Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
V. THẤT CU CHI PHẬT MẪU SỞ THUYẾT ĐÀ-LA-NI KINH.
Đường Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Tỳ khưu Thích Viên Đức dịch Hán ra Việt văn.


Như thị ngã văn, nhất thời, Bạt-già-phạm, tại danh xưng là Đại Thành, Thệ-đa lâm, Cấp Cô Độc viên, cùng Đại Tỳ-khưu chúng, các chư Bồ Tát và chư Thiên Long Bát Bộ trước sau đoanh vây chung quanh. Nghĩ thương chúng sanh đời vị lai bạc phước, liền nhập Chuẩn Đề Tam-ma-địa, nói quá khứ Thất Cu-chi Phật đã nói Đà-ra-ni rằng: NAM MÔ TÁT ĐA NẪM, TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ CU CHI NẪM, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN, CHIẾT LỆ, CHỦ LỆ, CHUẨN ĐỀ, TA BÀ HA. Nếu có người tu hành Chơn Ngôn, xuất gia hay tại gia Bồ Tát tụng trì Đà-ra-ni này, mãn chín mươi vạn biến, những tội đã tạo trong vô lượng kiếp như: thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, ngũ vô gián thảy đều tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào, thường gặp chư Phật, Bồ Tát, giàu có nhiều của báu, thường được xuất gia. Nếu có tại gia Bồ Tát tu trì giới hạnh kiên cố không lui, tụng Đà-ra-ni này, thường sanh cõi trời, hoặc trong cõi người, thường làm bậc quốc vương, không đọa ác thú, gần gũi hiền thánh. Chư Tiên kính ái ủng hộ gia trì, nếu có việc kinh doanh trong đời, không bị các tai hoạnh. Nếu xuất gia Bồ Tát, đầy đủ các cấm giới, ba thời niệm tụng y giáo tu hành. Hiện đời sở cầu xuất thế gian tất địa, định tuệ hiện tiền, chứng địa vị Ba-la-mật viên mãn, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.

Nếu tụng mãn một vạn biến tức nơi trong mộng thấy Phật, Bồ Tát, liền thổ ra vật đen (vật đen tiêu biểu cho ác nghiệp, mửa ra là tướng tội diệt phước sanh nên tự thấy trong miệng mửa ra vật đen hoặc cơm đen). Người kia nếu tội rất nặng tụng hai vạn biến, tức trong mộng thấy các thiền đường, tự, xá; hoặc lên núi cao hoặc thấy trên cây cao (không bị hệ lụy về tội nghiệp, nên nhẹ bước đi lên, thành tựu thiên nhơn, nên thấy Thiền đường, Tự xá). Hoặc nơi trong ao lớn tắm rửa (rửa trừ tội cấu được thân thanh tịnh). Hoặc thấy bay bổng lên hư không (không bị tội nghiệp ràng buộc nên thân khinh cử nhẹ nhàng). Hoặc thấy cùng các Thiên nữ an vui khoái lạc (nghĩa là do sức thiện căn giữ gìn tương ứng nên thấy cùng vui khoái lạc).

Hoặc thấy thuyết pháp (được thị giáo lợi hỷ): dạy dỗ lợi ích vui mừng. Hoặc thấy nhổ tóc, cạo tóc (nhổ tóc là phép của Tây Quốc ngoại đạo, nhổ tóc cạo tóc, đều là tiêu biểu đoạn trừ căn gốc, phiền não). Hoặc ăn sữa cơm, uống bạch cam lồ (ăn sữa cơm là thành tựu thế gian phước thiện, uống cam lồ là được pháp vị xuất thế). Hoặc vượt sông lớn, biển lớn (được vượt qua bể khổ). Hoặc thăng lên tòa sư tử (đắc được tòa Pháp Vương). Hoặc thấy cây Bồ Đề (là kiến đạo tướng). Hoặc thừa thuyền (là thừa nương thuyền Bát nhã, được tướng lên bờ giải thoát).

Kinh Tô-tất-địa nói: Hoặc thấy Sư tử, Voi, Trâu, Nai, Ngỗng v.v… đều là tướng Tất-địa thành tựu. Hoặc thấy Sa-môn (được xa lìa nhiễm ô ở đời mà ra khỏi tam giới). Hoặc thấy cư sĩ lấy áo trắng, áo vàng che đầu (vàng là tiêu biểu cho chánh, trắng là tiêu biểu cho tịnh, lấy bạch tịnh chánh pháp mà phù hộ). Hoặc thấy mặt trời, mặt trăng (tiêu biểu phá vô minh phiền não tối tăm). Hoặc thấy kẻ đồng nam, đồng nữ (không bị tham dục phiền não nhiễm ô).
Hoặc trên cây có trái nhũ quả (nhũ nghĩa là trắng, trắng đó là thiện nghiệp, nghĩa là được Thế, Xuất thế gian thiện nghiệp quả báo). Hoặc thấy người hắc trượng phu trong miệng phun ra lửa hừng hẫy, cùng đấu chiến với họ mà được thắng (nghĩa là cùng với sân phiền não ma cùng chiến được thắng). Hoặc thấy trâu nước, ngựa dữ đến chạm húc, người trì tụng hoặc đánh hoặc nạt sợ mà bỏ chạy (nghĩa là si phiền não ma, mình được thắng). Hoặc ăn sữa tươi, cháo, sữa chín, cơm (nghĩa là được thiện vị phước thiện thành tựu). Hoặc thấy Tô-ma-na hoa.22 Hoặc thấy bậc quốc vương (được Đại Nhơn hộ niệm, được nghiệp tôn quý thù thắng).

Nếu không thấy những cảnh giới như vậy đó, phải biết người này đời trước đã tạo tội ngũ vô gián, nên trở lại tụng mãn bảy mươi vạn biến, liền thấy cảnh giới như trên, tức biết tội diệt liền thành Tiên hạnh.

Nhiên hậu23 y pháp họa vẽ bổn tượng (Chuẩn Đề Bổn Tôn Tượng), hoặc ba thời, hoặc bốn thời, hoặc sáu thời, y pháp cúng dường của thế gian, xuất thế gian Tất địa, cho đến Vô Thượng Bồ Đề, tất cả đều được, nếu có tu trì Đà-ra-ni này, phải biết vị lai thành tựu, xứ sở có nạn hay không nạn, Tất địa chậm mau nên ở nơi tịnh thất, lấy Cù-ma-di24 thoa đắp một tiểu đàn, tùy sức cúng dường.
Lấy kiết giới Chơn Ngôn, kiết mười phương giới (bốn phương, bốn phương bàn, trên dưới). Lấy một bình nước hương thơm để tại trong đàn, nhất tâm niệm tụng bình kia động chuyển, nên biết chỗ đã làm, việc sở cầu thành tựu, nếu không động chuyển việc kia không thành.

Lại phép nữa: dùng một cái bát sành mới, thoa đắp hương thơm để nơi trong đàn, chuyên tâm niệm tụng, nếu cái bát kia chuyển động, việc tức thành tựu, nếu không động chuyển, việc tức không thành.

Lại phép nữa: muốn biết việc vị lai, trước thoa đắp một đàn nhỏ, khiến một đồng tử có đủ tướng phước đức, tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục mới thanh tịnh, dùng Thất Cu Chi Chơn Ngôn gia trì hương thơm thoa vào tay đồng tử, lại gia trì nơi cành hoa bảy biến, để trong tay đồng tử, khiến đồng tử che mặt đứng nơi trong đàn, lại lấy một cành hoa khác tụng Chơn Ngôn gia trì một biến đánh lưng tay đồng tử một cái cho đến hai mươi mốt lần, liền hỏi đồng tử việc lành dữ, đồng tử đều nói.

