Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
II. LƯỢC SỬ MẬT-TÔNG TRUNG-HOA
Kinh điển của phái Mật Giáo tạp bộ (Tạp Mật)36 được dịch sang tiếng Trung Hoa rất sớm vào thế kỷ thứ tư sau Tây lịch. Cát Hữu (SRIMITRA) người sứ PAI (KUCCHA, một bộ lạc da trắng), dịch một vài bản kinh sang Hán Văn. Đó là những loại kinh bùa chú và các loại phù phép khác, thường gồm một vài mật chú và những bài tán Thần hay Thánh ở thượng giới, nhưng thật ra chúng không thể được xem như là biểu dương cho những ước vọng cao.
Phái mà ta mệnh danh là Phật giáo Thuần bộ (Thuần Mật),37 khởi đầu với ba vị pháp sư đến Trung Quốc vào đời Đường (713-765).

A. THIỆN VÔ ÚY (SUBHAKARASIMHA 637-735):
Ông từng là một vị vua của xứ ORISSA,38 sau khi xuất gia làm tăng và đến đại học NALANDA, nơi vị Pháp Mật (DHARMAGUPTA) tu trì để tu học. Sau đó ông thường du hành tại các nước miền Nam Ấn. Miền Nam lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng giáo lý của Long Thọ Đề-bà,39 xiển dương về Không Tôn40 rất thịnh hành. Nên ngài Thiện Vô Úy rất am hiểu về lý Nhứt Pháp Giới41 của Không Tôn, thâm hiểu Du-già (YOGA), Chơn Ngôn (DHARANA) và Ấn Quyết (MUDRA).
Ông khởi hành đi KASHMIR và Tây Tạng, đến Tràng An vào đời Đường năm Khai Nguyên thứ 4, tức năm 716. Ông được vua Huyền Tôn (685-762) tiếp đón rất nồng hậu và phong làm quốc sư. Năm 717, Ngài dịch kinh “Kim Cang Đảnh Hư Không Tạng Cầu Văn Trì Pháp”.


Thiện Vô Úy (Subhakarasimha)

Cũng vào thời kỳ này, Vô Hành một học giả Trung Hoa, du hành sang Ấn Độ, gặp Nghĩa Tịnh tại NALANDA và thâu thập được nhiều bản kinh Phạn văn. Ông mất trên đường hồi hương. Những tài liệu thâu thập của ông vẫn được đưa đến chùa Hoa Nghiêm ở Tràng An. Khi hay tin đó, Thiện Vô Úy đã lựa chọn vài bản kinh quan trọng và vào năm 725 và 726, ông khởi dịch kinh Đại Nhựt và các kinh khác.
Lúc bấy giờ, mỗi khi Tôn giả Thiện Vô Úy lập đàn tràng và tác pháp42 chư Tôn đều gia trì và thị hiện nhiều điều cảm ứng phi thường. Số người có duyên lành được cảm hóa rất đông.

B. KIM CANG TRÍ (VAJRABODHI 663-723):
Ông là người Nam Ấn, học đạo tại NALANDA. Năm mười lăm tuổi, ông sang Tây Ấn học tập “Nhân Minh Luận” trong bốn năm trời với Pháp Xứng (DHARMAKIRTI), nhưng rồi trở về tại NALANDA để thọ Đại giới.43 Trong sáu năm trời ông chuyên cần học Luật (VINAYA) và Trung Quán Luận (MADHYAMIRA) với SANTABODHI.
Ba năm kế đó ông học Tướng Tôn44 và nguyên cứu Du-già Luận (YOGACHNA) của Vô Trước, Duy Thức Luận (VIYNAPTIMARA) của Thế Thân và Biện Trung Luận của An Huệ với JINADHADRA tại Ca-tỳ-la-vệ, Bắc Ấn. Rồi bảy năm sau, nghiên cứu Kim Cang Đảnh (VAJRASEKHANA) và các kinh Mật Giáo khác nơi Long Trí A-xà-lê (NAGABODHI) ở Nam Ấn.


Kim Cang Trí (Vajrabodhi)

Năm Khai Nguyên thứ 8 (720 T.L.), ông đáp thuyền theo đường Nam Hải cùng các đệ tử và Bất Không Tam Tạng, đồng đến Lạc Dương Tràng An (Kinh đô nhà Đường, nay là tỉnh Thiểm Tây). Phụng sắc chỉ của vua Đường, ngài kiến lập45 2 bộ Mạn-đà-la, mở đàn truyền pháp “Quán Đảnh” cùng dịch thuật nhiều kinh điển của Mật Giáo như: Kim Cang Đảnh, Lược Xuất Kinh…
Kinh điển của ngài thường có nhiều pháp ngữ46 thiên về phần Pháp Tướng.47Mỗi khi ngài lập Đàn tràng và tác pháp, đều cảm ứng nhiều điều lành, sự cầu mưa, sai thần khiến quỷ, dẹp trừ chướng nạn đều là những việc thông thường của ngài.

C. BẤT KHÔNG (AMOGHAVAJRA 705-774):
Ông là đệ tử xuất sắc của Kim Cang Trí, người Bắc Ấn, thọ Sa di48 năm mười lăm tuổi và đến Quảng Đông cùng với thầy, là người mà ông hầu đến tận Lạc Dương và thọ đại giới năm hai mươi tuổi. Trong mười hai năm, ông đã thâm hiểu cả Giáo Tướng và Sự Tướng49 của Mật Giáo. Sau khi đắc pháp50 với ngài Kim Cang Trí, ông còn theo học với ngài Thiện Vô Úy về Thai Tạng Giới MANDALA. Sau khi thầy mất, ông còn trở về Ấn Độ tìm thỉnh thêm nhiều kinh điển, tham vấn các bậc cao tài về Mật Giáo tại Thiên Trúc. Sau ông còn du hành sang Tích Lan gặp được ngài Long Trí A-xà-lê, thỉnh thêm kinh Du-già mười tám hội pháp… Lần khác ông còn sang Tích Lan cùng với các đệ tử, cả thảy ba mươi bảy người, tìm đến Pháp Sư Phổ Hiền (SAMANTABHADRA) để nghiên cứu về giáo lý của Kim Cang Đảnh Du già (VAYRA-SEKHARA-YOGA) và Đại Nhựt Thai Tạng (MAHAVAIROCANA-GHARBHAKUSA). Ông trở về Tràng An vào dịp này với một số kinh điển phong phú.


Bất Không (Amoghavajra)

Bất Không là quốc sư của ba triều vua: Huyền Tôn, Túc Tôn và Đại Tôn. Ông dịch cả thảy 110 bộ kinh, gồm 143 quyển, trong đó có bộ quan trọng nhất là Kim Cang Đảnh. Đó là bộ kinh mà giáo sư Ý TUCCI và giáo sư ONO người Nhật tình cờ phát kiến51 đồng thời. Giáo sư TUCCI tìm thấy ở Tây Tạng bản Phạn văn và giáo sư ONO, khám phá ra tại Nhật Bản chú giải kinh đó bằng tranh ảnh, được Trí Chứng Đại Sư người Nhật mang từ Trung Hoa về từ năm 853. Dịp may khám phá này của hai giáo sư danh tiếng đã minh định52 cho sự đồng nhất của Mật Tông tại các nước Trung Hoa, Tây Tạng và Nhật Bản.

Ngài Bất Không truyền pháp cho năm vị đệ tử: Hàm Quang, Huệ Lảng, Đàm Trinh, Giác Siêu, Huệ Quả. Sau đó Huệ Lảng truyền cho Thiên Trúc, Trúc Truyền, Đức Mỹ, Huệ Cẩn, cư sĩ Triệu Chánh. Huệ Quả truyền cho Nghĩa Quán, Chí Thanh, Nghĩa Tháo và Không Hải, một Đại sư người Nhật, sau về nước truyền giáo rất mạnh.

D. NHẤT HẠNH (ICHIGYO 683-727):
Ông là đệ tử của Thiện Vô Úy, tinh thông về Tam Luận,53 Thiền, Thiên thai54 và lịch số,55 từng giúp Thiện Vô Úy dịch kinh Đại Nhựt. Nhờ nghe thầy giảng, Nhất Hạnh trước tác một bản sớ về kinh này, gọi là “Đại Nhật Kinh Sớ”, bản sớ giải kinh Đại Nhật, gồm hai mươi quyển, được xem là Mật Giáo yếu điển56 sau này.
Vì ông là học giả uyên thâm về Thiên Thai Giáo, nên bản sớ giải của ông được xem như chứa đựng rất nhiều giáo nghĩa Thiên Thai. Bản thảo lưu truyền chưa được tu chỉnh, sau cùng được Trí Nghiễm, đệ tử của Thiện Vô Úy và Ổn Cổ, đệ tử của Kim Cang Trí, hiệu đính và đặt tựa lại là “Đại Nhựt Kinh Nghĩa Thích”.


Nhất Hạnh (Ichigyo)

Đông Mật57 vẫn y theo bản kinh chưa được tu chỉnh, trong lúc Thai Mật57 lại dùng bản được hiệu đính này.

Nhất Hạnh theo học cả với hai vị pháp sư Ấn Độ, Thiện Vô Úy và Kim Cang Trí và được cả hai truyền cho các nghi quỹ về Kim Cang Giới (VAJRADHATU) và Thai Tạng Giới (GARBHAKOSA), nhưng có người cho rằng ông coi Kim Cang Giới quan trọng hơn.

Nhất Hạnh là một nhà bác học, trí tuệ cao siêu, ông đã từng được vua Đường Huyền Tôn phong làm Quốc sư lúc bấy giờ.
Đồ biểu sau đây sẽ chỉ rõ hệ thống truyền thừa tại Trung Hoa:

ĐỨC PHẬT ĐẠI NHẬT
KIM CANG TÁT ĐỎA
LONG THỌ BỒ TÁT
LONG TRÍ BỒ TÁT

THAI TẠNG GIỚI
1. Thiện Vô Úy (637-735)

2. Nhất Hạnh __________________________________ 2. Bất Không
3. Nghĩa Lâm ________________________________ 3. Huyền Chiếu
4. Thuận Hiểu ___________________________________ 4. Huệ Quả
5. Truyền Giáo Đại Sư (Nhật) _________ 5. Hoằng Pháp Đại Sư (Nhật)



KIM CANG GIỚI
1. Kim Cang Trí (663-723)

2. Bất Không __________________________________ 2. Nhất Hạnh
3. Nghĩa Tháo ___________________________________ 3. Huệ Quả
4. Nghĩa Chân ____________________ 4. Truyền Giáo Đại Sư (Nhật)
5. Từ Giác Đại Sư (Nhật) __________________________ 5. Huệ Tắc
__________________________________________ 6. Nguyên Chánh


(còn tiếp)

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
III. LƯỢC SỬ MẬT TÔNG NHẬT BẢN:
Giáo tướng và Sự tướng của Mật Tông ở Trung Hoa được mang về Nhật Bản do bốn vị đại sư và những vị khác. Ngay từ đó Mật Giáo được tổ chức và hệ thống hóa hoàn bị58 nhờ bàn tay tài tình của Không Hải (KUKAI), tức Hoằng Pháp Đại Sư (KOBO) tại Cao Dã Sơn (KOYOSAN). Hoằng Pháp Đại Sư, tổ sư của Chơn Ngôn Tông tại Nhật. Ông là nghệ sĩ đầu tiên và lỗi lạc nhất về điêu khắc và thư pháp. Thể cách văn học của ông được ngưỡng mộ ở cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Mật Tông hay Kim Cang Thừa có thể tiêu biểu nơi Hoằng Pháp Đại Sư, là người tập thành59 toàn bộ Mật Giáo tại Nhật. Để tìm hiểu vị trí của Mật Giáo cần lược khảo lịch sử của Phật giáo trong quá trình văn minh do Phật pháp mang đến cho xứ này.

1. PHẬT GIÁO NHẬT BẢN:
Phật giáo được truyền vào Nhật Bản từ Triều Tiên vào năm 552 hay 538. Đầu Tây lịch, khi vua KUDARA cống hiến Khâm Minh Thiên Hoàng (KIMMEI) một tượng Phật Thích Ca bằng đồng cùng một số kinh điển và đạo cụ. Khoảng năm mươi năm sau khi du nhập chính thức, Thánh Đức Thái tử (574-622) lên ngôi nhiếp chính và Ngài đã xây nhiều ngôi chùa mỹ lệ ở Nại Lương (NARA) và vùng phụ cận, trong số đó có chùa HORYYUJI (Pháp Long Tự) nay vẫn còn tồn tại. Thái tử lại là một đại học giả và đã sớ thích60 nhiều bản kinh như Pháp Hoa (PUNDARIKA), kinh Thắng Man (SRIMALA) và kinh Duy Ma Cật (VIMALAKIRTI).

Phật giáo thời này chưa chia thành các tông phái rõ rệt như ngày nay. Nhưng có đến 6 trường phái đã phát huy trong thời Nại Lương (NARA). Đó là: A-tỳ-đạt-ma câu xá (Kusha), Thành thật (Jojisu), Pháp Tướng (Hosso), Tam luận (Sanron), Luật (Ritsu), Hoa Nghiêm (Kegon). Tất cả đều là những sản phẩm bác học, một nền triết học mới, một khoa học mới, một tôn giáo mới, một văn hóa mới và là kho tàng vô tận cho những động lực nghệ thuật. Chùa Phật là các trường học, bịnh viện, thí dược viện, cô nhi viện, dưỡng lão viện mà chư tăng là các nhân viên điều hành và tất cả chi phí đều do nhà vua tài trợ. Có lẽ sự trưởng thành của Phật giáo, trong thời buổi đầu đã được nuôi dưỡng quá lãng phí và quá hời hợt. Vào thế kỷ thứ VIII, nó trở thành gánh nặng cho quốc gia. Phần các tăng ni được đặc ân lại đã tỏ ra quá ích kỷ. Phần trong đạo giáo, những cái chính yếu bị hy sinh cho những cái thứ yếu được trưng bày ra. Nên đã đến lúc Phật giáo phải được chuyển hướng. Phật giáo Nại Lương (NARA) phải được thay thế bởi Phật giáo Bình An (HEIAN).

