên lương ở trong xã đã đến dự lễ với giáo dân. Cha đã nêu cao tình đoàn kết lương giáo, ngài thường giúp đỡ dân trong vùng những lúc thiên tai bão lụt, cho họ thực phẩm, quần áo, thuốc men. Cha thường khuyến khích giáo dân tham gia mọi sinh hoạt trong xã thôn cùng với mọi người, không phân biệt tôn giáo, nhất là các công tác văn hóa, xã hội, từ thiện. Người bên lương cũng cho con cháu đi học trường Công Giáo nên họ rất có cảm tình với Cha và các giáo viên, đặc biệt là các nữ tu.
Xóm Giàng nằm trên một cồn đất bồi, sông nước bao bọc chung quanh. Bên kia là một xứ đạo lâu đời, có nhà thờ xây gạch lợp ngói đồ sộ, có trường tiểu học do các nữ tu dòng Mến Thánh Giá phụ trách, giáo dân cũng trên ngàn người. Cha Chánh Xứ là một Linh Mục Âu châu thuộc Hội Thừa sai Paris, qua Việt Nam từ mấy chục năm trứơc, khi ngài mới ngoài ba mươi tuổi. Dân trong vùng gọi ngài là "Cố Phương". Tuy là người Tây, nhưng ngài sống khổ hạnh, ăn uống bình dân như người trong vùng: cá kho, rau luộc, canh cải, đôi khi có chút thịt, trứng...
Ngài giữ luật rất nghiêm, tiếp xúc với giáo dân tại phòng khách. Nếu là nữ giới khi có việc thưa trình thì phải có một vị trong hội đồng giáo xứ hoặc một người đàn ông hiện diện. Ngài thường đi thăm các họ nhánh bằng xe đạp. Nơi gần thì ngài đi bộ. Có lần trời mưa, đường bị hư hại nặng, ngài có việc cần cấp phải đi ra khỏi nhà ban đêm, rủi ro bị té xuống hố, không đứng dậy được. Có người đi qua, nghe tiếng ngài gọi:
- Ai đó? Cứu Cha với!
Nhưng khi bàn tay của người ấy vừa đụng tới, thì ngài lại nói:
- Khoan đã! Xin cho biết là đàn ông hay đàn bà?
Những câu chuyện như thế đã được dân quanh vùng kể lại với sự khâm phục tính cẩn thận giữ luật của ngài.
Cố Phương thường qua thăm các gia đình tân tòng ở Xóm Giàng, ngài đi bộ ra bến đò, lên thuyền, tới bờ bên kia, lại tiếp tục đi bộ thêm một đoạn khá xa nữa mới đến nơi. Giáo dân ở đây rất nghèo, đa số làm nghề đánh cá, sáng dậy sớm lên ghe ra biển, chiều mới về. Có người phải làm việc cả ngày Chúa Nhật mới đủ ăn nên chẳng những ngày thường họ không đi lễ được mà ngay đến ngày lễ buộc họ cũng bỏ luôn. Có người nghèo đến nỗi không có áo quần mặc, vợ chồng con cái sống trên một chiếc thuyền, quanh năm đóng khố. Trong nhà chỉ có một cái quần dài vải đen, mỗi lần đi lễ Chúa Nhật thì chồng nhường cho vợ hoặc vợ nhường cho chồng, người này đi thì người kia ở nhà.
Thấy tình cảnh dân chúng như vậy, ngài thường viết thư về gia đình ở thành phố Bruxelles, nước Bỉ, để xin bà con và những vị ân nhân bên đó giúp đỡ. Mỗi lần qua thăm Xóm, ngài thường mang theo nào quần áo cũ, nào thuốc men, thức ăn... Bọn trẻ con trong xóm hễ thấy một cụ già nào cao lớn, vai mang cả một bao vải to tướng từ bến đò xuất hiện là bọn chúng vui mừng chạy ra tiếp tay với Cha... Và, tất nhiên, mọi người trong xóm cũng được báo tin một cách nhanh chóng và cùng kéo ùa ra đón ngài. Cha thường khuyên mọi người cố gắng đọc kinh lần hạt và đi lễ ngày Chúa Nhật, ngài thường cho họ ăn trưa sau khi tham dự Thánh Lễ. Ngài cũng xin tiền để xây cho Xóm Giàng một nhà nguyện nhỏ có thể chứa khoảng một trăm người. Mỗi lần Cha đến dâng lễ thì giáo dân quanh vùng cũng đi theo ngài để thăm anh chị em tân tòng nên nhà nguyện không đủ chỗ, phải đứng ra ngoài sân. Người ta trải chiếu giữa nền nhà nguyện cho mọi người qùy hay ngồi vì không có bàn ghế.