Lại phép nữa: lấy một cái kính soi sáng để trong đàn, trước tụng Chơn Ngôn gia trì cành hoa 108 biến, vậy sau lại tụng Chơn Ngôn một biến đánh vào mặt gương một cái, nơi trên mặt gương liền có văn tự hiện nói việc thiện ác.

Lại phép nữa: muốn biết việc lành hay không lành, thành tựu hay không thành tựu. Lấy dầu thơm Tô-ma-na hoa, tụng Chơn Ngôn gia trì 108 biến, thoa mặt ngón tay cái bên hữu, tụng Chơn Ngôn âm thanh không đoạn dứt, khiến đồng tử xem trên mặt ngón tay, hiện hình tướng chư Phật, Bồ Tát, hoặc hiện văn tự nói đủ thiện ác.

Lại phép nữa: nếu có người bị quỷ mị làm bịnh, lấy nhánh dương liễu hoặc nắm cỏ tranh, tụng Chơn Ngôn đập phủi lên thân người bịnh, tức được trừ lành.

Lại phép nữa: nếu người mắc trọng bịnh tụng Chơn Ngôn 108 biến xưng tên người bịnh, lấy sữa bò tươi hộ ma tức lành bịnh.

Lại phép nữa: nếu có hài nhi khóc dạ đề (khóc ban đêm) khiến đứa gái nhỏ bên mặt se chỉ, tụng Chơn Ngôn gia trì gút hai mươi mốt gút, đeo nơi cổ trẻ hài nhi, tức không khóc dạ đề nữa.

Lại phép nữa: trước gia trì nơi bạch giới tử (hạt cải trắng) 108 biến, nhiên hậu lấy giới tử tụng Chơn Ngôn, một biến ném vào người bị bịnh quỷ mị, mãn hai mươi mốt biến quỷ mị kia chạy trốn, người bịnh trừ khỏi.

Lại phép nữa: hoặc có bịnh quỷ mị, lấy Cù-ma-di thoa một cái tiểu đàn, lấy than trấu vẽ nơi đất làm thành hình quỷ mị, tụng Chơn Ngôn lấy thạch lựu làm các roi gậy, quỷ kia khóc la trốn bỏ chạy mà đi.

Lại phép nữa: hoặc người bị quỷ mị làm đau ốm, mà người bịnh ở viễn xứ xa xôi, không thể tự đến được, hoặc người trì tụng không đến nơi bịnh nhơn, lấy nhánh dương liễu hay nhánh đào hoặc cành hoa, gia trì thần chú 108 biến, sai người đem đến chỗ bịnh nhơn đập phủi trên thân bịnh nhơn, hoặc lấy hoa bảo người bịnh ngửi, hoặc lấy hoa đánh bịnh nhơn, quỷ mị tức đi, người bệnh liền khỏi.

Lại phép nữa: nếu bị rắn mổ, hoặc bị quỷ nữ Noa-kiết-nê25 bắt giữ, đi xung quanh bịnh nhân tụng Chơn Ngôn, bịnh kia khiến khỏi.

Lại phép nữa: nếu người mắc bịnh ung nhọt sưng v.v… và bị các độc trùng cắn lấy đàn hương nhồi dẻo hòa với đất làm bùn, tụng Chơn Ngôn bảy biến thoa lên mụt ghẻ tức lành.

Lại phép nữa: nếu người đi đường, tụng Chơn Ngôn này, không bị giặc cướp làm thương tổn, cũng xa lìa các nạn ác cầm thú.

Lại phép nữa: nếu có sự lý luận tranh tụng, đấu tranh, và đàm luận cầu hơn, tụng Chơn Ngôn này là thắng mạnh hơn hết.

Lại phép nữa: nếu đi trong sông sâu biển lớn, tụng Chơn Ngôn này không bị trôi chìm, và trong nuớc có các loài ác long, ma yết, cá sấu, cá mập làm tổn hại.

Lại phép nữa: nếu bị giam cầm tù tội, người ấy trì tụng thần chú Chuẩn Đề này, mau được giải thoát.

Lại phép nữa: nếu trong nước có tật bịnh, mười đêm lấy dầu mè, bột gạo thơm, hòa với bơ, mật, làm phép Hộ ma tức được tai diệt, quốc độ an ninh.

Lại phép nữa: nếu cầu giàu có nhiều của báu, mỗi ngày lấy các món ăn làm phép Hộ ma tức được tiền tài của báu giàu có.

Lại phép nữa: nếu muốn người kính thương, vui mừng ấy, trong Chơn Ngôn xưng tên người kia tức được hoan hỷ thuận phục.

Lại phép nữa: nếu không có y áo niệm tụng tức được y áo.

Lại phép nữa: trong ý mong cầu niệm tụng đều được như ý.

Lại phép nữa: nếu người thân thể chi tiết đau nhức, gia trì trong tay hai mươi mốt biến thần chú, xoa bóp chỗ đau tức khỏi.

Lại phép nữa: nếu mắc bịnh sốt rét và đau đầu, niệm thần chú gia trì nơi tay hai mươi mốt biến xoa bóp cũng được trừ lành.

Lại phép nữa: thoa đắp một đàn nhỏ, lấy một cái bát đồng đựng đầy tro củi thơm thanh tịnh, bảo đồng tử hai tay đè trên bát tro, người trì tụng nên tụng thần chú, sứ giả của bổn tôn nhập vào thân của đồng tử, bát kia liền chuyển động, tức xuống lời đồng tử, tức tự kiết tam bộ Tam Muội gia ấn, tức tụng tam bộ Chơn Ngôn, liền lấy đá mềm trơn, viên phấn đưa qua cho đồng tử, đồng tử tức nơi trên đất, họa vẽ việc quá khứ, vị lai, tốt, xấu, lành, dữ, và thất lạc kinh luận, quên mất nghĩa khó, ấn chú tức được biết rõ.

Lại phép nữa: hai bên quân địch nhau, viết Đà-ra-ni này trên vỏ cây hoa, treo trên cây sào tre, bảo người tay cầm tụng Chơn Ngôn, địch kia tức phá tan.

Lại phép nữa: nếu người nữ không có con trai hay con gái, lấy ngưu huỳnh, nơi trên vỏ cây hoa viết thần chú này, khiến đeo không lâu sẽ có con trai hay con gái.

Lại phép nữa: lại có người nữ chồng không kính trọng, lấy một cái bình mới đựng nước đầy, nơi trong bình để đồ thất bảo (vàng, bạc, ngọc, v.v…) và các linh dược, ngũ cốc, bạch giới tử (hạt cải trắng), lấy dây lụa trắng buộc nơi cổ bình, dùng Chơn Ngôn gia trì 108 biến, bảo người nữ kiết căn bản ấn (ấn Chuẩn Đề) để an trên đỉnh đầu, lấy nước rót tưới vào đỉnh đầu, tức được yêu thương kính trọng, chẳng những kính trọng cũng có con ở trong thai được an ổn.

Lại phép nữa: người hành giả mỗi khi niệm tụng, kiết đại ấn tụng Chơn Ngôn in tháp, mãn sáu mươi vạn biến việc sở cầu tức được đầy đủ. Quán Tự Tại Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Đa La Bồ Tát, tức vì hiện thân sở cầu như ý, hoặc làm vua trong cung A-tu-la, hoặc được Bồ Tát địa, hoặc được thuốc trường niên, hoặc được kính ái pháp thành tựu.

Lại phép nữa: nơi Bồ Đề đạo tràng, ở trước Đại Chế-để,26 tụng Đà-ra-ni này được thấy Thánh Tăng chung nói chuyện, và Tất địa thành tựu, được chung kia đồng hành, tức đồng bậc Thánh Tăng kia vậy.