Cuối thế kỷ thứ VIII, Hoàng Vũ Thiên Hoàng (KWAMMU) thiên đô61 từ Nại Lương (NARA) đến kinh đô Kyoto. Trái với truyền thống từ trước, Ngài bỏ lại tất cả những đền đài ở Nại Lương và cho thiết lập những đền đài mới trên núi “Tỉ Duệ” (HIEI) ở về phía nam kinh đô. Những nhà lãnh đạo mới Phật giáo, Truyền Giáo Đại Sư và Hoằng Pháp Đại Sư, 2 ngôi sao lớn nhất, sáng chói, đã tiến bước lên vũ đài. Mật Giáo khởi đầu hưng thịnh.

2. MẬT TÔNG TẠI NHẬT:
Ở tại Nhật có đến hai phái Mật Giáo: Thai Mật (TAIMISU) được truyền từ Thiên Thai Tông bởi Truyền Giáo Đại Sư và Chơn Ngôn Tông được truyền vào Đông Tự (TOJI) bởi Hoằng Pháp Đại Sư. Cả hai không có gì khác nhau về Giáo Tướng,62 nhưng về sự tướng thực hành63 thì Đông Mật là một tông phái đặc biệt vì nó phổ biến hơn Thai Mật. Cả hai cùng đồng quan niệm về Phật Thích Ca và Đại Nhựt, và thêm nữa trong việc áp dụng lý thuyết này vào Thần Đạo (SHINTO) ở Nhật. Học giả tham khảo về sự liên hệ giữa Thần Đạo và Phật giáo cần thông rõ điều này, vì từ ngữ Thần Đạo như Lương Bộ (RYOBU) và Nhất Chân (ICHIJTSU) bắt nguồn từ sự sai biệt về tư tưởng của hai phái Mật Tông này.

A. THAI MẬT.
Truyền Giáo Đại Sư (DENGYODAISHI 767-823) là sơ tổ của Thai Mật. Khách đến thăm Kyoto sẽ dễ dàng nhận ra ngọn núi Tỉ Duệ (HIEI) đứng ở đầu, vì nó cao nhất, sừng sững ở phía đông của đô thị. Đó là vị trí được Truyền Pháp Đại Sư chọn để thiết lập Thiên Thai Tông của Phật giáo, còn được gọi tại Nhật là Thai Mật. Ngài là một trong những nhà tu Phật đầu tiên nhận chân được những nguy hiểm của đời sống đô thị, mà những người đi trước ngài thụ hưởng quá nhiều. Ngài không những là một bậc thầy thông suốt nền triết lý rắc rối của Thiên Thai Tông mà còn là một học viên sâu sắc về các nghi điển thần bí của Mật Giáo Trung Hoa và phép tu thiền định. Tham vọng của ngài là dung hội hết thảy các tông phái của đạo Phật thịnh hành đương thời.
Tất cả những phái mới của đạo Phật sau này trong thời Kiếm Thương (KAMAKURA) có thể tìm thấy dấu vết trên núi Tỉ Duệ, thủ phủ của Truyền Giáo Đại Sư. Truyền Giáo hình như quá tách biệt với thế gian, Tỉ Duệ vẫn cô liêu dù ở gần thị tứ. Những tông phái cũ của triều đại Nại Lương cố nhiên là những đối thủ của các nhà lãnh đạo mới, không chỉ vì lý do tình cảm mà còn cả về những tông chỉ sai biệt. Truyền giáo thuộc Thiên Thai Tông chủ truyền đường lối Nhất Thừa64 của kinh Pháp Hoa trong khi các tông phái bảo thủ cũ lại theo tông chỉ Pháp Tướng (YOGACARA),65 bất đồng ý về việc quy nguyên66 Thanh văn,67 Duyên giác68 và Bồ Tát Thừa69 vào một thừa duy nhất của kinh Pháp Hoa.


Truyền Giáo Đại Sư Dengyodaishi Sơ tổ của Thai Mật

B. ĐÔNG MẬT.
Hoằng Pháp Đại Sư thuộc một mẫu thiên tài khác. Ông là người đa tài nhất trong số các vĩ nhân: một học giả uyên áo,70 một nhà khổ tu,71 một du khách lịch lãm, một nghệ sĩ lỗi lạc, một người hoạt bát và một tay thư pháp cừ khôi. Chủ đích nghiên cứu của ông là kinh Đại Nhựt (MAHAVAIROCANA SUTRA) và kinh Kim Cang Đảnh (VAJRASEKHARA SUTRA). Đó là hai khóa bản72 lớn của Chơn Ngôn Tông. Ở Trung Hoa, ngài là môn đệ của Huệ Quả (KEIKNA) và kế thừa làm đệ bát tổ73 của Chơn Ngôn Tông ở Trung Hoa và là sơ tổ của Mật Tông tại Nhật. Khi về nước ngài đã chọn Cao Dã Sơn (KOYASAN) làm thủ phủ cho Chơn Ngôn Mật Giáo tại Nhật. Ngài thích có một tăng viện trong các núi non nhưng lại vẫn giữ mối liên lạc với thế gian một cách chặt chẽ. Đông Tự (TOJI) ở phía nam KYOTO thường là nơi ghi lại những dấu chân của ngài tại kinh đô.
Cao Dã Sơn hoàn toàn là một địa điểm không thể đến so với núi Tỉ Duệ của Truyền Giáo, nhưng khách hành hương tụ hội về đó mỗi năm nhiều biết mấy! Núi ấy trong khi đó ở tại vùng xa xôi của một thành phố nhỏ. Tiểu sử linh diệu của Hoằng Pháp Đại Sư thường được nhiều người hâm mộ. Ngài sanh năm 774, thuộc con nhà quý tộc. Ông là một người hay lạ, huyền bí, khác phàm vừa là một nhà triết học, mỹ thuật, thông thái vừa lại nổi tiếng về các phép thần thông. Có nhiều việc linh do chính tay người làm. Trong lúc mới tu, còn ở trong thời kỳ sa di, Ngài đã từng chống cự với đám quỷ đến phá Ngài.
Lần khác ở tại mũi biển xứ MURATO, có một đám rồng ở dưới nước hiện lên khuấy Ngài trong khi thiền định. Ngài liền niệm Chơn Ngôn mà đuổi chúng nó và thâu ánh sáng của vì sao hôm vào miệng và phun lên mình bọn rồng đó. Dịp khác, Ngài ngồi nhập định tại một cái am do Ngài tự cất, một đám hung thần liền đến làm rộn Ngài, liền khi ấy Ngài vẽ một vòng phép, rồi Ngài ngồi điềm nhiên trong ấy, bọn hung thần chẳng làm chi được và không thể lướt vào. Nhiều khi trong óc của Ngài đã chế ra nhiều kiểu vòng phép, nhiều lá linh phù sử dụng rất hiệu quả. Buổi thiếu niên, cũng như các thanh niên quý tộc khác, Ngài vào học trường đại học để sau này ra làm quan. Nơi ấy Ngài chịu ảnh hưởng tinh thần đạo Khổng. Song Khổng Giáo với phong hóa74 lễ nghĩa chẳng vừa với cái tâm của Ngài. Ấy là cái tâm muốn thấu qua kinh tạng Phật và cõi đời đặng đạt đến cái chỗ ẩn mật của tư tưởng Phật và cuộc thần bí75 bao giăng chung quanh con người.


Hoằng Pháp hay Không Hải Đại sư (Kukai)


Chùa Todai-Ji ở Nại Lương trụ sở chính của Đông Mật


Tám ngọn núi cao chung quanh đỉnh núi Cao Dã Sơn giống
như tám cánh hoa sen của Thai Tạng giới Mandala. Chính
giữa là ngôi chùa Kim Cang Đảnh của Hoằng Pháp Đại Sư

Kế đó Ngài học qua Lão Giáo, tự học lấy một cách sốt sắng chớ chẳng cần tới thầy. Thấy Lão Tử rõ thông nhiều chỗ sâu thẳm huyền bí, Ngài ngụ ý mà biết một cách quả quyết rằng mỗi vật đều có hai bề. Một bề ngoài và một bề trong, một bề Hiển và một bề Mật, một cái chơn lý phát hiện và một cái chơn lý ẩn nhẹm. Tư tưởng của Phật cũng ở trong cái luật ấy. Các nhà thành đạo là những người đã đứng vào mặt trong. Sức mạnh của các Ngài dầu lớn, song chưa đủ giải thoát cho loài người.
Vậy các Ngài nương lấy tông Chơn ngôn mà cứu nhân độ thế và dùng các phương tiện dẫn độ, những cuộc hành lễ mà đưa sự huyền diệu anh linh trong vũ trụ vào tâm của mọi người. Năm hai mươi bốn tuổi, Hoằng Pháp giác ngộ sau nhiều cuộc trầm tư mặc tưởng, nhân một hôm nhập định phép Đại Hải Tam muội,76 Ngài thấy Phật hiện đến cho Ngài.


Vòng Phép

Năm 804, Ngài sang Tàu thọ lãnh chơn truyền, nối dây liên lạc của chư Tổ từ Đức Thế Tôn. Lần gặp Ngài đầu tiên, Huệ Quả Thất Tổ Chơn Ngôn Tông dạy rằng: “Ta chờ ngươi đã lâu”. Bốn tháng sau, Tổ ban phép Quán Đảnh cho Hoằng Pháp và nói rằng: “Đức Đại Nhựt Như Lai truyền đạo cho Đức Kim Cang, Đức Kim Cang truyền đạo cho Ngài Long Thọ, truyền nối như vậy mãi đến ta. Ta nay thấy ngươi đáng thọ pháp, nên ta truyền cho ngươi để ngươi về phổ độ nơi quê hương.”

Năm 806, Hoằng Pháp trở về Nhật. Được nhà vua khuyến khích, Ngài liền lập một tu viện tại Cao Dã Sơn để hoằng hóa77 Chơn Ngôn Tông. Ngài truyền bá học thuyết Chơn Ngôn và độ thế rất mạnh. Danh tiếng của Ngài thật lẫy lừng.


Huệ Quả hay Tuệ Quả Hòa thượng (Keikna)

Ngày nay Chơn Ngôn Tông tại Nhật có hơn mười ngàn ngôi chùa và tín đồ lên đến hàng chục vạn người. Các hệ phái của tông này kể cả Thai Mật có cả hai trường đại học và hai trường trung học. Mỗi năm đều có xướng xuất78 ra cả trăm cuộc bố thí và chuẩn bần.79 Mật Tông đã được tu tập bởi các thành phần thượng lưu trí thức ở đây. Năm 835, biết rằng phần việc của Ngài ở thế đã mãn, Hoằng Pháp Đại Sư ngồi nhập định và thị tịch80.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
IV. MẬT TÔNG TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á.
Mấy xứ Tích Lan (Sri Lanka), Xiêm (Thái Lan), Cao Miên (Campuchia), Miến Điện, Lào, Nam Dương (Indonesia), Mã Lai (Malaysia) đều thuộc về Phật giáo tiểu thừa hay là Nam Tông Phật giáo.

Kinh Phật chép rằng về đời vua A-dục, đạo Phật ở Ấn đã truyền qua Tích Lan rồi. Hoàng tử con vua A-dục là MAHENDRA đã sang truyền đạo Phật ở Tích Lan. Ngài đem theo ba tạng kinh, rồi các danh sư đến và dịch tiếng bản xứ. Đạo Phật được truyền đến các nước Đông Nam Á cũng chính vào đời vua A-dục. Ở các nơi này người ta tu học cũng chính đáng và nghiêm trang lắm. Mặt khác, Mật Giáo được phổ biến tại các nước trên đây cùng một lúc với sự phổ biến Mật Giáo tại Trung Hoa và Tây Tạng.

Sử có ghi ngài Bất Không gặp ngài Kim Cang Trí tại Nam Dương năm 720. Sự kiện này chứng tỏ ngài Kim Cang Trí đã du hóa81 hoằng bá82 đạo pháp tại nơi đây vào lúc bấy giờ. Và cũng vào năm này, Bất Không đã xin làm đệ tử của Kim Cang Trí, và ông cùng thầy sang Trung Hoa để tu tập hơn hai chục năm tại Lạc Dương. Sau khi thầy mất, ông sang Tích Lan và gặp ngài Long Trí Tam Tạng và dẫn đệ tử cả thảy ba mươi bảy người đến tham vấn Pháp Sư Phổ Hiền (SAMANTABHADRA) lúc bấy giờ đã có mặt tại Tích Lan nghiên cứu thêm về giáo lý của kinh Kim Cang Đảnh và Đại Nhựt Thai Tạng. Ông trở về Tràng An và mang theo một số kinh điển phong phú.

Các sự kiện trên đây đã chứng minh cho sự truyền thừa Mật Giáo do các Pháp Sư Ấn Độ tại các nước Đông Nam Á cũng đồng thời điểm tại các nơi khác. Hơn nữa Mật Giáo được phổ biến tại đây cũng bằng một số lượng kinh điển Mật Giáo không kém gì tại Tây Tạng và Trung Hoa.

Ở Xiêm, Miến Điện, Lào, Campuchia, các sư đều có tu tập Mật Pháp. Đa số các vị đều nổi danh về những năng lực thần bí và được dân chúng rất kiêng nể. Một số các vị đã đạt được những năng lực kỳ bí thượng thừa mà dân gian thường truyền tụng.

Riêng tại Việt Nam sau Đinh, Lê, Lý, Trần các chùa Việt không có ai đắc truyền về Mật Giáo, nên không có sư đệ tương truyền.83

Năm 1928, cụ Khánh Hòa có thỉnh ba tạng kinh của Tàu, Nhật đem về Việt Nam. Cho mãi đến năm 1970 không có ai dịch phần Mật Giáo trong Đại Tạng đâu; hoặc có dịch cũng rải rác, không đáng kể. Các chùa đâu đâu vào lúc bốn giờ sáng cũng có trì tụng khóa bản của Mật Giáo như Đại Bi và Thập Chú và hơn nữa trong các thời kinh sáng, trưa, tối… các sư ở Việt Nam cũng như ở Nhật bản đều có trì tụng Đại Bi để khởi đầu các thời kinh. Chú Đại Bi được rút ra trong kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đalani”, một bản kinh chú lớn của Mật Giáo được mỗi tín đồ Phật tử tại Việt Nam biết đến và trì tụng. Dù thế khi được hỏi về tông phái Mật Giáo, các Phật tử gần như không biết đến. Nhưng lạ hơn thế, chính ngay các cao tăng cũng ít người hiểu rõ nên đôi khi lại có những thành kiến sai lầm về Mật Giáo rất tai hại, mặc dù vẫn trì tụng thần chú mỗi ngày.