Qua lại Xóm Giàng nhiều lần trên chuyến đò ngang, mùa nước lũ hay mùa mưa gió có khi thuyền bị lật giữa sông rất nguy hiểm nên Cha nghĩ cách thực hiện một cây cầu gỗ để giúp dân qua lại chuyên chở nông hải sản cho tiện. Trước hết, ngài cho người lên thị xã tiếp xúc với Ty Nông Nghiệp, đặt mua nhiều cây giống đem về trồng trên bãi sông vừa có bóng mát cho dân chúng nghỉ chân vào mùa nắng, vừa có gỗ dùng. Ngài khuyến khích mỗi gia đình trồng cây và săn sóc cây. Loại cây dương liễu mọc rất nhanh, mấy năm sau đã thấy chúng cao lớn có thể lấy gỗ làm cầu được rồi. Ngài đã nhờ một chuyên viên thiết kế một cây cầu gỗ rồi vận động tiền bạc, nhân lực trong vòng chưa đầy một năm đã làm xong. Các loại xe chuyên chở nhẹ hai bánh, ba bánh hay bốn bánh đều có thể qua lại được. Mỗi tuần, ngài thường đi xe đạp đến Xóm Giàng sinh hoạt với trẻ em và dân chúng... Ngài cũng vay vốn mua một chiếc tàu máy chạy đường sông để đưa khách và chuyên chở sản phẩm địa phương như rau, quả, tôm, cá, gà, vịt, heo, bắp, đậu, lúa, gạo, v.v... lên chợ tỉnh để bán. Do đó, thu nhập của người dân Xóm Giàng cũng như trong vùng đã gia tăng rất nhiều.
Thỉnh thoảng Bà Bề Trên Dòng Mến Thánh Giá ở tỉnh đi xe kéo về thăm các nữ tu và trường tiểu học của giáo xứ... Theo luật xưa, nữ tu không được đi một mình khi ra ngoài nên mỗi lần Bà đi đâu thì có hai chị nhỏ đi theo. Bà đã lớn tuổi, răng đen và thích ăn trầu. Bà ngồi trên xe hai bánh do một anh phu xe lực lưỡng cầm càng kéo đi, hai nữ tu chạy bộ theo, một chị mang cau trầu, một chị mang thuốc lá. Anh phu xe chạy nhanh, hai chị chạy theo không kịp. Bà có thói quen ăn trầu phải thêm một miếng thuốc lá bỏ vào miệng, bà ngồi trên xe kéo, mắt nhìn thẳng về phía trước, đưa tay phải ra để nhận miếng trầu rồi lại đưa tay trái ra để nhận miếng thuốc lá. hai nữ tu trẻ tuổi phải cố chạy cho kịp để trao tận tay bà mà không bị rớt xuống đường.
Anh phu xe thì không để ý gì đến công việc của hai chị, cứ xả hết tốc lực mà chạy làm cho hai chị toát mồ hôi trán. Hai chị được trao công tác đi hộ tống Bà cũng là người có khả năng và có kinh nghiệm. Cái danh dự là được ở bên cạnh Bề Trên nên các chị trong Dòng nhiều người cũng mơ ước được chọn vào địa vị ấy. Chạy theo bà lâu ngày nên cặp giò của hai chị cũng được luyện tập dẻo dai, nếu có cuộc thi chạy Marathon thì chắc hai chị cũng đã đoạt giải vô địch rồi.