Lại phép nữa: nơi trên đỉnh núi cao, niệm tụng một câu chi biến (một trăm ức biến)27 Kim Cang Thủ Bồ Tát tức đem người này, lãnh 560 người đồng vào cung điện A-tu-la, thọ mạng một kiếp, được thấy Đức Di Lặc Bồ Tát, thính văn chánh pháp, nghe pháp rồi chứng được địa vị Bồ Tát không thoái chuyển.

Lại phép nữa: trên núi Tỳ-bổ-la (núi đây ở Ma kiệt quốc. Lại nói rằng: chỉ có núi cao cũng được), Trước tượng tháp Xá Lợi niệm tụng, tùy sức dùng hương hoa cúng dường, xin vật để nuôi thân mạng, theo tháng ngày mùng một đến ngày rằm, tụng Đà-ra-ni mãn ba mươi vạn biến, lấy ngày mãn đó, một ngày một đêm không ăn, bội thêm sự cúng dường. Đến cuối đêm tức thấy Kim Cang Thủ Bồ Tát, đem người tu hành đến tự trong cung, vì hành giả chỉ bày cửa hang A-tu-la. Vào trong hang được cam lồ của trời, sống lâu bằng mặt trời, mặt trăng.

Lại phép nữa: nơi Tam đạo Bảo giai, chỗ Bảo tháp từ trên trời xuống, hành giả xin ăn, nhiễu quanh tụng câu chi biến, một trăm ức biến, tức thấy Vô Năng Thắng Bồ Tát cùng nguyện vì nói diệu pháp, chỉ bày đạo Vô Thượng Bồ Đề. Hoặc thấy A Lợi Để Mẫu28 đem người này vào trong cung mình, cho thuốc trường niên, hoàn đồng niên thiếu, đoan chánh đáng mừng.
Lại được phục tàng của báu giấu kín,29 đại nhơn hứa khả,30 nên rộng làm lợi ích tam bảo. Được tất cả Bồ Tát an ủy,31 chỉ bày chánh đạo cho đến Bồ Đề đạo tràng.

Lại phép nữa: nếu người không có túc căn lành,32 không có giống Bồ Đề, không tu Bồ Đề hạnh, vừa tụng một biến thì sanh mầm Bồ Đề pháp huống gì thường hay niệm tụng thọ trì.

VI. THẤT CU CHI ĐỘC BỘ PHÁP
Đời Đường, Tam Tạng Sa môn THIỆN VÔ UÝ dịch Phạn ra Hán.
Sa môn HIỂN CHƠN dịch Hán ra Việt.


Tổng nhiếp hai mươi lăm bộ đại Mạn-đà-la Ấn CHUẨN ĐỀ BIỆT PHÁP. Trước tay trái, ngón trỏ, ngón áp út vô danh, ngón út để vào lòng bàn tay, kế lấy ngón tay cái bấm trên móng ngón trỏ, ngón út, ngón vô danh. Tay phải cũng làm y như vậy. Hai đầu ngón tay giữa hiệp lại đứng, kế đó tụng chú CHUẤN ĐỀ bảy biến.

Kiết giới ấn: Tả hữu hai tay để ngón giữa ngón vô danh vào lòng bàn tay, hai ngón út đứng thẳng, hai ngón trỏ hiệp nhau đứng, hai ngón cái đều bấm đốt giữa cùng ngón trỏ, kế tụng chú CHUẨN ĐỀ hai mươi mốt biến, tụng chú ÚM XỈ LÂM hai mươi mốt biến.

Bắt ấn hộ thân: hai bàn tay chắp lại, hai ngón trỏ tráo lại hai đầu ngón trỏ để ra ngoài, hai ngón cái đều bấm lóng giữa của ngón trỏ, còn ngón giữa, ngón vô danh, ngón út đứng thẳng.

Nếu gặp đạo tặc, bắt ấn này, để trên đầu và chuyển sang hai vai, xuống ngực đưa lên trán, giữa chân mày, thì đạo tặc chẳng dám xâm phạm.

Bắt ấn trị bịnh: hai ngón tay trỏ và hai ngón giữa để trong lòng bàn tay tréo lại, hai ngón vô danh, hai ngón út hiệp lại đứng thẳng. Ngón tay cái bấm đốt giữa ngón trỏ.

TỔNG NHIẾP ẤN: hai tay phải, trái, ngón út, vô danh, tréo để vào lòng bàn tay, hai ngón giữa đứng thẳng hiệp hai đầu ngón lại, mở hai ngón trỏ hơi cong cong, hai ngón cái đè lên ngón vô danh.

Lúc nào triệu thỉnh, cũng bắt y như vậy; nhưng hai đầu ngón cái để cụng vào nhau, giống hoa đài tọa. Tụng chú CHUẨN ĐỀ bảy biến, lấy ấn để hai bên vai, lên mặt, giữa khoảng hai chân mày, lên mái tóc, xuống ngực và tụng chú CHUẨN ĐỀ 108 lần.

PHÁ THIÊN MA ẤN: Tả hữu bốn ngón, áp trên ngón cái, trong lòng bàn tay, nghi chỗ nào có MA, QUỶ, ĐỘC LONG thì bắt ấn này tụng chú CHUẨN ĐỂ.

THỈNH QUỶ THẦN ẤN: hai bàn tay phải trái, dùng ngón giữa áp trên ngón cái, án lên trên cái đàn, các ngón tay còn lại, đều ngay giống như ngà voi đứng, chỉ hơi cong ngón trỏ, ngón út qua lại tụng chú CHUẨN ĐỀ bảy biến, tất cả quỷ thần đều đến.

Phật dạy: Chú và ấn này có công năng diệt trừ thập ác, ngũ nghịch, tất cả tội nặng, thành tựu tất cả thiện pháp công đức. Ai thực hành theo pháp trì chú này, chẳng riêng gì cho người tại gia hay người xuất gia. Nếu người tại gia còn uống rượu, ăn thịt có vợ con chẳng phân là tịnh, uế chỉ họ y theo pháp ta dạy đâu chẳng kết quả tốt.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
VII. NGŨ BỘ CHÚ – TINH HOA CỦA MẬT TÔNG PHẬT GIÁO.
CHƠN NGÔN: ÚM LAM (hoặc riêng trì chữ Lam cũng được, Lam hoặc Lãm)
umlam.jpg

Chữ Lam tịnh pháp giới này, nếu tưởng hoặc tụng, hay khiến ba nghiệp thảy đều thanh tịnh, tất cả tội chướng tận diệt tiêu trừ. Lại hay thành tựu xong xuôi tất cả việc thù thắng, tùy chỗ trụ xứ thảy được thanh tịnh, y phục không tịnh lại được tịnh y, thân không tắm rửa lại được sạch sẽ. Nếu dùng nước làm sạch không gọi là chơn tịnh, nếu gồm pháp giới tâm, Lam Tự này tịnh đó, tức gọi rốt ráo thanh tịnh bình. Như một hạt linh đơn, điểm sắt thành vàng báu. Một chữ Chơn Ngôn biến nhiễm thành tịnh. Kệ rằng:
Ra tự sắc trắng sạch
Không điểm trang nghiêm đó.

(Chữ Phạn RA
ra.jpg
trên an không điểm tức thành chữ LAM vậy)
lam.jpg

Như trên đảnh kia minh châu để nơi nhục kế, Chơn Ngôn đồng pháp giới, vô lượng các tội trừ. Tất cả chạm chỗ uế, phải gia Tự môn này. Cho nên Liên Hoa Bộ Niệm Tụng Pháp nói: nếu chạm chỗ dơ uế, phải quán tưởng trên đảnh có chữ pháp giới sanh ra, phóng ánh sáng sắc đỏ. Nghĩa là LAM tự vậy.