Thỉnh thoảng cũng có một số sư, tăng tu tập Mật Pháp nhưng đều có tính cách ai coi nấy thực hành, không được sự tương truyền từ các bậc Quán Đảnh Sư. Thế nhưng vì tâm đạo bền vững, đạo hạnh trong sáng, nguyện lực độ tha tương ứng với tâm nguyện của Chư Phật và Bồ Tát nên cũng đã đạt được các thần lực bí nhiệm của Mật Giáo từ Chư Tôn bên trên gia trì và làm hiển lộ được các sự kỳ bí thần thông để cảm hóa người thế. Các chư vị đã xứng đáng thọ hưởng pháp lạc cho riêng mình nhưng vì thiếu sự tương truyền nên không thể ban phép “Quán Đảnh” cho các đệ tử. Do đấy Mật Giáo tại Việt Nam cũng vẫn giữ mãi tính cách bí truyền mà người thọ nhận vẫn là một ít người được chọn lọc. Thời gian qua có một số vị tu tập Mật Pháp có vị thế quan trọng ở Việt Nam được nhiều người biết đến; có thể kể ra đây:

– Thượng tọa Thích Viên Đức đã được Hòa thượng Vạn Ân và Từ Thạnh ở Phú Yên trao truyền ấn khế bí mật. Ngài đã tu tập và đạt được các thần lực đáng kể về việc trị các bệnh tim nan y bằng linh phù và nhiều việc kỳ bí khác đã được truyền tụng do Ngài thực hiện… Có thể nói thực sự ông đã có công dịch thuật và hoằng bá các bản kinh Mật Giáo thuộc phần Mật bộ của bộ Đại Tạng Kinh Trung Hoa. Việc học tập Mật Giáo bắt đầu hưng thịnh do việc mạnh dạn phổ biến các bản kinh của Mật Tông bằng tiếng Việt. Ông đã dịch thuật rất nhiều có thể kể sơ lược như:

Kinh Hiển Mật Viên Thông. Kinh Chuẩn-đề Đalani. Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương. Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Đalani. Kinh Đại Bảo Quảng Bác Lầu Các Thiện Trụ Bí Mật Đalani. Kinh Bảo Nhiếp Ấn Đalani. Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng và một số bản kinh quan trọng khác nhất là quyển “Đông Mật”, gồm nội dung của hơn khoảng trăm quyển kinh của Mật Giáo.

Thật sự về phần giáo pháp, Thượng tọa đã đóng góp công đức rất nhiều về mặt giáo điển cho người Việt Nam về Mật Tông Phật giáo. Tuy nhiên vì thiếu chơn truyền mạch lạc về phép “Quán Đảnh” nên Mật Giáo chỉ được hưng thịnh về phần Giáo Tướng còn về Sự Tướng thì Thượng tọa cũng không thể truyền bá được, dầu ngài đã đạt được nhiều thần lực đáng kể.

Ngoài ra còn phải kể đến Hòa thượng Thích Phổ Ứng tại Linh Quang Tịnh xá ở đường Nguyễn Khoái, Khánh Hội, Sài Gòn. Hàng ngày ông đã chữa trị công khai cho những người bị bệnh tà và đã thi triển được nhiều kỳ bí trước mặt các Phật tử. Tuy nhiên, ông không có ý hướng hoằng truyền bí pháp cả về Sự Tướng và Giáo Tướng. Có lẽ ông coi Mật Giáo là một pháp môn khó tu tập và chỉ dành đặc quyền cho người xuất gia và hơn thế nữa phải là những người được chọn lọc.

Còn phải kể thêm Thượng tọa Thích Thiền Tâm người hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ. Ông đã kiêm trì84 Mật Giáo và đạt được những thần lực đáng kể; và ông cũng đã dịch được một số kinh Mật Giáo và đem ra hoằng hóa gần đây. Tuy thế ông không thể thực hiện các chi phần Quán Đảnh của Mật Giáo vì thiếu sự chơn truyền.

Tóm lại các Thượng tọa và các Đại đức khác ở Việt Nam có tu tập Mật Giáo đều không thể trông cậy nhiều vào việc hoằng truyền Sự Tướng nhất là làm lễ điểm đạo truyền pháp theo phép Quán Đảnh của Mật Tông. Do đó người trì chú khó mong đạt được những ước vọng cao và nào có khác gì những tông phái Hiển Giáo trì Đại Bi, Thập Chú.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG III: TÔN CHỈ VÀ GIÁO LÝ CĂN BẢN


Giáo thuyết của Mật Pháp được ghi chép lại trong nhiều bộ kinh khác nhau. Tất cả được tập thành trong phần “Mật Bộ” thuộc bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa và bằng các loại chữ khác. Tuy thế, phần Mật Giáo được ghi chép bằng chữ Hán do các vị Pháp Sư vâng chiếu của các vị vua Trung Hoa sùng đạo dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán được coi là có tánh cách truyền thống và đầy đủ hơn cả. Trong đó phải kể đến ba bộ kinh được coi là quan trọng hơn hết vì nó trình bày gần đầy đủ những tôn chỉ và giáo lý căn bản của Mật Giáo. Đó là:
- kinh Đại Nhựt (MAHAVAIROCANA SUTRA) thuyết về MANDALA được truyền bá mạnh nhất tại miền Nam Ấn, và tông đồ lập thành phái Thai Tạng Giới;
- bộ kinh Kim Cang Đảnh (VAJRASEKHARA SUTRA) lập thành phái Kim Cang Giới được truyền bá tại mạn Đông;
- và bộ thứ ba là kinh “Tô Tất Địa”1 để chỉ bày chơn ngôn, đàn pháp, luật tắc cho hành giả tu tập để đắc thành tất địa.2

Ngoài ra hằng trăm bộ kinh khác của Mật Giáo cũng đã được đúc kết trong Mật Tạng trên cả ngàn năm nay, tuy thế ít phổ biến về giáo thuyết mà lại thuyết minh nặng về phần phương cách thực hành và oai lực của thần chú do kinh tuyên thuyết.

Các bộ kinh này có thể kể một ít như sau: Kinh Bí Mật Tạng Đarani, Kinh Bảo Tịnh Đarani, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đarani Kinh, Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Kinh, Kinh Tô-bà-ha Đồng Tử, Kinh Bồ Đề Trường Trang Nghiêm Đarani, Kinh Tối Thắng Tổng Trì, Kinh Đại Bảo Quảng Bác, Kinh Mạt Pháp nhất Tự Chú, Kinh Thánh Lục Tự, Kinh Phổ Hiền Đarani, Kinh Văn Thù nhất Tự Chú, Kinh Diệu Tý Đồng Tử, Kinh Bất Không Quyến Sách, Kinh Bạch Tán Cái Đarani, Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đarani, Kinh Như Ý Bảo Luân, Kinh Đại Phật Đảnh, Kinh nhất Thập Diện Quan Thế Âm, Kinh Quán Tự Tại Nghi Quỹ, Kinh nhất Tự Đảnh Luân, Thần Biến Sớ, Mâu Lê Chú Kinh, Kinh Cầu Tức Đắc Đarani, Kinh Vô Cấu Tịnh Quang, Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng Thần Chú, Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương, Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ, Kinh Bát Nhã Sớ, Kinh Mạn-đà-la Sớ, Bạch Tán Cái Tụng, Phật Đảnh Tụng, Phật Đảnh Sớ, Kinh Ngũ Tự Đarani, Kinh Đại Giáo Vương...

Để tìm hiểu tổng quát Mật Giáo không gì hơn là tham chiếu hai bộ kinh quan trọng là kinh Đại Nhựt và kinh Kim Cang Đảnh cũng như sẽ khảo sát sơ lược toàn bộ các bản kinh khác trong Mật Tạng.

I. MẬT GIÁO QUA HAI BỘ KINH ĐẠI NHỰT VÀ KIM CANG ĐẢNH:
Đại Nhựt Kinh là lược gọi của kinh “Đại Tỳ-lô-giá-na Thành Phật Thần Biến Gia Trì3” gồm bảy quyển, được dịch từ Phạn văn sang chữ Hán vào đời Đường, do ngài Thiện Vô Úy và Nhất Hạnh dịch chung. Kinh Kim Cang Đảnh là tên ngắn của “Kim Cang Đảnh Nhất Thế4 Như Lai Chân Thật Nhiếp5 Đại Thừa Hiện Chứng6 Đại Giáo Vương Kinh7” gồm ba quyển do Đường Bất Không Tam Tạng Pháp Sư dịch. Hai bộ kinh này trên mặt Giáo Tướng đã giải bày chơn lý, thật tướng của các pháp: Lục Đại, Tứ Mạn, Tam Mật, Thập Trụ Tâm… mà chúng ta cần duyệt xét:

1. LỤC ĐẠI:
Mật Tông chủ trương Lục Đại là chơn thật thể8 của vũ trụ. Lục Đại là Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại, Không Đại và Thức Đại. Lục Đại là bản nguyên9 của các tánh năng sanh (sanh ra) năng lưu (lưu xuất ra). Trong Lục Đại thì năm Đại trước thuộc về vật, Đại cuối cùng thuộc về tâm (Thức đại). Sáu Đại này mỗi mỗi đều dung thông10, không ngăn ngại, thâu nhiếp lẫn nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà sanh ra các pháp.11

Lục Đại bao gồm ba phương diện:
- Thể Đại: tức là bản thể chung của vũ trụ
- Tướng Đại: tức là hình tướng của sự vật và chúng sanh
- Dụng Đại: tức là ngôn ngữ, động tác, công dụng của mỗi sự vật.

Như vậy vũ trụ vạn hữu không có gì ngoài Thể đại, Tướng đại, Dụng đại. Thể, Tướng, Dụng là chúng ta dùng trí lực chia chúng ra như thế để quan sát. Chứ thực ra, ba phương diện ấy không thể rời nhau, không thể tồn tại riêng rẽ được. Nếu thiếu đi Thể đại thì Tướng đại và Dụng đại cũng không thể có được. Vậy xét một phương diện thì rõ được cả ba.

Như chúng ta thấy ở trên: Sáu Đại dung thông, thâu nhiếp lẫn nhau và ba phương diện: Thể, Tướng, Dụng, cũng không thể rời nhau. Nên vũ trụ vạn hữu, mặc dù muôn hình vạn trạng, rộng lớn vô biên, vẫn có cái lý dung thông12 vô ngại13, châu biến14 khắp tất cả. Cái đó gọi là Lý Tánh hay Chơn Như15. Lý Tánh hay Chơn Như là nồng cốt của Sự Tướng. Nhưng nếu không có Sự Tướng, thì Chơn Như hay Lý Tánh cũng không thể biểu dương16 được. Lý Tánh và Sự Tướng là hai khía cạnh tĩnh và động của Nhất Như17. Nói tóm lại có Lý tức có Sự, có Sự tức có Lý.

Lý Tánh của vũ trụ vạn hữu cũng tức là Phật Tánh. Như vậy Phật Tánh đều có sẵn trong mỗi chúng sanh, trong mỗi hình thức. Muốn chứng ngộ Phật Tánh, muốn thể nhập Chân Như, trước tiên phải quan sát Sự Tướng. Sự Tướng có thể gồm trong bốn loại sau đây, tức là bốn MANDALA.

2. BỐN MANDALA:
MANDALA có nghĩa là tròn trịa đầy đủ, rộng lớn không lường.18 Bốn pháp MANDALA hay "tứ mạn tướng đại" là bốn tướng rộng lớn, đầy đủ của bản thể do sáu đại mà biến hiện ra. Bốn pháp MANDALA là:

a. Đại MANDALA (MAHA–MANDALA). Nghĩa rộng là thân của các loài hữu tình trong mười phương pháp giới,19 là sắc tướng muôn pháp trong mười phương vũ trụ, y theo lục đại mà hiện. Nghĩa hẹp là chỉ cái sắc tướng20 trang nghiêm của Phật, Bồ Tát… được thể hiện trong các pho tượng chạm trổ, tô vẻ v.v…

b. Tam muội gia Mandala (SAMAYA MANDALA). Nghĩa rộng là hết thảy cơ khí trong vũ trụ, những vật dụng thường ngày của chúng sanh hay rộng hơn nữa là cái đặc tánh riêng biệt của mỗi pháp: núi, sông, cây, cỏ… Nghĩa hẹp là chỉ những vật mà Bồ Tát và Phật thường dùng như hoa sen, ngọc bửu châu, cành dương liễu, chày Kim Cang… để tiêu biểu cho thệ nguyện hay các đặc tánh thù thắng21 riêng của quý ngài trong việc cứu độ chúng sanh.

c. Pháp MANDALA (DHARMA MANDALA). Nghĩa rộng là hết thảy các loại âm thanh, lời nói, hình ảnh, tên gọi, ký hiệu trong vũ trụ. Nghĩa hẹp là chỉ cho những chủng tử tự hay Chơn Ngôn của các đức Phật hay Bồ Tát. Chủng tử ở đây tức là chữ cái, chữ tiêu biểu cho bản thể của Phật và Bồ Tát, như chủng tử của Đức Đại Nhựt Như Lai chữ “A”, chủng tử của Ngài Kim Cang Tát Đỏa là chữ “HUM”. Còn Chơn Ngôn là Mật chú và là danh hiệu của Phật và Bồ Tát. Chơn Ngôn đại diện cho tất cả văn nghĩa trong kinh điển.


HUM


d. Yết ma MANDALA (KARMA MANDALA): Yết ma nghĩa là cử động làm các sự nghiệp. Vậy nghĩa rộng của Yết ma là chỉ cho hết thảy động tác của chúng sanh và muôn vật. Nghĩa hẹp là chỉ cho hết thảy oai nghi, động tác của chư Phật và Bồ Tát để làm các sự nghiệp độ sanh.
Bốn MANDALA trên đồng thời tồn tại, đã có một MANDALA tức phải có ba MANDALA kia. Bốn Mạn này Phật, Bồ Tát, chúng sanh đều có. Bốn Mạn của Phật không lìa bốn Mạn của chúng sanh, bốn Mạn của chúng sanh không lìa bốn Mạn của Phật. Vì thế kinh thường gọi là bốn Mạn không lìa nhau.