Mỗi năm Bà về thăm một lần, các nữ tu tập họp học sinh toàn trường khoảng trên một trăm em, cũng có văn nghệ hát hò, diễn kịch để chào mừng. Tất nhiên, trường cũng mời Cha Xứ và các vị chức sắc trong hội đồng giáo xứ đến dự và sau đó, có một bữa tiệc nhẹ để mời Bà và quan khách. Bà cũng không quên mang theo kẹo để làm quà cho các em học sinh, mỗi đứa được một hai cái kẹo bi hay kẹo cau là loại kẹo đường có hình viên bi hay miếng cau.
Đời sống của giáo dân bên giáo xứ vui vẻ, no đủ hơn bên Xóm Giàng nên Cha Xứ thường để tâm lo lắng cho Xóm ấy nhiều hơn. Thời tiết từ tháng Mười trở đi đến lễ Giáng Sinh ở miền Trung thường hay có mưa bão, đường sá lầy lội nên một tuần trước ngày lễ, Cha Xứ thường hô hào dân chúng qua bên kia sông chở cát về rải trên các lối đi quanh nhà thờ và trong làng để mọi người đi lễ được sạch sẽ. Ngoài ra, ngài cũng nhắc nhở các gia đình phát quang, chặt bớt nhánh cây tre đổ xuống đường, dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị làm lồng đèn, treo cờ, trang trí máng cỏ. Đặc biệt vùng này người ta thích làm đèn sao với hình chạm nổi hoa văn, hình Chúa, Mẹ, máng cỏ, thiên thần và loại đèn cù khi thắp nến bên trong thì đèn xoay quanh, hình ảnh dần hiện lên trông rất đẹp.
Trước lễ Giáng Sinh một tuần, trời tạnh ráo, cả giáo xứ hân hoan chuẩn bị mừng lễ thật long trọng: nào là máng cỏ, làm đèn chạm, sửa sang đường sá, nhốt gà vịt vào lồng để dành sẵn làm thịt. Nhưng trước lễ một hôm, trời trở rét, mưa dầm rất trở ngại cho việc tổ chức ngày lễ... Cha Xứ rất lo lắng, ngài đi ra đi vào nhắc nhở anh em. Mặc dù thời tiết trở ngại nhưng anh em vẫn tiếp tục làm máng cỏ, làm đèn, đi xưng tội, dọn mình... Vào khoảng 5 giờ chiều, có người ghé qua nhà Cha, đứng ở ngoài nói vọng vào:
- Thưa Cha, có ông Bính ở Xóm Giàng đau nặng, xin Cha đến cho ông ấy xưng tội và chịu Mình Thánh Chúa...
Nói xong, người đó đi ngay. Cha không kịp hỏi thêm được điều gì.
Cha mặc áo mưa, mang Mình Thánh Chúa trong người, lên xe đạp ra đi khi trời tối. Mưa lũ, nước sông lênh láng ngập bờ, ngài lầm lũi đi qua con đường làng ra tới cầu gỗ, thẳng đến xóm nhà dân chài. Mọi người đều đã đi đánh cá ngoài khơi cả rồi, không còn một ai ở nhà để đón tiếp nên Cha tự đi tìm nhà người bệnh. Ngài đi qua nhiều ngỏ ngách dẫn vào một con đường hẻm lối đi chật hẹp, nhà cửa lụp xụp, nghèo nàn. Ngài dừng lại trước một căn nhà tranh nhỏ bé bên trong có ánh đèn leo lét và cất tiếng gọi:
- Có phải nhà ông Bính đây không?
Nhưng không có tiếng trả lời. Cha Xứ đứng trước cổng nhà một lúc như để nhận định cho đúng mục tiêu: Phải rồi, đây chính là nhà có người đang đau nặng...