(Nếu thật không có ngoại duyên đầy đủ, không nước tắm rửa, thiếu y mới thanh tịnh, dùng chữ LAM này tịnh đó, nếu ngoại duyên đầy đủ mà không tắm rửa thay áo mới, để làm phép tịnh này là người không có lòng cung kính, là người biếng nhác, chính là lỗi khinh mạn vậy. Như thế làm sao sanh phước diệt tội, được thành tựu việc sở cầu Tất Địa? Nếu trước như pháp tắm rửa sạch sẽ, mặc y mới thanh tịnh, lại dùng Chơn Ngôn này tịnh nữa, tức trong ngoài thanh tịnh, việc mong cầu sẽ mau được linh nghiệm).

VĂN THÙ NHỨT TỰ CHƠN NGÔN: ÚM XỈ-LÂM.

Chữ Phạn: Úm xỉ-lâm
umxilam.jpg

Chữ xỉ-lâm này là hai âm (nhị hiệp), hoặc ba âm (tam hiệp): Thất-li-long, hoặc bốn âm (tứ hiệp): Thể-li-hê-dâm. Ngài Nghĩa Tịnh dịch: Thất-lạc-hê-diêm. Bốn chữ như vậy hợp làm một tiếng, mới thành Phạn âm một chữ. Như không thể hiểu rành Phạn âm, thì thật khó được chơn diệu. Một chữ Vương Chú này, công lực rất lớn không thể nghĩ bàn.

Hình ảnh
Đại Trí Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát


Như Văn Thù Nhất Tự Đà-ra-ni Pháp nói: Đức Thế Tôn bảo các chư Thiên rằng: Nên biết Đà-ra-ni này là vua lớn trong các Chú, có đại Thần lực. Nếu có người trai lành, gái tín, hay thọ trì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thường đến ủng hộ. Hoặc khi thức, hoặc trong chiêm bao, vì hiện thân tướng và các việc lành. Chú này còn hay nhiếp được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, huống các Bồ Tát và các chúng Hiền Thánh, Thế,33 Xuất thế gian.34 Chú này có công năng tiêu trừ tất cả tội ngũ nghịch, tứ trọng và nghiệp thập ác. Nên biết Chú này đối với các Thần chú trong thế gian và xuất thế gian rất là thù thắng hơn hết. Là tâm của chư Phật hay khiến tất cả các sở nguyện thảy đều đầy đủ. Khi chưa làm phép (tác pháp) tức hay thành tựu tốt đẹp các việc như ý.

Nếu phát vô thượng đại Bồ Đề tâm, tụng một biến có năng lực thủ hộ tự thân mình. Nếu tụng hai biến có năng lực thủ hộ đồng bạn. Nếu tụng ba biến có năng lực thủ hộ người trong một nhà. Nếu tụng bốn biến có năng lực thủ hộ người trong một thành.
Nếu tụng năm biến có năng lực thủ hộ người trong một nước. Nếu tụng sáu biến có công năng thủ hộ người trong nhất thiên hạ. Nếu tụng bảy biến có công năng thủ hộ người trong tứ thiên hạ.
Nếu trong mỗi buổi sớm mai tụng một biến chú này trong nước rửa mặt hay khiến người thấy sanh lòng hoan hỷ.
Còn nói rằng: Nếu có chúng sanh bị Phi Đầu Quỷ bắt giữ, lấy tay mình thoa nơi mặt người kia, tùng chú 108 biến, làm ra tướng mạo đáng sợ, liền lấy tay trái kiết bổn sanh ấn (lấy ngón tay cái co để trong lòng bàn tay, bốn ngón sau nắm ngón tay cái lại, hình như cầm cú) tức tự nộ hét, đôi mắt ngầm nghiêm, tụng thần chú này mà thoa vào người bịnh, hoạn bệnh tức trừ.
Nếu tất cả quỷ gây làm hoạn bịnh, dùng chú này chú vào tay mặt 108 biến, thiêu An tức hương xông đó, tay trái kết ấn Bổn Sanh, tay mặt xoa vào đầu bịnh nhơn, bịnh tức trừ lành.

Nếu muốn đi qua tất cả chỗ hiểm nạn, sư tử, hổ lang, độc xà, oán tặc nên cần phải thân tâm không được gần gũi người nữ và ăn đồ ngũ tân, tất cả rượu thịt, đối các chúng sanh khởi đại bi tưởng, chí tâm tụng chú 49 biến, thì các oán ác tự nhiên lui tản, giả như có gặp cũng đều hoan hỷ.
Chú này có những chúng sanh, hoặc một kiếp, hoặc vô lượng kiếp, cho đến danh tự cũng không thể nghe được, huống gì được thấy mà chuyên tâm trì tụng, Đà-ra-ni này hay khiến chúng sanh hiện đời và đương lai thường được an ẩn, cùng các Như Lai và chúng đại Bồ Tát, thường làm quyến thuộc. Vậy cho nên phải ân cần sanh tâm tưởng khó gặp, không nên khinh nhẹ, khởi nghi hoặc tâm, rộng như các kinh đã nói, không thể chép hết.

LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN
- Úm ma ni pát mê hum.
- Úm ma ni bát di hồng.
- Úm ma ni pết-nạp minh hồng.

Chơn Ngôn Phạn Tự:
Chon-ngon-Phan-Tu.jpg

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương nói: Khi bấy giờ đức Quán Tự Tại Bồ Tát nói Thần Chú Đại Minh này, bốn đại bộ châu và cung điện của các cõi trời, thảy đều rung động, nước bốn biển lớn, nổi sóng ào ạt, hết thảy các ma làm việc chướng ngại sợ hãi chạy trốn tản mất.

Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Đại Minh Đà-ra-ni này, khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Đại Minh Vương đây thì người đó tham, sân, si độc không thể nhiễm ô, nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn Ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn không biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được? Đây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu người nào hay thường thọ trì chú Đại Minh này ở lúc trì tụng có chín mươi chín căn già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ Tát tập hội, lại có vô số Thiên Long Bát Bộ đến để hộ vệ người ấy. Người trì tụng Thần chú này bảy đời dòng họ đều sẽ được giải thoát, trong bụng có loài trùng sẽ được địa vị bất thoái chuyển của Bồ Tát.

Nếu đeo trì trong thân trên đảnh, có người được thấy người đeo trì ấy cũng như đồng thấy thân Kim Cang của Như Lai. Nếu hay ý pháp niệm tụng, tức được vô tận biện tài, ngày ngày thường đủ sáu Ba-la-mật viên mãn công đức. Nếu trong miệng hơi thở ra chạm vào người nào, người đó liền khởi tâm lành xa lìa các sân độc, sẽ được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chứng Vô thượng Bồ Đề. Người đeo trì giữ gìn Chú này, lấy tay rờ đến người nào, hoặc lấy mắt liếc nhìn đến các loài dị loại, các hữu tình, thảy đều mau được địa vị Bồ Tát. Người như vậy vĩnh viễn không thọ các khổ sanh, lão, bịnh, tử.

Lại nữa Phật nói: Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng kia được, cho đến nước đại hải ta có thể biết số lượng kia. Nếu có người niệm sáu chữ Đại Minh một biến, đã được công đức mà ta không thể tính đếm số lượng, giả như trong bốn đại bộ châu, tất cả kẻ nam nữ đều chứng được địa vị Thất địa Bồ Tát, công đức đã có cùng với người niệm Lục Tự Đại Minh một biến mà công đức không sai khác. Nếu có người viết chép Đại Minh này, đồng với việc viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp tạng. Nếu lấy kim bảo cõi Trời tạo hình tượng của các đức Như Lai số như vi trần, không bằng chép viết một chữ trong sáu chữ Đại Minh này, chỗ thu hoạch công đức quả báo không thể nghĩ bàn, người ấy sẽ được 108 món Tam Ma Địa môn.
Chỉ niệm một biến sẽ được tất cả Như Lai đem y phục ẩm thực thuốc thang và đồ ngồi nằm đầy đủ tất cả để cúng dường. Pháp này ở trong Đại Thừa rất là tối thượng, tinh thuần vi diệu. Tất cả Như Lai và các Bồ Tát thảy đều cung kính chắp tay làm lễ.