3. TAM MẬT:
Phương pháp tu hành trọng yếu của Mật Tông là Tam Mật. Tam Mật là phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân, ngữ, ý. Tam Mật gồm có: thân mật, ngữ mật, và ý mật. Như trên đã nói, chúng sanh và Đức Như Lai đều do sáu đại làm thể,22 bốn pháp MANDALA làm tướng,23 không sai khác. Như Đức Đại Nhựt có tam pháp giới là thân mật, hết thảy tiếng tăm là ngữ mật, cái thức lớn bao trùm tất cả là ý mật.
Còn chúng sanh thì tay bắt ấn là thân mật, miệng niệm Chơn Ngôn là ngữ mật, tâm chuyên vào Tam-ma-địa24 (thiền định) là ý mật.
Nhưng Phật và chúng sanh khác nhau ở tịnh và nhiễm, ngộ và mê, giải thoát và ràng buộc. Vậy chúng sanh muốn được như Phật phải tu hành theo pháp Tam Mật. Nhờ tay bắt ấn mà tịnh được thân nghiệp, miệng niệm Chơn Ngôn mà tịnh được khẩu nghiệp, trí quán tưởng Đức Đại Nhựt hay các chủng tử tự hoặc linh phù mà dẹp được vọng tưởng, ý nghiệp được thanh tịnh.

Sự tu hành Tam Mật có thể chia làm hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn đầu là Tam Mật Gia Trì. Trong giai đoạn này, sau khi hành giả đã làm chủ được thân, ngữ, ý rồi thì tâm thủy của mình (tâm vắng lặng như nước đứng yên) được ánh sáng mầu nhiệm của Đại Nhựt Như Lai chói rọi vào, tức là “gia” và tâm thủy mình cùng cảm chịu, thu nhận được ánh sáng mầu nhiệm ấy, tức là “trì.” Một bên thì gia, một bên thì trì, hai bên thừa tiếp nhau nên gọi là “Tam Mật Gia Trì.”
Giai đoạn hai gọi là Tam Mật Du-già. Khi Tam Mật gia trì đã thuần thục, thì ánh sáng của Đức Đại Nhựt và ánh sáng trong tâm thủy của hành giả hiệp nhau (DU GIÀ) không sai khác thì gọi là “Tam Mật Du-già.” Đến đây tức là công phu tu hành hữu tướng tam mật đã thành tựu.

Học thuyết Chơn Ngôn Tông coi ba cái Mật này là trọng đại: thân, khẩu, ý. Mỗi vật đều có thân thể, lời nói và tư tưởng. Con người thì nói được, song trong bầu trời những vật khác cũng nói được. Ta chưa nghe và chẳng tầm mà nghe, ta chớ cho vật là câm. Vật vẫn nói, song ta chưa biết nghe, ta không nghe, thế nên Tông Chơn Ngôn mới gọi là thân, khẩu, ý của vạn vật trong vũ trụ là ba cái mật ẩn, ba cái bí thuật.

Cây cối, cỏ hoa đều nói được hết. Lá xào xạc trên cây, cành khua rắc rắc dưới chiều gió; có khi ta nghe như tiếng ca ngâm; có khi ta nghe như tiếng luận bàn; có khi ta nghe như tiếng nạt nộ. Có dịp ngồi trong một đám rừng sâu và lẵng lặng mà nghe, quý ngài sẽ nhận ra rằng cây cối giống hệt như người, bàn bạc, nói năng, chào mời đủ cách. Tiếng suối trên non rỏ rẽ, kẻ thế thường nhận có bấy nhiêu. Các nhà có cảm, các bậc thi nhân mới mở cái tâm ra, nên nhận là tiếng đờn êm ái, dịu dàng. Mấy trang học đạo biết rõ ràng tiếng suối là lời nói đủ âm, đủ dạng. Một đôi khi ngồi dưới bãi biển, ta nghe sóng vỗ vào gành; có khi chúng nó gọi to, có lúc chúng nó ầm ĩ, dường như bàn tính một sự việc gì.

Mọi vật chung quanh ta, gia cầm, chim chóc đều nói chuyện và ca mừng rất có ý nghĩa. Vạn vật nào phải là câm. Ấy tại loài người chẳng biết nghe đó. Tiếng nói loài người là một thứ tiếng nói trong bao nhiêu những tiếng nói của vũ trụ. Nếu ta biết tu dưỡng, nếu ta biết để riêng nơi ta một chỗ tinh khiết, nghiêm trang, nếu ta biết giữ luật đạo, thì ta sẽ hiểu tiếng của vật, cho đến Thần, Thánh, Tiên v.v… ta cũng sẽ thấy hình và tiếng nữa. Điều kiện cần thiết là giữ cái tâm trong sạch, những khiếu25 trong người ta sẽ mở thông và nhận được các sự ẩn kín trong vũ trụ.

Vì người ta thường chấp theo văn tự, học theo sách vở nên chỉ thấy biết những cái bề ngoài mà thôi. Những môn học thường cho họ biết cái bên ngoài của vạn vật, chớ nào có phân giải với họ về những vấn đề siêu hình, huyền bí, ẩn mật và nào có chỉ cho họ được cái chỗ tuyệt đích mà ta mò không tới, trông không ra, suy không nổi đâu! Thật ra đó mới là cái chỗ loài người rất mong.
Họ chỉ thấy vật có hình có thể, chớ họ đâu biết mà nhận ra rằng vật cũng có tư tưởng và lời nói. Vạn vật trong vũ trụ, không trừ vật nào, hễ có hình thể thì có tư tưởng và nói được. Vật nào sống cũng tại tư tưởng, vật là sự phát hiện thành chất của tư tưởng mà tư tưởng lộ ra bằng lời nói, tiếng tăm và dấu hiệu. Không bao giờ có sự lặng thinh mà sự im lặng chính là lời nói ở trong tâm trí. Vậy nên nhờ sự im lặng mà lắm khi vật với vật mới hiểu nhau. Ai mà nhập diệu26 được hoàn toàn ba cái thân mật, khẩu mật và ý mật thì đắc ngay quả Phật. Chúng ta phải xét kỹ và học hỏi cho lâu mới thấy ba cái mật đó. Từ đây về sau chúng ta đừng phân giai cấp, đừng khinh rẻ vật có mạng sống và vật không có mạng sống.

4. THẬP TRỤ TÂM.
Những nhà Phật Giáo Đại Thừa tin rằng giáo lý dị biệt27 giữa các tông phái và tôn giáo khác nhau đều có ích và cần thiết cho những người có khả năng và viễn ảnh28 khác nhau. Một số những giáo lý này có tính chất quyền biến29, bày ra cho tâm thức non nớt của quần chúng; một số khác mới thật là giáo lý tối hậu30 chỉ thích hợp cho một giai đoạn tiến hóa nào đó và cho một thiểu số người có một trình độ tâm thức cao hơn. Nhưng tất cả những giáo lý và các tôn giáo đã đóng vai trò xây dựng của chúng trong việc xúc tiến an lạc và phát triển tâm linh nhân loại. Những giáo lý linh thiêng chỉ có một sự dị biệt giữa giáo lý sơ bộ31 và giáo lý tiến bộ; giữa giáo lý quyền biến và giáo lý tối hậu chứ không giữa giáo lý “trúng” và giáo lý “sai.” Hoằng Pháp Đại Sư (KOBO 774-835) người tập thành toàn bộ Mật Giáo đã phân tích sự phát triển của tâm thức con người và xếp loại thành mười giai đoạn phát triển của tâm, tức “Thập Trụ Tâm.”32
Mười bậc tư tưởng trên có ghi trong quyển Đại Nhật Kinh. Đức Hoằng Pháp Đại Sư ví mười bậc ấy như những thời kỳ của một đóa sen dưới hồ:

1) Dị Sanh Kỳ Dương Tâm:33
Những nẻo đường của cuộc sống mù quáng do bản năng điều khiển.
Bậc đầu này là lúc con người còn trong cảnh ngu muội; chẳng hơn gì bọn ở ba cảnh: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người ta nói rằng những kẻ này sanh ra khác người hiền. Họ sống dưới quyền sai khiến của các sở dục,34 không biết phân biệt sự phải quấy, thiện ác và chẳng hiểu luật nhơn quả. Họ chỉ biết thỏa thích về ăn uống và dâm dục mà thôi. Ở bên Thiên Trước, người ta gọi hạng này là bọn dê, vì giống vật này khờ khạo và ngu muội hơn hết.
Kìa dưới hồ sen, trước khi nở ra và mọc lên, hoa sen còn là một cái mầm vùi dưới bùn. Ấy là tư tưởng bậc đầu.

2) Ngu Đồng Trì Trai Tâm (Nhân Thừa):35
Cố gắng vươn lên cho một đời sống đạo đức.
Bậc thứ hai là cảnh người biết giữ giới, bậc chung của loài người. Ở đây người ta chưa thông hiểu, song tuân theo giáo điều. Người ta giữ lễ tục theo kinh sách và lời truyền dạy từ xưa. Người theo đạo Phật thì trì giữ ngũ giới cấm: tránh sát sanh, trộm đạo, tà dâm, vọng ngữ,36 và ẩm tửu,37 nhờ đó khỏi tạo cái nghiệp về miệng và thân. Người theo Khổng Giáo thì giữ Tam Cang38 (quân thần, phụ tử, phu thê) và Ngũ Thường (nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín). Bên Chơn Ngôn Tông, ở bậc này, kẻ học đạo tham thiền về ba cái ẩn mật: thân mật, khẩu mật, ý mật.
Trổi bước lần đầu, người ta cũng như cọng sen cất mình lên khỏi lầy. Song còn yếu ớt.

3) Anh Đồng Vô Úy Tâm (Thiên Thừa):39
Giai đoạn chúng sanh ở cõi Thiên, nỗ lực cho một sức mạnh siêu nhiên.
Bậc này là cảnh trí40 của người trai trẻ không sợ, đã qua khỏi thời kỳ đáng lo. Tới đây con người tránh được ba cảnh: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Họ lại ngó thấy cảnh tốt của thần tiên. Họ cố gắng trì thập giới41 của nhà Phật và ưa gần gũi với thiện tri thức, nên chắc khỏi cảnh sa ngã. Người ta cũng kể vào đây phái đồ42 đạo Lão và đạo Bà-la-môn chơn chánh, hành giả Chơn Ngôn Tông, bậc này tấn hóa khá lắm43 về thân mật, khẩu mật, và ý mật.
Cảnh này ví như hoa sen mà cành đã ra khỏi nước, vượt lên ánh sáng mặt trời.

4) Duy Uẩn Vô Ngã Tâm (Thanh Văn Thừa):44
Thừa của người vươn lên đời sống tâm linh cao đẳng45 như trong các bộ phái Tiểu Thừa: Câu-xá Tông46 và Thành Thật Tông47.
Ở bậc thứ tư, con người không còn giữ cái “bản ngã.” Con người là một cái tâm trí, biết tham xét để tìm cầu chơn lý. Người ta hiểu được: Không có cái tôi, cái bổn ngã, mà có năm cái uẩn: Sắc (những gì thuộc về vật chất có thể nhìn được hoặc không, còn trong thân thì những gì không thuộc vào các trạng thái tâm lý đều gọi là Sắc), Thọ (những cảm giác về khổ hay vui, những tâm lý vui hay buồn), Tưởng (suy nghĩ hay tưởng tượng), Hành (ý định, suy tư, cân nhắc trước một quyết định, bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành), Thức (cái biết của trí, thành phần phân biệt đối tượng của tâm lý). Cái bản ngã tự cao, nguyên nhân của các sự bào ảnh,48 chính nó cũng là bào ảnh nữa, cái bản ngã ấy cũng không thiệt có nên phải bỏ nó.
Cảnh trí này ví như cánh sen còn búp. Chờ khi nắng tới, cái bông búp sẽ nở ra thành một cánh hoa đẹp.

5) Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm (Độc Giác Thừa):49
Tự tu tự hưởng nhưng còn vị kỷ.50
Ở bậc này đã thành Phật Duyên Giác. Các Ngài tống ra khỏi tâm những cái tham dục. Các ngài tham thiền về những nhân duyên của lòng tham. Tất cả là mười hai cái nối dài51 với nhau và cái đầu đảng, cái mầm móng là cái vô minh.52 Nhờ tham thiền các ngài mới lôi chúng ra khỏi mình. Các ngài trở nên minh,53 đắc quả Phật Duyên Giác. Đứng về Tông Chơn Ngôn, bậc thứ tư và thứ năm là cảnh trí của nhà tham thiền về cái chẳng có đích thật.
Sự vật tựa hồ như hình rọi vào kính và trăng soi dưới nước. Đời người và cuộc thế54 tựa hồ như giấc mộng mau qua. Như trên mặt hồ, bông sen rọi xuống rõ ràng, song chẳng qua là bào ảnh.

6) Tha Duyên Đại Thừa Tâm:55
Tới đây là bậc của các nhà tu Đại Thừa đủ lòng bác ái giúp đời.
Tuy cuộc thế là mộng ảo chớ cái tư tưởng chẳng phải là ảo mộng. Cái tư tưởng là có thật và mỗi vật đều ở trong đó mà ra, ấy là học thuyết của Pháp Tướng Tông. Cái tướng ta thế nào, đời ta thế ấy. Nó lành thì đời ta êm ái, nhẹ nhàng; nó dữ thì đời ta bối rối phiền lo. Và bao giờ tư tưởng ai thấp kém thì đời người ấy không bao giờ thanh cao được. Lại như ta biết cái bí thuật giải thoát mà không độ thoát cho chúng sanh hưởng nhờ, thời ta không thành Phật được. Giá như đức Phật, không đem giáo lý cứu khổ mà độ cho đời thoát ra khỏi bến mê vô tận thì ngài đâu xứng danh là Phật, là danh Đại Từ Bi được.
Tư tưởng dễ tấn phát, cần phải lo cho người khác tấn phát với. Ví như hoa sen nó dưới hồ, bị cỏ lá bấu vào, mấy cọng sen mới họp nhau lại mà vượt ra khỏi và lướt lên bầu trời một cách vẻ vang.