Cha liền để xe đạp bên thềm rồi đẩy cửa bước vào nhà, chưa kịp cởi áo mưa. Qua ánh đèn dầu leo lét, ngài thấy có một người ốm o gầy còm đang nằm trên chiếc giường tre ọp ẹp. Cha đưa tay vặn to ngọn đèn lên cho sáng rồi đi đến gần người bệnh. Khi Cha vừa đến nơi thì bỗng người đàn ông đang nằm trên giường nhảy chồm lên ôm chầm lấy ngài, rồi thè lưỡi ra thật dài liếm áo Cha từ trên cổ xuống tận ngực nghe sột soạt như tiếng mài dao. Nhưng Cha vẫn bình tĩnh đứng yên không có một phản ứng nào. Một phút sau, người đó buông tay ra và nói:
- Cha đi xuống bếp múc cho con một gáo nước. Con bị lên cơn sốt mấy hôm rồi...
Cha liền hiểu ra cử chỉ vừa rồi của người bệnh là vì khát quá nên đã ôm choàng lấy Cha và liếm những hạt nước còn đọng trên áo đi mưa của ngài.
Sau khi cho người bệnh uống hết một gáo nước, Cha thấy anh ta tỉnh táo trở lại và bắt đầu cho anh xưng tội, chịu Mình Thánh Chúa. Cha an ủi, hỏi thăm bệnh tình và trao cho anh mấy viên thuốc sốt rét và thuốc cảm cúm mà Cha thường mang theo khi đi thăm bệnh nhân.
Hôm sau là ngày lễ Giáng Sinh, cả giáo xứ hân hoan tổ chức lễ thật long trọng. Đặc biệt năm nay anh em có làm một hang đá thật vĩ đại với cảnh trí của thành Bê Lem, những lâu đài, nhà cửa, núi non, suối nước chảy, tuyết đọng trên những tàn cây. Ngôi sao lạ chiếu xuống tượng Chúa Giêsu Hài Đồng đặt trong máng cỏ bên cạnh tượng Đức Mẹ, Ông Thánh Giuse còn có các mục đồng và chiên, lừa,v.v... Ban đêm, khi thắp đèn lên thấy ánh sáng từ cửa sổ các lâu đài giống như nơi đó đang có người ở vậy. Trước khi cử hành Thánh Lễ nửa đêm, ca đoàn đã trình bày những bài hát về lễ Giáng Sinh và các em nhỏ trong giáo xứ đã diễn lại sự tích ngày Thiên Chúa Ngôi Hai ra đời. Có hai em bé được hóa trang làm thiên thần xuất hiện trong màn Bảo mục đồng hát câu: Vinh danh Thiên Chúa trên trời; bằng an dưới thế cho người thiện tâm để báo tin cho các mục đồng đang chăn chiên, bò lừa ngoài đồng vắng được biết tin Con Thiên Chúa ra đời. Tiếp đến là các mục đồng nghèo khó, rách rưới, trong đêm Đông lạnh giá, nhìn thấy sao lạ và nghe tiếng hát thiên thần... đã vội vàng bảo nhau hãy nhanh chân đến hang đá để thờ lạy Chúa Hài Đồng. Hoạt cảnh rất linh động làm cho mọi người không phân biệt lương giáo đang có mặt trong nhà thờ đều sốt sắng hướng lòng về Thiên Chúa trên trời mà cầu nguyện. Cha Xứ nói tiếng Việt rất giỏi, đã thuyết giảng về ý nghĩa ngày lễ Giáng Sinh. Bài giảng của ngài không chỉ dành riêng cho người Công Giáo mà còn hướng về quan khách và đồng bào bên lương ở trong xã đã đến dự lễ với giáo dân. Cha đã nêu cao tình đoàn kết lương giáo, ngài thường giúp đỡ dân trong vùng những lúc thiên tai bão lụt, cho họ thực phẩm, quần áo, thuốc men. Cha thường khuyến khích giáo dân tham gia mọi sinh hoạt trong xã thôn cùng với mọi người, không phân biệt tôn giáo, nhất là các công tác văn hóa, xã hội, từ thiện. Người bên lương cũng cho con cháu đi học trường Công Giáo nên họ rất có cảm tình với Cha và các giáo viên, đặc biệt là các nữ tu.