Khi nói sáu chữ Chơn Ngôn này có bảy mươi trăm ức35 các đức Như Lai đều đến tập hội, đồng nói: Thất Cu Chi Chuẩn Đề Đà-ra-ni. Vậy nên biết sáu chữ Chơn Ngôn cùng với Chuẩn Đề Chơn Ngôn đầu đuôi tương tự.36 Như muốn cùng Chuẩn Đề Chơn Ngôn đồng tụng ấy, có thể trước Chuẩn Đề Chơn Ngôn niệm tụng. Song cần yếu hiệp hai chữ "nạp minh" làm một chữ mới phù hợp Phạn âm. Hoặc muốn riêng trì tụng, công đức như trên đã nói. Nếu muốn như pháp Kiết Đàn, niệm tụng rõ như bản kinh văn, đây không chép hết.

Ngài Kim Cang Trí nói: Nếu cầu giải thoát mau ra khỏi sinh tử, tu pháp Tam Ma Địa Du già quán hạnh, vô ký vô số niệm tụng, tức tưởng tự tâm như mặt trăng tròn sáng vắng lặng thanh tịnh, trong ngoài phân minh. Lấy chữ Án trong Tâm nguyệt luân ấy.
Om.jpg

Lấy chữ CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ĐỀ TA PHẠ HA, từ trước xoay vòng bên hữu lần lượt liên tục nối nhau thành vòng tròn, quán xét nghĩa của mỗi chữ, tâm luôn luôn tương ưng không sai khác.

VIÊN MINH BỐ LIỆT PHẠN THƠ ĐỒ
Vien Minh Bo Liet Phan Tho Do.jpg

Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói:
Chữ Án là Tỳ Lô Giá Na Phật căn bản.
Om.jpg

Chữ Chiết là Đại Luân Minh Vương căn bản.
Chiet.jpg

Chữ Lệ là Đại Phẫn Nộ Bất Động Tôn Minh Vương căn bản cũng là Mã Đầu Minh Vương căn bản.
Le.jpg

Chữ Chủ là Tứ Tý Phật Thân căn bản.
Chu.jpg

Chữ Lệ là Bất Không Quyến Tác căn bản, cũng là Quán Tự Tại Bồ Tát căn bản.
Le.jpg

Chữ Chuẩn là Đại Tôn Na Bồ Tát căn bản.
Chuan.jpg

Chữ Đề Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát căn bản.
De.jpg

Chữ Ta Phạ là Y Ca Nặc Tra Bồ Tát căn bản.
Ta-pha.jpg

Chữ Hạ là Phạ Nhựt Ra Nẵng Khư Minh Vương căn bản.
Ha.jpg


THỨ ĐẾN TƯ DUY TỰ MẪU CHỦNG TỬ NGHĨA

Chín chữ Thánh Phạn tự này, hay sanh tất cả chữ, cho nên nói rằng tự mẫu. Nói là chủng tử ấy, là dẫn sanh nghĩa, nhiếp trì nghĩa. Lấy một chữ đầu làm chủng tử, sau các chữ là sơ hữu quán trí, y sở dẫn sanh nhiếp vào chữ ban đầu. Nếu đắc được Án tự môn bí mật tương ưng này, tức đắc được vô tận pháp tạng của chư Phật, ngộ được tất cả các pháp vốn không sanh, một mà khắp đến tất cả, lời nói khắp hết, vì lời nói do ngộ tất cả pháp vốn không sanh, nên đạt đến các pháp vốn “không”, đem các pháp nhập vào thật tướng, cho nên không sanh, không diệt, đã ngộ đến tất cả pháp thì lời nói bặt dứt, không còn ngôn thuyết; pháp tướng là bình đẳng, như trận mưa lớn rưới khắp cho nên nói là bình đẳng. Mỗi một chữ phải tư duy quán sát, thời tất cả hạnh nguyện đều được đầy đủ.

Chữ Án (Úm) là nghĩa ba thân, cũng là nghĩa tất cả các pháp vốn không sanh. Ngài Kim Cang Trí dịch: Chữ Án (úm) tự môn ấy, là nghĩa lưu chú như dòng nước chảy không sanh, không diệt, là nghĩa tối thắng của tất cả cá pháp.

Chữ Chiết là nghĩa tất cả pháp không sanh, không diệt. Ngài Kim Cang Trí dịch: là nghĩa vô hành tất cả pháp.

Chữ Lệ là nghĩa vô sở đắc của tất cả pháp tướng.

Chữ Chủ là nghĩa vô sanh diệt của tất cả pháp. Ngài Kim Cang Trí dịch: Là nghĩa vô khởi trụ của tất cả pháp.

Chữ Lệ là nghĩa vô cấu của tất cả pháp.

Chữ Chuẩn là nghĩa vô đẳng giác của tất cả pháp.

Chữ Đề là nghĩa vô thủ xả của tất cả pháp.

Chữ Ta Phạ là nghĩa vô ngôn thuyết bình đẳng của tất cả pháp.

Chữ Ha là nghĩa vô nhơn của tất cả pháp. Nghĩa là với tất cả pháp vô nhơn vắng lặng, vô trụ Niết Bàn.

Do tất cả pháp vốn không sanh, nên tức được bất sanh bất diệt. Do bất sanh bất diệt nên được tướng vô sở đắc. Do tướng vô sở đắc nên tức được vô sanh diệt. Do vô sanh diệt nên tức được vô cấu. Do vô cấu nên tức được vô đẳng giác. Do vô đẳng giác nên tức được vô thủ xả. Do vô thủ xả nên tức được bình đẳng vô ngôn thuyết. Do bình đẳng vô ngôn thuyết nên được vô nhơn, vô quả, Bát nhã tương ưng, vô sở đắc lấy làm phương tiện nhập vào thắng nghĩa, thật thờ chứng pháp giới chơn như. Đây là Tam Ma Địa niệm tụng vậy.

Giải: Bởi ngộ tất cả pháp vốn không sanh, bình đẳng không hai, nên vô phân biệt trí37 cùng Bát Nhã Ba-la-mật, vô trí vô đắc tương ưng nhau. Do vô sở đắc trí này, làm phương tiện ngộ nhập tối thắng nghĩa đế,38 chứng pháp giới chơn như.
Pháp chơn như hải39 này không thể đem lời nói trình bày, vì là cảnh giới Thành trí sở chứng40 tự giác ngộ của chư Phật, nên không thể đem tâm hiểu biết phân biệt mà suy lường.

PHẬT ĐẢNH ĐẠI LUÂN NHỨT TỰ MINH VƯƠNG CHƠN NGÔN: Gọi là Thần Chú BỘ-LÂM

(Đây là Phạn tự Bộ Lâm
Bo-Lam.jpg
kéo lưỡi ngân âm thanh dài ra, hai chữ hợp lại làm một chữ, cũng nói Bộ lâm hoặc Phô long. Lại nói Bộ lung, hoặc Bột long. Bất Không Tam Tạng dịch: "Bột Lỗ Úm" - ba chữ hợp lại làm một chữ. Chữ Lỗ kéo dài lưỡi chung làm một âm. Lại nữa, tiếng kéo dài ra từ trong yết hầu mà phát âm thanh như đánh trống lớn. Bản xưa dịch Bộ lâm hơi sai không được đúng lắm. Như vậy âm giọng rất khó đúng chỉ người nào giỏi Phạn âm mới có thể được đó).