7) Giác Tâm Bất Sanh Tâm:56
Đến bậc này con người đã đạt tới cái tư tưởng “Chân Không,”57 tức là không phải có và không phải không, cái mực trung thuyết Tam Luận Tông58.
Người ta tham thiền về tám cái không: Không sống, Không chết, Không đến, Không đi, Không giống, Không khác, Không có, Không không. Cố sức mà thiền định như vậy, cái tưởng59 bèn thoát khỏi những chỗ thấp thường60 mà lên chí những đảnh cao nghiêm, vượt tới cõi trời Trung đạo, trong trẻo và êm đềm. Các nhà tu Chơn Ngôn, bậc thứ sáu và thứ bảy nhập định pháp Du già (YOGA: Hiệp một với Thượng Đế) một cách tự do và dễ dàng.
Bậc này như hoa sen lên khỏi mặt nước, tuy không phải là thực hẳn chớ không phải là cái bóng rọi trên mặt gương của cái hồ. Không phải thật mà chẳng phải không thật.

8) Nhất Đạo Vô Vi Tâm:61
Ở bậc thứ tám, người ta tưởng đến nền đạo chung cho tất cả, Nhất Thừa Vô Vi thuộc theo thuyết Thiên Thai Tông62. Mọi vật đều như nhau, đều có cái Phật Tánh. Cái gì cũng có thể thành Phật hết.
Ở đây ví như dưới hồ mà hoa sen mọc lên hứng lấy bóng mặt trời. Khắp cả hồ sẽ có đầy hoa sen! Xinh lịch thay!

9) Cực Vô Tự Tánh Tâm:63
Bậc thứ chín đi với thuyết Hoa Nghiêm là thuyết về Hiển Giáo cao hơn hết. Tông Hoa Nghiêm giải rằng cái tuyệt đối cũng là một với cái tương đối, nên nó không giữ cái tánh của nó.
Ta ví bậc tư tưởng này: hoa sen đến lúc đẹp đẽ, sáng rỡ cực điểm, dường như chứa vào nó biết bao sự bi thiết64 tinh vi.

10) Bí Mật Trang Nghiêm Tâm (Kim Cang Thừa):
Tông chỉ của Chơn Ngôn Tông. Bậc thứ mưới là cái tư tưởng tô điểm bằng sự ẩn mật. Đó là tánh chất của Chơn Ngôn Tông. Sự ẩn mật ở đây là ba cái mật: Thân, Khẩu, Ý. Nếu hiểu sự ẩn mật của vũ trụ, thông ba cái mật đó thì thành Phật trong khi sanh tiền. Cũng như khi xem hoa sen, ta chẳng phải thích bằng con mắt không mà thôi. Lại khi thấy hoa sen trải qua nhiều thời kỳ từ lúc còn là một hạt giống cho đến lúc hoàn toàn, nếu ta thấy biết có bấy nhiêu, thì ta là người mờ ám65 đó. Ta phải hiểu cái cuộc đời bề trong linh hoạt và nhiệm mầu. Cũng như ta hiểu rằng ta có một cái tâm như Phật và hoa sen cũng có cái tâm như ta.

5. TRIẾT HỌC MANDALA.
Kinh Đại Nhựt và kinh Kim Cang Đảnh đã thuyết minh về hai đại hội bí mật là Thai Tạng Giới và Kim Cang Giới MANDALA. Hai MANDALA này Chư Tôn, Chân Ngôn, Ấn Khế và các chủng tử tự đều khác nhau.

Năm phương Phật trong Thai Tạng Giới là:
– Trung ương Đức Tỳ-lô-giá-na.
– Đông phương Bảo Tràng Như Lai.
– Nam phương Khai Phu Hoa Vương Như Lai.
– Tây phương A Di Đà Như Lai
– Bắc phương Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai và các chư tôn Bồ Tát.

Năm phương Phật của Kim Cang Giới là:
– Trung ương Đức Đại Nhựt Như Lai.
– Đông phương A-súc-bệ Như Lai.
– Nam phương Bảo Sanh Như Lai.
– Tây phương Vô Lượng Thọ Như Lai.
– Bắc phương Bất Không Thành Tựu Như Lai và các chư tôn Bồ Tát.

Về mặt triết học Thai Tạng Giới lấy Đại Viên Cảnh Trí66 làm tối sơ,67 lấy Pháp Giới Trí68 làm sau rốt.69 Trái lại Kim Cang Giới lấy Pháp Giới Trí làm đầu tiên và lấy Thành Sở Tác Trí70 làm chung kết. Triết lý về hai MANDALA này được trình bày như sau:

1. Thai Tạng Giới.
Theo Đại Nhựt Kinh Sớ:
- Thứ nhất “A” ở phương Đông, cứ tiếng Phạn chữ Đông có nghĩa là phát động. Theo không gian, thì trong các phương, phương Đông là hơn hết. Đây dụ cho Bồ Đề Tâm là bước đầu tiên của muôn hạnh thuộc về Phật Bảo Tràng. Bảo Tràng Phật là Bồ Đề Tâm, cũng như trong quân ngũ, ngọn cờ là hướng đạo của binh sĩ, khi tới lui đều phải theo hiệu lịnh đó. Cũng thế, muôn hạnh của Bồ Tát cũng đều phải lấy Bồ Đề Tâm làm tiêu chuẩn.

Hình ảnh
Năm phương Phật của Thai Tạng giới. Ở giữa là ĀH, phương Đông là A, phương Nam là Ā, phương Tây là AM và phương Bắc là AH


- Thứ hai là chữ “Ā” (thuộc loại chữ A) có nghĩa là hạnh Bồ Đề ở phía Nam, thuộc về Khai Phu Hoa Vương. Khai Phu Hoa Vương Như Lai là hoa sen mãn giác.71 Nếu chỉ có Bồ Đề Tâm mà không thực hành mười độ,72 muôn hạnh thì giác hoa73 không nở.
Nếu y theo Bồ Đề Tâm tu tập Bồ Tát hạnh,74 hoa Viên giác75 được sức tự trưởng76 dần nở tròn trịa tốt tươi.
- Thứ ba chữ “AM,” có nghĩa là thành tựu Bồ Đề Tâm ở phương Tây, thuộc về Phật A Di Đà. A Di Đà là Thọ Dụng Phật. Đây là chỉ cho khi thành tựu đạo quả, tức được hưởng pháp lạc chân thật vô lượng không thể nghĩ bàn.

Hình ảnh
Thai Tạng Giới Mandala


- Thứ tư chữ “AH” có nghĩa vào Niết Bàn ở phương Bắc thuộc về Phật Thiên Cổ Lôi Âm. Thiên Cổ Lôi Âm Phật có nghĩa là phương tiện. Đây chỉ cho khi thành tựu đại quả, không những Như Lai riêng mình thọ dụng mà còn dùng “Thành Sở Tác Trí” diễn vô số phương tiện hóa độ chúng sanh và sau rốt lại cũng phương tiện mà vào Niết Bàn. “Bồ Đề Tâm Luận” có nói: “Phật A Di Đà thành tựu Bồ Đề, thọ dụng pháp quả,77 Phật Thiên Cổ Lôi Âm việc làm đã xong vào Đại Niết Bàn là ý nghĩa này.”

- Thứ năm chữ “ĀH” (hay Ô) có nghĩa: đầy đủ phương tiện ở Trung ương thuộc Tỳ-lô-giá-na. Bản thân và thể hoa-đài của Phật Đại Nhựt siêu tuyệt tám cánh cùng các phương sở,78 chẳng phải cảnh giới tâm tư, chỉ Phật với Phật mới biết rõ hết. Nhưng vì nghĩ đến bản thệ79 nên Đức Đại Nhựt mở tạng80 Đại Bi để hướng dẫn chúng sanh vào Phật Tuệ,81 dùng thần lực gia trì hiện thân, khẩu, ý khắp trong các đường sanh tử. Đây tức là phương tiện vậy.

2. Kim Cang Giới.
MANDALA ngũ trí Như Lai82này được trình bày như sau:

Hình ảnh
Năm phương Phật của Kim Cang giới. Ở giữa là VAM, phương Đông là HUM, phương Nam là TRAH, phương Tây là HRIH và phương Bắc là AH.


- Đại Nhựt Quang Như Lai (VAIROCANA), biểu tượng cho Pháp Giới Thể Tánh Trí83. Chủng tử của Ngài là chữ “ÚM” (OM), tượng trưng cho kinh nghiệm vô biên toàn thể. Chữ ÚM cũng như những chủng tử tự khác mang sức mạnh sáng tác và cũng vì vậy có những lý thuyết về nguyên ngôn84 tạo hóa (LOGOS: Le verbe créateur) và lý thuyết về thế giới chấn động (Théories des vibrations).85 Trong ngũ uẩn, uẩn liên hệ với Ngài là thức. Thức hay ý thức chấp ngã của cá nhân sau khi kinh nghiệm được pháp tánh vô biên, biến thành ý thức vũ trụ dưới hình thức ngài Đại Nhựt Quang. Ý thức vũ trụ hay Pháp Giới Thể Tánh Trí được tượng trưng bằng không gian vô biên vừa xanh thẳm vừa xanh thắm, điều kiện tiên quyết của hiện hữu vì nó bảo toàn tất cả không phân biệt. Không gian ở đây là không gian của kinh nghiệm tâm linh, của năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, toàn bộ chứ không phải chỉ riêng cho uẩn sắc dưới hình thức không gian toán học. Trong MANDALA Ngũ Trí Như Lai, Ngài Đại Nhựt Quang ở trung tâm thân hình màu trắng trong, ngồi trên tòa Sư tử, tay bắt ấn Chuyển Pháp Luân (DHARMA CAKRA MUDRA).


Kim Cang Giới Mandala – Ngũ Trí Như Lai


- Bất Động Như Lai (AKSOBHYA) hay A-súc-bệ Như Lai, ở hướng Đông biểu tượng cho Đại Viên Cảnh Trí. Chủng tử của Ngài là chữ HỒNG (HUM), tượng trưng cho sự nhập thể và thành tựu. ÚM và HỒNG là hai giá trị bổ túc. ÚM là giải thoát, còn HỒNG là đem lại cứu độ. ÚM đi vào tổng thể, còn HỒNG từ tổng thể trở về hố thẳm của tâm hồn. Yếu tố nhân thế và tình cảm của chữ HỒNG biến Đức Phật thành Bồ Tát, cấp bậc nhỏ hơn nhưng đậm đà hơn, nhỏ hơn nhưng Đại Thừa hơn, HỒNG là vô biên trong hữu hạn, không thời gian trong thời gian, thiên thu trong chốc lát, “Không” trong “Sắc”86 (sắc tức thị không, không tức thị sắc).


A-súc-bệ Như Lai (Aksobhya –HUM) - Tượng thời nhà Minh, thế kỷ 14-17


Ngài Bất Động Như Lai là vị Phật huyền bí trong năm vị Phật Thiền (DHYANI BUDDHAS),87 tượng trưng cho hai khía cạnh của thực tại Không và Sắc. Trong Kim Cang Thừa (VAJRAYANA), hai Ngài Đại Nhựt và Bất Động có thể đổi vị trí cho nhau tùy thích ứng của tâm hồn mình lúc tọa thiền chú trọng về Không hay Sắc, giải thoát hay cứu độ. Ấn Ngài sử dụng là Xúc Địa Ấn (BHUMI SPARCA MUDRA).
Trong MANDALA của Kim Cang Giới, hình vẽ Ngài Bất Động Như Lai thân sắc xanh đậm, tay cầm kim cương, xuất hiện ngồi trên cặp bạch tượng oai nghi ở phương Đông lúc mặt trời mới mọc, hào quang của Ngài lại trong sáng như nước (Thủy Đại).

- Bảo Sanh Như Lai (RATNASAMBHAVA), biểu tượng cho Bình Đẳng Tánh Trí.88 Chủng tử của Ngài là chữ TRẠM, tượng trưng cho sự giác ngộ của tâm thức, của Vô Phân Biệt Trí.89
Giác ngộ là một sự biến chuyển tâm linh, biến chuyển không phải là thay đổi trái bây giờ, khác trước kia, theo một chiều hướng suy luận nào đó, nhưng mà lại theo tiếng gọi của uẩn Thọ, nghĩa là sống động với tình thương, với Từ, Bi, Hỷ, Xả. Ngài là vị Như Lai ở phương Nam, thân sắc vàng chói như ánh mặt trời buổi trưa đúng ngọ, tượng trưng cho sự sung mãn của đời sống tâm linh. Màu sắc của đất, của bình đẳng cũng là vàng. Ấn quyết của Ngài, bàn tay mặt ngửa ra chạm đất (DANAMUDRA) biểu tượng cho sự bố thí, cho sự tặng cho chúng sanh ba bảo vật (Tam bảo) để nương theo đó mà đạt Không Tánh90 của Ngài Bất Động và đạt vô ngã của Ngài Bảo Sanh, hầu tiến tới hòa đồng mật thiết với nhau.


Bảo Sanh Như Lai
(Ratnasambhava –TRAH) - Tượng thời nhà Minh, thế kỷ 14-17

Trong Mandala này, hình vẽ của Ngài Bảo Sanh, kim thân tựa trên ngai ngựa, sắc thân vàng chói của Địa đại, Ngài ngự tại hướng Nam.

- Vô Lượng Quang Như Lai (AMITABHA), biểu tượng cho Diệu Quan Sát Trí.91 Vô Lượng Quang Như Lai lại là Đức A Di Đà, chủng tử của Ngài là chữ HRIH và câu chú của Ngài là OM AMITABHA HRIH. HRIH là bản chất của Hỏa đại, sôi nóng bừng cháy, phóng hào quang hồng chiếu khắp nơi. Thân Ngài Vô Lượng Quang cũng đỏ thẳm như ánh nắng chiều của mặt trời lặn phương Tây. Hoàng hôn là giờ của thiền định nên Ngài bắt Ấn Thiền Định (DHYANA MUDRA). Cầm hoa sen nở tượng trưng cho quán tưởng. Uẩn liên hệ với Ngài là Tưởng. Từ óc phân biệt của Ý thức, Tưởng trở thành quán tưởng của Diệu Quan Sát Trí. Diệu Quan Sát Trí là trí phân biệt cùng tột của trí tuệ trong lộ trình đi từ Lý qua Sự.92 Con mắt là tượng trưng cho quan sát, cho nên ngôi Ngài Vô Lượng Quang được đặt trên lưng con công, lông cánh đầy cả mắt.
Trí quan sát phân tích ở đây hoàn toàn trực giác, không phải lý luận vì căn bản của nó là Bình Đẳng Tánh Trí,93 tổng hợp những tương quan của vũ trụ. Đứng trên bình diện cá thể và hành động (thế giới của Sự), chủng tử HRIH sống động, tỏa và nở ra trong câu chú ÚM MA NI PAD ME HUM. Đó là sức mạnh huyền bí của phản ứng không thời gian tính, ấy là tiếng nói của nội tâm, của tâm pháp (BODHIDHARMA) trực chỉ, bộc phát không lý trí.94
HRIH là chủng tử của Bồ Tát hạnh, của hành động không tính kết quả vì đã khước từ mọi quyền lợi cá nhân, trước sự cứu độ toàn thể chúng sanh. HRIH là tư tưởng kinh Kim Cang thành tựu trong hành động. Ánh sáng hồng chói của Hỏa đại cùng với Ngài Vô Lượng Quang xuất hiện trên lưng con công ở phương Tây.