Kinh Căn Bản Nghi Quỹ nói: Phật Đảnh Đại Luân nhất Tự Minh Vương này được thành tựu cho đến đối với chánh pháp của Đức Như Lai khi sắp muốn diệt, có công năng làm các Phật sự. Lại hay ủng hộ tất cả Pháp tạng của các Đức Như Lai. Một chữ Minh Vương này, sau khi Phật diệt độ trong thời kỳ mạt pháp, giúp đỡ người tu hành ở trong thế gian được thù thắng hơn tất cả Chơn Ngôn, và chư Phật, Bồ Tát cũng đều thọ trì, bởi vì quá khứ Phật Bồ Tát đã truyền nói.

Nếu ở chỗ nào có người tu hành chuyên tâm trì tụng Đại Minh Chú này, ở chỗ đó trong khoảng địa giới, năm do tuần có tất cả các ác tinh diệu (sao xấu) không dám xâm gần, các ác quỷ thần đều tự chạy trốn tản mất, cho đến tất cả các ác không dám làm hại, hơn nữa với Thiên nhơn, Thánh nhơn, cũng không dám gần.

Nếu người trì tụng tất cả nghiệp chướng đều được thanh tịnh, nếu có ủng hộ hay ẩn thân mình, nhập vào tất cả trong nhiều các bộ, không chỗ chướng ngại, đối với thế gian và xuất thế gian không dám làm hại, có công năng bẻ gãy tất cả các ác chú trong thế gian. Chơn Ngôn này là đỉnh đầu của tất cả chư Phật, là tâm của Văn Thù Bồ Tát, hay ban thí vô úy (không sợ hãi) hay ban an vui cho tất cả chúng sanh, phàm có tu trì tùy ý đắc quả, đồng ngọc như ý châu có công năng làm mãn nguyện tất cả. Nếu trì tụng các thần chú khác mà không thành tựu, nên dùng Chơn Ngôn này cùng chung thần chú khác đồng trì tụng, quyết định thành tựu. Nếu không thành tựu và linh nghiệm, thì các Chư Thần của thần chú kia đầu sẽ phá bể làm bảy phần. Phải biết Chơn Ngôn này hay giúp tất cả các thần chú mau được thành tựu.

Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
VIII. LINH PHÙ - BẢO BỘ

Đây là những Linh phù của Bảo Bộ (bùa Lỗ Ban) trong Mật Tông Phật Giáo Trung Hoa. Liệt kê sau đây là danh hiệu của chư Tiên chúng hộ những linh phù:
– Bồng Tiên Chúng
– Cửu Thiên Huyền Nữ Ngươn Quân.
– Nguyên Thủy Chân Nhân Thiên Tiên.
– Địa Tiên Ngũ Tổ Chân Nhân.
– Thiếu Dương, Thuần Dương, Chánh Dương Tam Vị Chân Quân.
– Ngũ Hồ Ánh Tuyết Tam Đinh Chân Nhân.
– Ngục Trụ Đạo Lão Tiên Nữ.
– Tử Dương Chân Nhân.
– La Sơn Tiên Ông Cát Chân Nhân.
– Tích Tiên Thái Bạch Lý Chân nhân.
– Dã Nhân Huyền Chân Nhân.
– Văn Môn Lữ Chân Nhân.
– Tử Hà Thôi Chân Nhân.
– Ngọc Đảnh Bạch Chân Nhân.
– Nam Ngũ Tướng Chân Nhân.
– Bắc Thất Chân Chân Nhân.
– Vân Nga Tiên Nữ.
– Quế Anh, Khánh Nô, Đạo Nô, Tuyết Nô, Chân Khanh Nguyên Chân Ngọc Cô Tố Nữ.
– Thiên Thượng Địa Hạ Thủy Phủ Âm Gian Tam Đảo Thập Châu Đông Thiên Phước Địa Cổ Vãng Kim Lai Nhất Thiết Tiên Chúng.

linh-phu-0.jpg

Viết mực Đỏ giấy Vàng đốt
bỏ vào nước tán sái bốn phương.


linh-phu-1-5.jpg

- Linh Phù dùng để khai đàn, đốt (hình 1).
- Linh Phù dùng để dán vào lư hương (Hình 2 và 3).
- Linh Phù dùng đốt hòa vào nước tán sái 4 phương và dùng để rửa tay trước khi lễ (Hình 4 và 5).

linh phu 6-10.jpg

- Linh Phù dùng để đốt bỏ vào nước rưới lên Tà (Hình 6,7,8 và 9).
- Linh Phù dùng để thỉnh chư Thiên chúng, đốt (Hình 10).

linh phu 11-13..jpg

- Linh Phù dùng để dán lên đầu Cơ (hình 11).
- Linh Phù dùng để dán trên giường (Hình 12).
- Linh Phù dùng để dán dưới Cơ (Hình 12,13).

linh-phu-14.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh chư Tiên chúng, đốt thỉnh (Hình 14)

linh-phu-15-16.jpg

- Linh Phù dùng để trục Tà, đốt hay dán (Hình 15)
- Linh Phù dùng để định Cơ (Hình 16)

linh-phu-17-18.jpg

- Linh Phù dùng để giao cảm với chư Tiên (Hình 17).
- Linh Phù dùng để đốt thỉnh Lữ Thuần Dương Tiên Sanh Giáng Cơ (Hình 18).

linh-phu-19.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh chư Tiên cấp giáng (Hình 19).

linh-phu-20.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Tử Cô Tiên (Hình 20).

linh-phu-21-22.jpg

- Linh Phù dùng để dán lên cột trảm Yêu (Hình 21).
- Linh Phù dùng để dán dưới bàn trảm Yêu (Hình 22).

linh-phu-23-25.jpg

- Linh Phù dùng để đốt dưới bàn (Hình 23).
- Linh Phù dùng để dán trên bàn trảm yêu (Hình 24).
- Linh Phù dùng để dán dưới cửa trảm yêu (Hình 25).

linh-phu-26-27.jpg

- Linh Phù dùng để dán lên Cơ bút (Hình 26).
- Linh Phù dùng để thỉnh chư Tiên giáng khẩn cấp, đốt (Hình 27).

linh-phu-28.jpg

- Linh Phù dùng để mời Thần Tiên cấp giáng, đốt (Hình 28).

linh-phu-29.jpg

- Linh Phù dùng để dán lên trên đầu cơ (Hình 29).

linh_phu_30.jpg

- Linh Phù Thạch Dấu (hình 30)

linh-phu-31-32.jpg

- Linh Phù Toán bất chuyển (Hình 31).
- Linh Phù Toán bất nam (Hình 32).

linh-phu-33-34.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Ngươn Quân Chi Vị, đốt (Hình 33).
- Linh Phù dùng để thỉnh Phạm Thái Bảo, đốt (Hình 34).

linh-phu-35-37.jpg

- Linh Phù dùng đề thỉnh Bồng Lai Tử Cô, đốt (Hình 35).
- Linh Phù dùng để thỉnh Văn Khúc Tinh, đốt (Hình 36).
- Linh Phù dùng để thỉnh Dã Nhân Phù, đốt (Hình 37).

linh-phu-38-39.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Thái Bạch Tiên, đốt (Hình 38).
- Linh Phù dùng thỉnh Tào Tiên, đốt (Hình 39).

linh-phu-40-42.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Chư Nữ tiên chúng, đốt (Hình 40).
- Linh Phù dùng để thỉnh Cát Chân Nhân, đốt (Hình 41).
- Linh Phù dùng để thỉnh Lý Tiên, đốt (Hình 42).

linh-phu-43-45.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Trương Tiên, đốt (Hình 43).
- Linh Phù dùng để thỉnh Thiết Quài Tiên, đốt (Hình 44).
- Linh Phù dùng để thỉnh Chung Ly Tiên, đốt (Hình 45).

linh-phu-46-48.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Hàn Tương Tử Tiên, đốt (Hình 46).
- Linh Phù dùng để thỉnh Tiên Tuyền, đốt (Hình 47).
- Linh Phù dùng để thỉnh Thúy Hồ Tử Tiên Phù, đốt (Hình 48).

linh-phu-49-51.jpg

- Linh Phù dùng để thỉnh Đẩu Sĩ chư Tiên giáng Cơ, đốt (Hình 49).
- Linh Phù dùng để thỉnh Phan Khang Vương Tiên, đốt (hình 50).
- Linh Phù dùng để thỉnh Dương Tiên, đốt (Hình 51).

linh-phu-52-53.jpg

- Linh Phù dùng để phụng tống chư Thần, đốt (Hình 52).
- Linh Phù dùng để phụng tống Tuý Tiên, đốt (Hình 53).

linh-phu-54.jpg

- Linh Phù dùng để phụng tống Chư Tiên, đốt (Hình 54).

Hậu Hán Thái Cực Tả Cung Cát Tiên Ông trị toàn thân bá bịnh Tâm Pháp Linh Phù
linh-phu-55-57.jpg

- Linh phù trị bịnh ở đầu, tai, mũi, miệng, yết hầu, họa Phù đốt uống (Hình 55)
- Linh Phù trị bịnh ở thân, ngực, bụng, ngũ tạng, v.v… (Hình 56)
- Linh Phù trị bịnh từ hạ thân (Rún trở xuống) bàng quang và các bịnh nữ nhân (kinh nguyệt, thai sản, v.v…) Nếu người mang bịnh có thể dùng lá tre, lá dâu viết Linh Phù hay giấy vàng vẽ Linh Phù 3 Đạo. Hướng về Hướng Đông Nam niệm:
Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (300 lần)
Sắc uống hay đốt Linh Phù uống, một tuần sẽ khỏi. (Hình 57)

Ấn Lục Giáp Thần
Dùng cây Táo hay Trầm hương khắc Ấn (1 thước 2 tấc Tàu), người khắc tịnh khẩu. Thiên hương nguyện niệm: Lục Giáp Thần (3 lần)
Xong rồi khắc Ấn (Hình 58). Người Thượng căn tu tập có thể Đằng vân. Trung căn tu tập có thể được Quỷ Thần kính nể. Hạ căn tu tập có thể an bang tế thế.
linh-phu-58.jpg

Ấn Thiên Nữ Khê Nữ Thần
Ấn này dùng cây Táo bị sét đánh vuông (1 thước 2 tấc Tàu). Ngày Tam nguyên hay mùng 5 tháng 5, vào ngày tịnh thất thiên hương nguyện Thiên Nữ. Khắc xong nên dùng cây bá làm hộp dùng gấm lót, đựng Ấn. Nếu cầu nguyện Thiên Nữ thì lấy Ấn mật niệm. (Hình 59)
linh-phu-59.jpg

Lôi Công Ấn Ẩn Thân Pháp
Lấy mực đỏ họa phù, ở Đạo tràng niệm Chú đeo nơi thân tức được che chở người khác không trông thấy. Nếu dùng để trộm cắp của cải kẻ khác không linh nghiệm. (Hình 60)
linh-phu-60.jpg

Mười hai Khế Nữ Thần Ấn
Hành giả dùng cây Lê làm thành mười hai Ấn. Mỗi Ấn mặt rộng (2 tấc 8 phân Tàu), dài (5 tấc Tàu). Khắc Ấn vào ngày mùng 5 tháng 5.
Hành giả dùng Ấn in Linh Phù, mỗi ngày uống mười hai Đạo (vò thành viên uống) vào giờ Ngọ hay mười hai giờ đêm trong vòng 93 ngày và mỗi buổi sáng trong vòng bảy ngày. Hành giả tu tập có thể có năng lực khinh thân phi hành. (Hình 61)
linh-phu-61.jpg

Lục Giáp Tổng Phù (Nấu Đậu đen Ẩn Gia Pháp).
Vào ngày mùng 1 tháng Giêng dùng đậu đen không phân biệt ít nhiều hướng về sao Bắc đẩu tuyên đọc chú 49 biến. Ngày Giáp tử canh năm cũng y như trên (Hướng về sao Bắc Đẩu Thiên Hương tụng chú 49 biến). Đến ngày Lục Giáp lấy Đậu ấy nấu chín (lúc nấu lại hướng về Sao Bắc Đẩu tụng chú bảy biến). Sau ấy đem Đậu phơi khô.
Lúc gặp hiểm nạn lấy Đậu ngậm trong miệng, tay cầm Lục Giáp Tổng Phù (Dùng cây Đào làm thành hai miếng cây họa Phù lên ấy) thì sẽ thoát nạn.
Nếu không muốn người khác tìm thấy nhà, hay lúc hiểm nạn cần phải che chở cho nhiều người lấy 49 hạt Đậu đã nguyện và bốn Đạo Lục Giáp Tổng Phù chôn chung ở bốn góc nhà, tức người khác không thể tìm thấy được. Lúc muốn hóa giải lấy Đậu và Phù lên lại (Hình 62).
linh-phu-62.jpg

- Chín Đạo Linh Phù này dùng để trị các thứ bịnh trên thân, viết lên giấy đốt uống (Hình 63)
linh_phu_63.jpg

- Linh Phù dùng để cho vợ chồng hòa hiệp, họa Phù niệm Chú (Hình 64).
- Linh Phù dùng để tránh tai ương, đại họa. Dùng một miếng cây (gỗ Đào) vẽ Đạo Phù này bằng mực đỏ. Treo trong nhà có thể tránh tai họa trộm cướp, yêu ma (Hình 65)
- Linh Phù dùng để Hộ Thân. Dùng mực đỏ viết lên miếng cây bằng gỗ Đào mang trong người đi đường tránh được nạn, cướp hay thú dữ (Hình 66).
- Linh Phù dùng để tránh binh đao. Dùng mực đỏ viết Phù đeo trên người. Nếu có phải đi đánh trận cũng qua được những nạn hung (Hình 67).
- Linh Phù phản hung biến kiết. Lúc cất nhà, chôn cất, động thổ hay bị người khác ếm phá dùng mực đỏ viết Phù này dán ở cửa hay chính giữa nhà hay mồ mả sẽ được bình an. (Hình68).
linh-phu-64-68.jpg

Hết
Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
Sơ lược tiểu sử của cư sĩ Triệu Phước pháp danh Đức Quý

Sinh năm 1948 tại tỉnh Trà Vinh. Tốt nghiệp tiểu học tại Trà Vinh.
11 đến 17 tuổi: Học nội trú trường dòng Lasan (Mossard Thủ Đức), tốt nghiệp Brevet Elementaire.

17 đến 20 tuổi: Học nội trú trường dòng Lasan Đà Lạt (College D’Adran) tốt nghiệp tú tài đôi Pháp (Baccalaureat de l’enseignement secondaire).

20 tuổi đến 21 tuổi: Bị tổng Động viên và giải ngũ với cấp bậc thiếu úy hải quân.

22 tuổi đến 25 tuổi: Tốt nghiệp cử nhân luật khoa Sài-gòn ban công pháp quốc tế.

25 tuổi đến 27 tuổi: Giáo sư Pháp văn.

28 tuổi đến 29 tuổi: Trường chay 2 năm, tu tập Mật tông và nghiên cứu các tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo, Thông Thiên Học, Cao Đài, Hòa Hảo v.v…), tiếp cận và tìm hiểu các giáo phái huyền bí tại Việt Nam.

30 tuổi: Truyền bá Mật Tông và trừ tà tại Việt Nam.

Cuối năm 1981: Định cư tại Hoa Kỳ theo diện ODP.

1982: Viết 5 loạt bài về các hiện tượng thần bí tại Việt Nam trên Báo Trắng Đen.

1983: Lần lượt ấn hành các bản kinh Mật Tông quyển Thượng, Trung và Yếu Lược và truyền bá môn thần bí học tại Hoa Kỳ và các nước.

1981-2005: Định cư và sống 24 năm liền tại tiểu bang Colorado Hoa kỳ.