Vô Lượng Quang Như Lai
(Amitabha –HRIH) - Tượng thời nhà Minh, thế kỷ 14-17


- Bất Không Thành Tựu Như Lai (AMOGHASIDDHI) biểu tượng cho Thành Sở Tác Trí,95 chủng tử của Ngài là chữ “A,” tượng trưng cho hành động. Nếu UM là tánh thể của vũ trụ, HỒNG là thành tựu của sự sống, thì AH là hành động tác thành. Những tràng phan ở các chùa Tây Tạng đều có viết ba chữ chủng tử: “UM AH HỒNG”, biểu tượng cho Thể, Ngôn và Tánh. Ngài Bất Không Thành Tựu là vị vương của Phong đại, của gió, của chuyển động, của hơi thở, của sự sống động. Ngài Bất Không còn là một hóa thân của Ngài A Di Đà, vì vậy là vị Như Lai của sự biến hóa vô song nối liền nội tâm và ngoại cảnh, biến chuyển tâm thành sắc, sắc thành tâm, bắc cầu giữa Chân đế và Tục đế.96
Bất Không (Amagha) là Sự,96 là thế giới của thành tựu, của pháp thuật (Siddhi), của cứu độ, thực hiện Bồ Tát hạnh. Ngài Bất Không là bí mật nhất trong năm vị Như Lai. Ngay cả phương tiện Ngài cỡi cũng khác thường. Người chim hay “mệnh mệnh điểu” (Garuda), tượng trưng cho biến hóa và Phong đại.


Bất Không Thành Tựu Như Lai
(Amoghasiddhi–AH) - Tượng thời nhà Minh, thế kỷ 14-17


Uẩn liên hệ với Ngài là Hành, có nghĩa là ý chí, hay sức mạnh tinh thần, phần sống động nhất của tâm hồn chuyển biến thành Thành Sở Tác Trí. Thành Sở Tác Trí nghĩa là trí tuệ biến thành tác dụng, chuyển nghiệp thành duyên, chuyển ý niệm lý tưởng thành sống động sáng tác, chuyển thiên thu thành chốc lát, chuyển khổ hạnh thành giải thoát. Thành Sở Tác Trí lại chuyển những ý niệm khô khan về Lục đại thành những nguyên lý năng động. Địa là tiềm năng (Einstein), Thủy là điện năng, Hỏa là quang năng, Phong là động năng, Không là thời năng (Kuzyref), Thức là tâm năng (Carljung). Thành Sở Tác Trí là hành động của pháp thuật nhiệm mầu của trí tuệ và giải thoát.
Ngài Bất Không trong thế giới của Sự, ngoài bi và trí sẵn có, còn có thêm dũng để kiện toàn sứ mệnh. Chữ dũng của Ngài là khởi nguyên của lòng tin tưởng sắt đá rằng “Vạn Pháp Duy Tâm Tạo98” biểu tượng bằng “Vô Úy Ấn” (ABHAYA MUDRA) và bằng ứng thân của Ngài là Đức Di Lặc (MAITREYA) hay Ngài Thích Ca của tương lai. Tinh thần Vô Úy của Phật Giáo có nghĩa là sẵn sàng nhẫn nhục chấp nhận mọi đau khổ của thế gian để có thể giải thoát chúng sanh bằng cách tự giải thoát. Đó là một hành động huyền bí của Mật Tông: Nhảy vào cứu người ta mà lại cứu chính mình vì Đại Nguyện.
Trong MANDALA, Ngài Bất Không là vị Như Lai ở phương Bắc của gió lạnh, với mặt trời nửa đêm, của thế giới tâm linh huyền bí, hào quang của Ngài màu lục, kết tinh của màu xanh pháp tánh, vũ trụ của Ngài Đại Nhựt và màu vàng tình thương muôn loài của Ngài Bảo Sanh.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
II. CÁC KINH KHÁC TUYÊN THUYẾT VỀ THẦN CHÚ THUỘC PHẦN MẬT GIÁO:

Ngoài hai bộ kinh căn bản Đại Nhựt và Kim Cang Đảnh, nhiều bộ kinh khác được phiên dịch từ Phạn ra Hán văn do nhiều vị Tam Tạng Pháp Sư99 đưa ra hoằng hóa, đã được tập thành trong phần Mật Bộ của Bộ Đại Tạng Kinh do công đức của các nhà vua Trung Hoa đã tín ngưỡng và sắc chỉ100 cho các vị Pháp Sư dịch thuật và truyền bá trong nước. Bộ Đại Tạng Kinh được lưu truyền cho đến ngày nay và dĩ nhiên bao gồm Mật Tạng trong đó.

Việc trình bày giáo thuyết căn bản của các bộ kinh Mật Giáo thuộc phần Mật Bộ không mấy khó khăn mặc dù có đến hàng mấy trăm bản kinh thuyết về các Đarani101 khác nhau vì các lý do sau đây:

1) Các kinh điển của Mật Giáo đặt nặng về phần thực nghiệm tâm linh hơn là để trình bày các triết thuyết.

2) Mặc dầu có các chi tiết hoàn toàn khác biệt, các bộ kinh đều được trình bày căn cứ vào các điểm tựa chung, đó là: chỗ pháp hội, đại chúng tham dự pháp hội, cơ duyên tuyên thuyết thần chú, pháp kiến lập đạo tràng, pháp họa tượng, pháp Hộ ma, pháp niệm tụng công đức thành tựu của Mật chú, chư Tôn hộ trì thần chú, chúc lụy.102

3) Các đạo Chơn Ngôn tuy nhiều, nhưng nếu hành trì nhất đạo Chơn Ngôn được thành tựu, thời tất cả công năng của các thần chú khác cũng đều được thành tựu.

4) Trong Mật Bộ Đại Tạng Kinh, thần chú được thuyết không ra ngoài hai mươi lăm bộ. Có thể kể như sau:

- Phật Bộ: là chú của Chư Phật giới thiệu.
- Liên Hoa Bộ: là chú của Bồ Tát Quan Thế Âm và Liên Hoa Bộ Thánh Chúng giới thiệu.
- Kim Cang Bộ: là chú của Kim Cang Thủ Bồ Tát và Kim Cang Bộ Thánh Chúng giới thiệu.
- Bảo Bộ: là chú của Phật do Chư Thiên giới thiệu.
- Yết Ma Bộ: là chú của Phật do Quỷ Thần giới thiệu.

Năm bộ này mỗi bộ gồm có năm bộ nhỏ, nên toàn bộ có tất cả là hai mươi lăm bộ thần chú.

Nay công đức của hai mươi lăm bộ thần chú này, rộng lớn thì vô lượng nhưng có thể tóm lược trong mười môn103 sau đây:

1. Hộ trì quốc vương, an lạc nhân dân môn.
2. Năng diệt tội chướng, viễn ly104 Quỷ Thần môn.
3. Trừ thân tâm bịnh, tăng trưởng phước huệ môn.
4. Phàm sở cầu sự, giai Bất Tư Nghì105 môn.
5. Lợi lạc hữu tình, cứu thoát u linh106 môn.
6. Là chư Phật Mẫu giáo hạnh107 bổn nguyện môn.
7. Tứ Chúng108 dị tu109 Kim Cang Thủ Hộ110 môn.
8. Linh, Phàm đồng Phật Như Lai, Quy mạng111 môn.
9. Cụ112 tự tha lực hiện thành113 Bồ Đề môn.
10. Chư Phật Như Lai thượng nãi cầu học114 môn.

THỨ NHỨT: HỘ TRÌ QUỐC VƯƠNG AN LẠC NHÂN DÂN:
- Bí Mật tạng Đarani kinh nói: “Đarani năng hộ trì quốc vương an lành nhân dân.”

- Bảo Tịnh Đarani kinh nói: “Trong tất cả quốc độ, nơi nào có Đarani lưu hành, thì thường khiến nhơn vương được ủng hộ, thế lực tự tại;114 cũng hay ủng hộ sự chánh hòa của quốc vương, những kẻ như vương tử, hậu phi, tể tướng, phụ thần, các quan tướng thảy đều được ủng hộ, khiến được an vui. Trong nước nếu có nội ngoại oán địch, mưu kế, gian trá, tật dịch cơ cẩn,116 nắng hạn, lụt lội, ác thú độc long, tất cả việc bất tường như vậy thảy đều đoạn dứt, lại khiến tiền tài, lúa thóc phong nhiêu,117 kho lẫm đầy rẫy, hoa trái sung thạnh, nhân dân an vui.”

- Bảo Tạng Đarani Kinh nói: "Đarani lưu hành chỗ nào, hay ủng hộ các quốc vương, vương tử, phi hậu, công chúa, trăm quan, phu, tướng, khiến cho các tai nạn tiêu diệt, sở nguyện viên thành.118 Thiên Thần gia hộ, không khiến ma quỷ đến nhiễu não119 và trong nước được mười thứ quả tốt:

1. Trong nước không có tha binh, oán tặc xâm nhiễm.
2. Trong nước không có tinh tú biến quái120 mà khởi lên tai nạn.
3. Trong nước không có ác quỷ thần hành các tật dịch.
4. Trong nước không có gió lửa, sương muối, mưa đá, các nạn.
5. Trong nước không có kẻ oan gia rình tìm được.
6. Trong nước không bị các ma bức bách.
7. Trong nước không có các hoạnh tử.121
8. Trong nước năm món thóc lúa đầy đủ, trái ngon quả ngọt v.v…
9. Trong nước thiên long, mưa gió thuận thời, không có nắng hạn bão lụt.
10. Trong nước người không bị các thú dữ như: cọp, beo, sói, các ác thú làm tổn hại."

- Thất Phật Kinh Chú nói: “Đarani, nếu nhựt nguyệt đi không đều, có thể khiến cho đi ngay lại, lúa gạo mất mùa, năng khiến được mùa, đại thần mưu phản, ác tâm tự diệt, tật dịch đao binh, thảy đều tiêu tán. Các vị nhơn vương muốn hiện đời được an vui, lìa các hoạn nạn, nên cẩn tâm đọc tụng Đarani và nên khuyên hậu phi, thể nữ và các vương tử cùng tụng niệm.”

- Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đarani nói: “Vì sao lại nói hộ nơi quốc vương một cách thiên vị? Thật ra quốc chủ an vui thì vạn dân mới an vui, vì vậy nên nói hộ nơi quốc chủ”.

- Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Kinh nói: “Đarani năng trừ tất cả tai họa, tật dịch, đói kém, giặc cướp, binh đao, nắng hạn không đều, tinh tú thất độ. Cũng hay tăng trưởng phước đức, cõi nước giàu mạnh, nhơn dân an vui. Quốc vương, nam nữ đều được trường thọ.”

- Kinh Tô-bà-ha Đồng Tử nói: “Ly ngoài Chơn Ngôn không có pháp riêng nào năng ban vui cho chúng sanh được.’’

THỨ HAI: NĂNG DIỆT TỘI CHƯỚNG, VIỄN LY QUỶ THẦN MÔN.
- Kinh Bồ Đề Trường Trang Nghiêm, Kinh Tối Thắng122 Tổng Trì,123 Kinh Lầu Các Đarani v.v… Hơn hai mươi bản kinh đều nói: Viết chép Đarani để trong tượng Phật, Tháp, trong Bảo Xử,124 hoặc viết trên tràng phan, trên cây, viết trên vải, lụa, giấy, tre, hoặc trên vỏ cây hoa, vách tường, bản mộc; khiến chúng sanh được xem thấy; hoặc thân tay rờ đến; hoặc đi qua dưới bóng; hoặc những bụi trần trên chữ chân ngôn mà gió thổi nơi thân; hoặc chép viết, đeo mang tại đảnh, trên thân trong áo; hoặc viết trên tràng phan, nếu gió thổi trên phan rơi vào chỗ chúng sanh; hoặc chép lên chuông, trống, linh,125 mõ, loa, bạt126 v.v.., mà các tiếng ấy phát ra nghe được tiếng ấy. Tất cả những điều vừa nói trên đều khiến cho chúng sanh, dầu bị tội ngũ vô gián127 là nghiệp mà chư Phật cho rằng không sám hối được, cũng thảy đều sẽ diệt tan, các đời sau sanh về các nước Phật, huống chi thân tụng trì đó ư?


Hộ Pháp


- Lại Mạt Pháp Trung Nhựt Tự Chú Kinh và hết thảy Đarani kinh đều có nói: "Người trì tụng nói bốn phương hướng, trong vòng năm trăm dặm, các ác tinh diệu, quỷ thần, thiên ma v.v… hết thảy chạy tản lạc mà đi. Vị nào có phát thiện tâm thủ hộ thì không đi. Nếu có kẻ nào có ý làm chướng ngại mà ở lại phá, liền bị chư Hộ Pháp đập bể đầu ra trăm miếng; thân tâm dập nát. Nhờ thế nên hành giả không bị các ma chướng mà được đến Bồ Đề."

- Mật Bộ các kinh đều nói: Đarani năng lìa ma chướng, nơi đây chớ nên luận bàn. Như Hiển Giáo, trong kinh Pháp Hoa sợ có kẻ giảng tụng, tu tập kinh Pháp Hoa có bị các ma chướng nên nói phẩm Đarani khiến trừ ác ma. Kinh kia nói: “Nếu chẳng thuận Chú ta, não loạn người thuyết pháp, đầu bị phá bảy phần, như nhánh cây A-lê.’’128

- Thích Ma Ha Diễn Luận: Dạy người tọa thiền cần phải tụng chú để trừ ma.