Từ đó đến nay (2005) đã trực tiếp và gián tiếp điểm đạo cho trên 10.000 người thuộc đủ mọi tôn giáo (Phật giáo, Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo…) và vô thần bao gồm từ giới khoa bản (thạc sĩ, tiến sĩ, bác sĩ, luật sư, kỹ sư, các nước Hoa Kỳ, Âu Châu, Liên Xô, Ba Lan, Trung Hoa, v,v…) đến các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản cũng như cho các giới lao động buôn gánh bán bưng, các giới giang hồ lầu xanh, bài bạc.

Năm 2005 và sau đó sẽ lần lượt viết thêm về các kinh nghiệm và nghiên cứu siêu hình thần bí.
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CÁC SÁCH THAM KHẢO

1. GRACE E. CAIRNS: Philosophies of History (Chapter IV, cyclical time and the philosophy of the Mandala). New York: Philosophical Library, Inc.
2. ALEXANDRA DAVID NEEL: Mystiques et magiciens du Tibet, immortalite et reincarnation, Paris: Librairie Plon - Au coeur des himalayas. Le Nepal Dessart - Inatiations Lamaiques: Editions – Adyar.
3. MIRCEA ELIADE: Le yoga, immortalite et Paris Payot.
4. ALICE GETTY: The Gods of northern Buddhism. Tokyo, Charles E. Tuttle Company.
5. ANAGARIKA GOVINDA: Essays on the Bodhisattva Ideal. Kalimpong “Stepping stones” – Principles of Tantric Buddhism- Delhi, 2500 years of Buddhism Time, space and the problem of Free Will. Calcutta, the Maha Bodhijournal 1955 – The Foundation of the tibetan mysticism, The Psychological attitude of early buddhist philosophy London, Rider Company.
6. H. DE GLASENAPP: Mysteres bouddhistes, doctrines et rites secrets du “Vehicule de diamant.” Paris, Payot.
7. H. V. GUENTHER: Yugaraddha, the tantric view of life – Benares chowkamba sankrit series, 1952 – Mantrayana and Sahajayana – Delhi, 2500 years of Buddhism. Jewel ornament of Liberation of S. Gam PO.PA London, Rider et. Co.
8. CARL JUNG ET RICHARD WILHEIM (WILHELM): The secret of Golden Flower, London, Routhedege Kegan Paul.
9. DAVID SNELLGROUE: The Tantras, Thirdpast of Buddhist Texts though the ages, New York Philosophical library. The Hevajra Tantra. London, New York, Oxford University Press.
10. HEINRICH LIMMER: Kunstporm und yoga im indisehen Kulbild Berlin, Frankfurter Verlag Anstald. Myths and symbols in Indian Artand Civilization. New York, Panthein Books, Bollingen series, The art of Indian Asia, New York, Pantheon books, published for Bollingen Foundation.
11. W.Y. EVANS WENTZ: Milarepa, le yoga tibertain et les doctrines secretes. Le livre tibetain de la grande liberation Bardo Tholdol. Le livre des morts Tibetains (Paris, Librairie d’Amerique et d’Orient Adrien Maisonneuve).
12. GIUSEPPE TUCCI: The theory and practice of the Mandala, London, Rider and Company. The Symbolison of the temples of bsam yas, Roma East and West Vol. VI, No. 4, 1956.
13. BHATTACARYA: Guhyasamajatantra. Baroda, Gackqad’s Orient series Vol 53, 1931. Origin and Development of Vajrayana, calcultta. The home of Tantric Buddhism, B.C. law volume 1945. Nispanna yogavali (desciption of 26 Mandalas) Baroda Gackwad of series CIX 1949.
14. AIRANE MacDONALD: Le Mandala de Manjusrimulakala. Paris Adrien Maisonneuve.
15. NGUYỄN HỮU KIỆT: Tây Tạng Huyền Bí (The third eye- Lama Lobsang Rampa) – Xứ Phật Huyền Bí ( Autobiography of a Yogi- Yogananda) – Á Châu Huyền Bí (La vie des maitres- Bairdt Spalding) - Ấn Độ Huyền Bí (A search in secret India) – Ai Cập Huyền Bí (A search in secret Egypt) – Đông Phương Huyền Bí (A search in secret path) của Tiến sĩ Paul Brunton – Nhà sách: Sumhel – Weiser, Inc. – 740 Broadway N.Y. 10003
16. ĐOÀN TRUNG CÒN: Chơn Ngôn Tông (10 Tông Phái Phật Giáo) - (Shingon School (10 sects of Buddhism)) – Phật Học Tùng Thơ xuất bản (Collections of Buddhism publications).
17. THÍCH THIỆN HOA: Mật Tông (10 Tông Phái Phật Giáo) - (Secret Buddhism (10 sects of Buddhism)) – Phật Học Phổ Thông (General Buddhism)
18. VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH: Chơn Ngôn Tông (10 Tông Phái Phật Giáo) của một Giáo sư Nhật - (Shingon- 10 sects of Buddhism) Japanese professor.
19. Kỹ sư NGÔ TRỌNG ANH: Mật Tông Dưới Mắt Của Người Tây Phương (02 bài diễn thuyết tại Viện Đại học Vạn Hạnh 1967) – Tạp chí Tư Tưởng - (Secret Buddhism in the eyes of Westerners (2 lectures given at the Van Hanh University 1967) Ideology Magazine).
20. HEN CHEN CHI: Thiền Đạo Tu Tập.- (Zen Training)
21. D.T. SUZUKI: Thiền Luận quyển Thượng – Trung và Hạ - (Zen Essay- 3 volumes).
22. ĐÔNG MẬT (EASTERN ESOTERIC BUDDHISM): gồm cả trăm bản kinh của Mật Tông Nhật Bản (T.T Thích Thiền tâm dịch – T.T Thích Viên Đức hiệu đính) – (included hundred scriptures of Japanese Secret Buddhism (translated by Venerable Thich Thien Tam, revised by Venerable Thich Vien Duc))
23 HIỂN MẬT VIÊN THÔNG (THOROUGH UNDERSTANDING OF THE EXO AND THE ESOTERIC): Ngũ Đài Sơn – ( WuTai Mountain (Five Plateau Mountain)), Kim Hà Tự – (Jin He Zi (Golden River Temple)), Sa Môn Đao Han tập – (collected and revised by monk Dao Han), Trần Giác soạn – Thích Viên Đức dịch – (compiled by Tran Giac, translated by Thich Vien Duc).
24. THE BUDDHISM OF TIBET OR LAMAISM (L.A. WADDELL)
25. MẬT TẠNG KINH TRUNG HOA – (CHINESE SECRET BUDDHISM): Phần Mandala (quyển Thượng, Trung, Hạ) – (Mandala Chapters (3 volumes)).
26. LE BOUDHA SECRET DU TANTRISME JAPONAIS hay THE SECRET MESSAGE OF TANTRIC BUDDHISM của Pierre Rambach (Rizzoli International Inc. 712 Fifth Avenue, New York 10019).
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
Các Bản Kinh đã được Ấn Hành

  1. Phật Giáo Thánh Kinh
  2. Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni Hội Thích
  3. Mật tông Phật Giáo Tinh Hoa (Quyển Thượng)
  4. Mật tông Phật Giáo Tinh Hoa (Quyển Trung)
  5. Mật tông Phật Giáo Tinh Hoa (Yếu Lược)
  6. Phong Thần Và Huyền Bí Học

Hội Ái Hữu Mật Giáo California
9735 Broadway
Temple City, CA 91780
Email: matgiao@yahoo.com
Website: Vutruhuyenbi.com

Bản đã được chỉnh sửa 09 / 2025 bởi ban biên tập Mật Giáo

Tái bản 500 cuốn Lần Thứ Bảy (2025)

*****************