- Chỉ Quán Kinh cũng có nói: “Nếu các ma chướng làm não loạn sự tọa thiền, hành giả nên tụng Đại Thừa Phương Đẳng và các chú trị ma nói trong Kinh Giáo. Nếu khi xuất thiền cũng nên tụng chú.”

- Kinh Kim Quang Minh: “Hàng Thập Địa Bồ Tát còn lấy thần chú để hộ trì, huống gì phàm phu ư?”

- Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói: “Nếu không trì chú mà ngồi Đạo tràng khiến thân tâm xa lìa các ma sự, lẽ đó không bao giờ đúng.” Cũng như “đời mạt thế chúng sanh, muốn tu tam muội sợ đồng tà ma, nên phải khuyến khích trì thần chú của Ta (Phật). Nếu chưa năng tụng, chép nơi thiền đường hay đeo trên mình thì tất cả các ma chướng không dám đụng đến."

Các văn như vậy Tạng Giáo rất nhiều, hiện thấy người đời bị quỷ thần não hại,129 kẻ trì chú còn trừ cho họ được, huống chi tự thân mình lẽ nào ma quỷ dám làm hại ư!

THỨ BA: TRỪ BỊNH THÂN TÂM, TĂNG TRƯỞNG PHƯỚC HUỆ
- Kinh Thánh Lục Tự Đarani, Kinh Văn Thù Nhất Tự Chú v.v… Hơn mười lăm bổn kinh, đều nói môn hạnh Đarani năng trừ được các món thân tâm bịnh khổ. Nói thân tâm bịnh ấy là tất cả các thứ bịnh. Hoặc tứ đại130 làm các thứ bịnh; hoặc ngũ tạng làm các thứ bịnh; hoặc quỷ thần làm ra bịnh; hoặc những bịnh do túc nghiệp131 gây ra. Những bịnh như vậy, lấy thần chú bất tư nghì lực có thể trừ lành.

- Kinh Trì Cú Thần Chú, Kinh Đại Bi Tâm Đà-ra-ni năng khiến cây khô trở lại sanh hoa trái, huống chi là các bịnh hữu tình mà không trừ được sao!!!

- Kinh Diệu Tý Đồng Tử, Kinh Tô Tất Địa v.v… đều nói: “Nếu cầu thượng phẩm đại thành tựu, không được dùng Chơn Ngôn để sai khiến quỷ thần, bắt quỷ thần phải kìm hãm các trùng rắn để giúp trị lành bịnh cho người khác. Làm việc đó thì khó thành tựu việc lớn. Kẻ tu học nên y lời Phật, coi chừng dè dặt. Nhưng nếu thật lòng đại bi sâu rộng, ôm lòng Bồ Tát thì không ngăn cản việc đó.”

- Kinh Bạch Tán Cái132 Đarani nói: “Nếu có túc tập133 tham tâm không được trừ diệt, thì phải một lòng tụng thần chú của ta. Như cô Ma-đăng-già đã cùng ông A-nan nhiều kiếp ân ái, đem chú lực của Ta, làm cho ái tâm vĩnh đoạn,134 trở thành A-la-hán;135 còn như cô dâm nữ kia chẳng có tâm tu hành, khi thần chú thấm vào cũng mau chứng bậc vô học,136 huống gì bản tâm cầu đạo Bồ Đề đấy ư!”

- Kinh Bất Không Quyến Sách:137 "Trừ quỷ thần bịnh (bịnh tà) phải tu ba nghiệp thanh tịnh, đủ từ bi tâm; chư vị Bồ Tát mới hay làm việc đó."

- Kinh Đại Bi Tâm Đà-ra-ni nói: “Chí tâm xưng niệm Đarani, lửa dâm dục tắt, tà tâm loại trừ.”

- Như Ý Luân Kinh và nhiều bản kinh Đarani nói: "Chơn Ngôn hành giả hiện năng tăng trưởng tất cả phước huệ, phàm lời đã nói ra, người đều tin thọ, chỗ dụng y vật, tài bảo, tất cả cử ý tùng tâm,138 năng khiến trong vòng năm trăm do tuần139 người, trời, quỷ, thần đều đến quy ngưỡng. Lại tự nhiên thông hiểu hết cả Kinh, Luật, Luận và các sách vở của thế gian. Hoặc nhớ tất cả không quên điều gì; mỗi ngày nhớ đến hàng ngàn bài tụng."

- Kinh Đại Nhựt Đảnh Như Lai Phóng Quang Tất Đát Đa Bát Đát Ra Đại Thần Lực Đô Nhiếp nhất Thiết Chú Vương Kinh Đại Oai Đức Tối Thắng Kim Luân Tam Muội Chú nói: "Nếu đọc tụng, hoặc tụng Ðarani ấy, dù các chúng sanh này, tự thân của mình không làm các phước nghiệp, mười phương Như Lai đã có công đức tất phải ban cho người này.” Lại nói: “Nếu trì thần chú, không sanh nghi hối,140 mà kẻ thiện nam đó, do các bậc cha mẹ sanh ra mà tâm không được thông thì mười phương chư Phật đều nói dối."
Lại nói rằng: “Chưa tinh tấn khiến được tinh tấn, vô trí tuệ sẽ được trí tuệ v.v… Như chất thuốc dược nhĩ ở thế gian còn hay khiến người trừ bỏ ngủ nghỉ, tăng trưởng tinh thần, huống nữa thần chú lại không sanh trí tuệ ư!”

- Kinh Bất Không Quyến Sách Thần Chú Tâm Kinh nói: “Nếu có tứ chúng thọ trì trai giới,142 chuyên tâm trì tụng thần chú bảy biến, chẳng xen tạp ngữ khác, phải biết người này hiện đời chắc chắn giữ được hai mươi món lợi thù thắng. Hai mươi lợi đó là:

1) Thân không bị bịnh tật, được an ổn khoái lạc.
2) Do nghiệp lực đời trước, tuy có sanh bịnh nhưng trị mau lành.
3) Thân thể mềm mại, da thịt sạch sẽ, trắng đẹp; mặt mày sáng sủa.
4) Được mọi người thương kính.
5) Mật hộ các căn (tai, mắt…)
6) Được nhiều tiền của quý báu, tùy ý thọ dụng.
7) Đã có tài bảo, vương, giặc, nước, lửa không thể xâm tổn.
8) Sự nghiệp làm ra đều thành tựu tốt.
9) Đã có các món trồng tỉa, không sợ ác long, sương muối, bão lụt làm tiêu hủy.
10) Nếu có lúa thóc tai họa xâm phạm, nên tụng thần chú gia trì nơi tro, hoặc nước trải qua bảy biến, rồi đem rưới vào ruộng khắp tám phương; trên, dưới để làm kiết giới,143 bấy giờ các tai hoạnh đều được diệt trừ.
11) Không bị sự bạo ác của quỷ thần, la-sát đến hớp đoạt tinh khí.
12) Tất cả hữu tình nghe, thấy, hoan hỷ, an lạc thường tôn trọng, không nhàm chán.
13) Không hề sợ sệt tất cả các oán cừu.
14) Dù có oán cừu cũng mau tiêu diệt.
15) Người và các kẻ phi nhân không thể xâm hại.
16) Yếm mị, trù rủa, thuốc độc, yếm chú chẳng dính vào thân.
17) Phiền não, triền cấu144 không thể hiện hành.
18) Dao, độc, nước, lửa không thể làm phương hại.
19) Chư Thiên, Thiện Thần thường theo hộ vệ.
20) Đời đời không xa lìa Từ, Bi, Hỷ, Xả.

- Kinh Thập Nhất Diện Quan Thế Âm Thần Chú có nói: “Nếu có các tịnh tín,145 thiện nam, tín nữ thường trì tụng thần chú, hiện thân sẽ thu được mười món thắng lợi; mười món đó là:

1) Thân thường vô bịnh.
2) Thường được mười phương chư Phật nhiếp thọ.146
3) Tài bảo, y thực thọ dụng vô tận.
4) Năng hàng phục kẻ oán địch mà không lo sợ.
5) Khiến các bậc tôn quý cung kính vâng lời.
6) Cổ độc,147 quỷ mị, không thể làm trúng thương.
7) Tất cả dao, gậy không thể làm thương tổn.
8) Nước không thể nhận chìm.
9) Lửa không đốt được.
10) Lâm chung không bị hoạnh tử.148


Thập Nhất Diện Quan Thế Âm


THỨ TƯ: PHÀM CÓ SỞ CẦU, GIAI BẤT TƯ NGHÌ.
- Kinh Quán Tự Tại Nghi Quỹ, Kinh Văn Thù Sư Lợi Nghi Quỹ, Kinh nhất Tự Đảnh Luân và hơn mười bổn kinh khác đều nói: Chơn Ngôn hành giả khi cầu thành tựu thì dùng bốn thứ vật:
1) Cung, tên, rựa, búa, câu, luân, xử, cảnh, sổ châu,149 bình bát, cà sa; tất cả các vật dụng của chư tăng.
2) Hùng hoàng, thư hoàng150 cũng như các món thuốc khác.
3) Lấy đất trên bờ sông hòa với bùn dẻo rồi nắn thành hình sư tử, voi, ngựa, trâu… tức là loài đi, chạy, hoặc gà, ngỗng, chim, công, sí, điểu… là loài bay hoặc các hình thú khác.
4) Đắp, vẽ hay điêu khắc các hình tượng Phật, Bồ Tát, Minh Vương. Tùy lòng ưa muốn phân biệt ra làm một việc.
Y như pháp trên, xong rồi đem để trong Đàn, như pháp tụng chú, khi thấy được ánh lửa xẹt ra, hoặc tay cầm, hoặc xoa thân, hoặc cỡi lên cùng trợ bạn trí thức bay lên hư không. Hoặc có người thấy; tất cả đều được bay lên hư không, dạo chơi khắp thế giới, cúng dường chư Phật, Bồ Tát; đều thọ mạng một kiếp, chứng được Sơ Địa.151
Nếu thấy khói xẹt ra, hoặc tay cầm hoặc xoa thân, sẽ được làm vua ở cõi tiên, trụ thọ muôn muôn tuổi. Nếu hơi khí nóng phát ra, được tất cả Nhơn, Thiên kính ái, sở cầu như ý.
Dưới đây là tướng thành tựu của ba phẩm thượng, trung, hạ:
- Nếu hỏa quang hiện ra, được tất cả chư Thần thường đến ủng hộ, các chúng Bát bộ thường cung kính. Dùng tất cả thần chú đều được tối thắng, linh nghiệm.
- Nếu tướng khói hiện ra, tùy chỗ đi, ở đều không chướng nạn, sở cầu toại tâm.
- Nếu khí nóng hiện ra, được tất cả người và quỷ thần đồng tâm kính ái.

Ở Thiên Trúc có một người được thành tựu Thượng phẩm, dẫn năm trăm người bay lên hư không. Như tại đây (Trung Hoa) có ông Hoài Nam Vương luyện chú nấu thuốc, gà, chó, đến liếm trong vạc đều bay lên hư không. Cho nên mọi người nói rằng: Hoài Nam thành đạo, chó sủa trong mây; Vương Kiều đắc tiên, kiếm bay lên trời. Dược lực còn như vậy, huống chi thần chú của Phật không thể nghĩ bàn ư!

- Thần Biến Sớ nói: “Người, tay cầm Tiên Phương152 chưa từng hòa hiệp dùng uống, lại hủy báng rằng: ban ngày bay lên hư không, cho là hư dối; toàn là chuyện không tưởng.”

- Đại Giáo Vương Kinh Đarani nói: “Hoặc khiến người tìm Long nữ làm vợ, hàng Dược-xoa làm tôi tớ, cầm quyền tác vào Tu-la cung; chú vào tử thi khiến khai mở những của báu dưới đất; hoặc nói thành nơi thánh dược; hoặc nói tìm đến các tài bảo v.v…

Trong Hiển giáo việc này ít nghe, cho nên Tiên đức153 nói: “Ngoài Tam thừa154 ra, riêng có pháp Trì Minh155 vậy.”

*Hỏi: Bổn ý của chư Phật là khiến đoạn tham, sân, si; cớ sao khiến người khơi lòng tham cầu thế sự vậy?

*Đáp: Chư Phật có phương tiện độ sanh không thể nghĩ bàn. Nghĩa là có những chúng sanh không chịu cầu thẳng tới đạo Bồ Đề và lại tùy lòng ưa muốn khiến trì chú mà cầu. Do sức thần chú không thể nghĩ bàn, việc mong cầu được toại lòng, tất cả tội nghiệp được tiêu diệt, tự nhiên siêu phàm nhập thánh. Như đứa trẻ con có bịnh không chịu uống thuốc, thầy thuốc có đủ trí, thoa thuốc nơi vú mẹ trẻ nít kia nút vào, không ngờ đã uống được thuốc hay, trừ được bịnh khổ.

- Kinh Quyến Tác Tâm Chú có nói: “Nếu có chúng sanh dù đem dua mị156 để cầu phú quý, danh lợi; nếu được nghe chú này, các chúng sanh đó đời đời kiếp kiếp thành tựu được phước tụ trí tuệ.”

- Thần Biến Sớ nói: “Cảnh giới Chơn Ngôn, hàng Thập địa Bồ Tát157 còn cho rằng chẳng phải cảnh giới của các Ngài; huống là những người trong cõi tử ư!”

THỨ NĂM: LỢI LẠC HỮU TÌNH CỨU THOÁT U LINH.
- Đại Bảo Quảng Bác Lầu Các Kinh, Đại Bi Tâm Kinh, Mậu Lê Chú Kinh v.v… hơn mười lăm bổn kinh đều nói: “Nếu có chúng sanh được thấy thân người trì chú, hoặc nghe âm thanh lời nói, hoặc đi qua trong bóng của họ, thì được tận diệt được tội thập ác, ngũ nghịch, đời sau được sanh vào các tịnh độ của Phật. Lại người trì chú, chỗ mặt họ thấy, chỗ thân họ chạm xúc, hết thảy loài hữu tình cũng diệt tất cả tội, đời sau sanh các nước Phật. Như người trì chú, khi đi đường có gió thổi, hơi gió này chạm vào hành giả rồi cuốn đi; hoặc thân tắm rửa trong sông, nước trôi cuốn đi những kỳ cọ; hoặc khi trời mưa, ngửng mặt lên không trung tụng chú, những hạt nước mưa trên không cũng thấm nhuần linh lực; hoặc trên đỉnh núi tụng chú, chỗ nào tầm mắt phóng tới. Tất cả sự kiện trên đều ảnh hưởng đến các chúng sanh, khiến mọi tội lỗi đều tiêu diệt, đời sau được sanh về cõi tịnh độ của chư Phật, hóa sanh trong hoa sen. Như thế gian chỗ có thuốc độc, đi qua dưới gió, khi gió chạm vào liền bị tổn thương còn có công lực khó lường; huống nữa thần chú không thể nghĩ bàn ư!

- Kinh Quyến Tác nói: “Nếu nghe Đarani mà sanh hủy báng, cũng vẫn được lợi ích. Như người có ác tâm đi vào trong rừng long não chiên đàn,158 rồi chặt bẻ, dậm, đạp; làm cho gãy ngã tất cả, chính thân kẻ phá hoại đó cũng dính được cái hương khí thơm tho kia. Cho nên trong Phật Đảnh Tụng có nói: “Thần thông thắng hóa159 khó nghĩ bàn, Đarani môn thật là đệ nhất.”


Thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà


- Kinh Vô Cấu Tịnh Quang, Kinh Bất Không Quyến Tác, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng, Kinh Tùy Cầu v.v… nói: “Nếu vong nhơn tạo nhiều ác nghiệp khi chết bị đọa tam đồ;160 Chơn Ngôn hành giả liền xưng tên, tuổi, tộc họ của vong linh rồi chuyên tâm chú tụng, lúc bấy giờ vong ấy sẽ lìa khỏi được ác thú và sanh nơi thiên thượng. Hoặc lấy Chơn Ngôn chú vào nơi đất cát, hoặc hoa sen rải trên mộ, trên thi hài của vong nhơn, liền được sanh về cõi tịnh độ của Phật. Ngoài ra, các y vật, thân phần cốt nhục của vong nhơn mà được bóng người trì chú chói vào, cũng sanh về những nước Phật. Lại chép Đarani rồi đặt trên hài cốt của vong nhơn, vong đó liền sanh nơi Thiên cung. Cho nên bậc Tiên đức có nói: “Bụi rơi bóng chói; thần dạo Thiên cung; rải đất, rưới nước; thức lìa ác thú.”161

*Hỏi: Vong nhơn tạo nghiệp đã thành, bị đọa trong tam đồ vì sao Chơn Ngôn hành giả hoặc xưng tên, họ vong nhơn; hoặc chú nguyện vào cát, đất để trên mộ, trên thi hài mà lại giúp cho vong nhơn đó chuyển khỏi đường ác khổ, còn được vui sướng ở nước Phật ư! Chẳng những kẻ tục sĩ ôm lòng hoài nghi, mà chính các vị xuất gia cũng khó tin.

*Đáp: Kẻ trí lấy thí dụ mà được hiểu: “Như cấm chú của người đời; cấm lửa không cháy, cấm dao không đứt, cấm rắn không mổ. Còn hay khiến hữu độc thành ra hết độc; huống chi là thần chú của Đức Như Lai, không thể đổi khổ được vui đó ư!

Ngài Trang Tử nói: “Ngoài lục hiệp,162 thánh nhơn xét đến nhưng không luận bàn.”

- Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Lượng trí công đức đầy đủ của Thập Địa Bồ Tát, thì Cửu Địa Bồ Tát không hay biết, huống nữa Đức Như Lai là vua trong các Thánh; chỗ có bí mật tâm ấn, đâu có thể lấy vọng tánh của phàm phu mà muốn so lường đó ư! Kìa như con cá nằm đáy giếng làm sao biết sự sâu rộng ở biển Đông, chỉ nên tin chắc đó.”

- Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng Thần Chú có nói: “Nếu có người trì chú, phàm ra làm việc gì cũng được thành tựu, chỉ cần phải thâm tín,163 không được sanh nghi,” “Người trì chú còn có công năng lợi lạc hữu tình, cứu thoát u linh.”

- Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đarani nói: Người trì chú sẽ không bị mười lăm món ác tử:
1) Không khiến người kia chết vì đói khát, khốn khổ.
2) Không bị chết vì cột trói, đánh đập.
3) Không bị oan gia, cừu địch mà hại chết.
4) Không bị quân trận giết nhau mà chết.
5) Không bị chết vì cọp beo làm hại.
6) Không bị vì rắn rít độc làm hại.
7) Không bị chết vì nước trôi, lửa cháy.
8) Không bị chết vì trúng độc dược.
9) Không bị trúng độc hại chết.
10) Không bị cuồng loạn, thất niệm164 mà chết.
11) Không bị chết vì núi, cây, bờ gộp sập đè.
12) Không bị ác yếm mị mà chết.
13) Không chết vì tà thần, ác quỷ rình hại.
14) Không bị ác bịnh triền165 mà chết.
15) Không bị phi phản tự hại166 mà chết.

- Kinh Bất Không Quyến Tác Thần Chú Tâm nói: “Người tụng chú lúc lâm chung được tám món lợi thù thắng:
1) Khi mạng lâm chung, thấy Quán Tự Tại Bồ Tát hiện ra tướng tỳ kheo đến trước mặt an ủi.
2) Mạng chung được an ổn, không bị các sự thống khổ.
3) Lúc sắp bỏ mạng, mắt không trợn lên, miệng không hả méo, tay buông thong thả, chân duỗi ngay ngắn, không tiết ra phân dơ, nước tiểu, không bị trụt, rớt xuống đất.
4) Lúc sắp bỏ mạng, an trụ nhờ chánh niệm, ý không loạn tưởng.
5) Lúc chết không úp mặt.
6) Khi sắp chết được vô tận biện.167
7) Khi đã xả mạng rồi, tùy nguyện sanh về cõi tịnh độ của chư Phật.
8) Thường cùng thiện hữu168 không xa rời nhau.”

- Kinh Thập nhất Diện Quan Thế Âm Chú nói: “Người tụng chú được bốn món công đức:
1) Khi lâm chung được thấy chư Phật.
2) Mạng chung không bị đọa vào chốn ác thú.
3) Không bị hiểm nạn, tai ách mà chết.
4) Được sanh vào cõi Cực lạc thế giới.”

THỨ SÁU: CHƯ PHẬT MẪU GIÁO HẠNH BỔN NGUYỆN
Tất cả Chư Phật đều từ Đarani sanh ra.
- Kinh Lầu Các nói: “Chơn Ngôn là mẹ của Chư Phật, thành chủng tử Phật, nếu không Chơn Ngôn thì không thành chánh giác. Tất cả tam tạng kinh điển đều do Đarani xuất ra.”

Kinh Tối Thượng Đại Bảo Thừa Vương nói: "Có 4 thừa:
1) Thanh Văn Thừa,
2) Duyên Giác Thừa,
3) Phương Quảng Đại Thừa,
4) Tối Thượng Kim Cang Thừa, đó là Đarani tạng vậy."

Thần Biến Sớ nói: “Vô Tướng Pháp Giới toàn là Chơn Ngôn, Chơn Ngôn toàn là Vô Tướng Pháp Giới, vả lại Chơn Ngôn cũng gọi là Tam tạng, nghĩa là trong Chơn Ngôn mỗi mỗi một chữ đều gồm đủ cả: Giới, Định, Huệ, dù muôn hạnh, không ra ngoài Lục độ,169 không ly Tam học.170 Đã nói Chơn Ngôn bao gồm Tam tạng, tức biết Chơn Ngôn bao gồm muôn hạnh. Chơn Ngôn là tổng hạnh,171 các pháp môn khác đều là chi lưu172 các hạnh môn.”

- Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: "Chữ ÁN (ÚM) tức là Vô Tướng Pháp giới mà ra."

- Thần Biến Sao nói: “Ngàn dòng, muôn phái khởi từ núi Tích Thạch, Côn Lôn; mười hai phần Kinh phát xuất từ tạng Tổng Trì bí mật, lại muôn hạnh cũng do Đarani mà ra. Nghĩa là trong Chơn Ngôn, mỗi mỗi một chữ toàn là Vô Tướng Pháp Giới,173 muôn hạnh đều từ pháp giới mà ra.”

* Hỏi: Trên dẫn kinh nói rằng: Đarani là Thiền Định Tạng, trăm ngàn tam muội thường hiện tiền. Nay lại nói: Chơn Ngôn tổng hàm tam tạng, tức biết Chơn Ngôn tổng chứa tất cả môn thiền định. Cớ gì thiền giả ngày nay không cho trì chú?

* Đáp: Trong các truyện ký Thiên Trúc và Trung Hoa, xưa nay các Thiền Đức174 đều vâng làm các điều thiện, huống gì thần chú là Vô tướng định môn,175 tâm ấn của Phật ư! Trong Bạch Tán Cái Đarani có bài tụng rằng: “Khai vô tướng môn viên tịch176 tông, tự tự quán chiếu177 Kim Cang Định”178 hoặc “Du-già diệu chỉ179 truyền tâm ấn, Ma-ha-diễn180 hành tổng trì môn.”
Hoặc như Long Thọ Bồ Tát, trong Truyền Đăng Lục, ở Tây Thiên thiền tông là tổ thứ 14, còn chép lược ra kinh tạng trì minh181 để hoằng dương thần chú Chuẩn Đề.
Ngài Nhất Hạnh Thiền Sư là thánh nhơn ở xứ Trung Hoa còn tán thuật Thần Biến Chơn Ngôn.182
Ngài Trí Giả Thiền Sư chứng Túc mạng thông183 cùng rộng bày nghi quỹ trì chú.184
Khế Phù Thiền Sư, có người hỏi Tối Thượng Thừa, ngài liền dạy tụng Mật Ngôn.
Vậy xưa các thiền sư đâu không cho trì chú ư!

Lại như Thiền Tôn đã nói: Tất cả các pháp đều là Chân Như. Trì tụng Chơn Ngôn, đâu không phải là Chân Như? Nay có thiền sư hoặc giảng sư thấy hoằng truyền mật chú, sợ mất lợi của mình, tâm sanh tật đố. Vậy xin quý vị hiện tại cũng như vị lai đề phòng ác báo.
Bên trên tuy có nói: Hủy báng vẫn được lợi ích, nhưng sự lợi đó mong manh lắm; và hủy báng thường bị phạt vì Mật Chú là tâm ấn của Chư Phật, có vô lượng Minh Vương, Chư Thiên, Long Thần thảy đến hộ trì; nên khiến người hủy báng hiện đời đa phần bị trừng phạt. Xin mong kẻ trí phải cần dè dặt vậy.

THỨ BẢY: TỨ CHÚNG DỊ TU KIM CANG THỦ HỘ
Tất cả tứ chúng chỉ cần hiểu lời nói; đi, đứng, ngồi, nằm, trong bốn oai nghi, được dễ dàng tụng đọc. Lại chỉ miệng niệm được coi là chơn hạnh, năng trừ phiền não, an lạc pháp thân, không cần thông suốt giáo điển, như người bịnh được uống thuốc, uống vào liền trừ bịnh, thân an, không cần phải hiểu rộng sách thuốc.


Chư Thiên


- Kinh Bát Nhã Sớ nói: “Tổng Trì (thần chú) cũng như diệu dược, cũng như thiên cam lồ, năng trị lành các bịnh, uống thứ đó thường an vui.”

- Phật Đảnh Đarani Sớ nói: “Trai giới không thọ bẩm mà được đầy đủ, quả chứng tuy xa mà có thể được; tiêu hết nạn, đạt tới lợi ích; tự tu hành lại hóa độ cho người khác, bởi nhơn của người, bởi quả của người, không có việc gì mà không đạt được.”

- Mạn Trà La Sớ nói: “Ai niệm thần chú của Đức Như Lai, tâm tâm ám hợp tâm của Như Lai, đọc mật ngôn của Bồ Tát, sanh tử nào không lánh xa, Niết Bàn nào mà không chứng đắc. Nếu y các Tôn khác185 tu hành, cần yếu phải biết rộng giáo lý của Phật, tỏ ngộ được chân tâm, nhiên hậu186 tu hành, mới là chánh hạnh; nếu chưa ngộ mà tu, thì không phải chánh hạnh. Như người bịnh ở đời, cần yếu phải biết rộng sách thuốc, hiểu rõ dược tánh mới trị được bịnh, tức khó được trong muôn một vậy. Nên biết thần chú hạnh môn tóm lược công đức thâm sâu, khắp dẫn bảy chúng mau đến Bồ Đề, rất là yếu đạo.”

- Ngài Nghĩa Tịnh Tam Tạng có nói: “Lên trời cỡi rồng, sai xử trăm thần, phương pháp lợi sanh chỉ cần thần chú giúp đỡ.”

* Hỏi: Nếu y theo Hiển giáo sanh lòng tin, nương theo lòng tin phát sanh sự hiểu biết, nương sự hiểu biết phát khởi hạnh tu hành, tu hành thành chánh quả. Nay Mật Tông thần chú không cần sanh hiểu biết, chỉ cần trì tụng sẽ được đạo quả, hẳn đã vượt qua quy tắc thông thường, thật khó mà sanh lòng tin.

* Đáp: Như người bịnh trong thế gian không hiểu phương thuốc, gặp được thuốc thần diệu mà uống, liền được thân tâm an ổn. Nếu đã không hiểu dược tánh, vì sao trừ bịnh thân an? Thuốc đời còn như vậy, huống chi thần chú không thể nghĩ bàn của Đức Như Lai, cũng như giáo pháp của Như Lai khó thể lấy một lý mà suy cạn. Đã nói Hiển, Mật có khác; không thể lấy một mặt mà giải.

- Khởi Tín Sao nói: “Ép chặt trụ đàn mà lên dây, toàn là ngu, ôm cây đợi thỏ, chẳng phải kẻ trí; chỉ nên tin mà tu trì sẽ mau đắc đạo quả. Nếu chẳng có lòng tin, thì luống uổng công chẳng ích gì.”

- Kinh Đại Bi Tâm Đà-ra-ni nói: “Tụng trì thần chú thì tất cả mọi sự mong cầu đều được kết quả toại nguyện, chỉ trừ đối với thần chú mà sanh lòng nghi. Nếu có sanh nghi không tin, trong trăm vạn kiếp luống uổng công khó nhọc mà chẳng gần được Tam bảo.”

- Các kinh trong Mật Tạng thường nói: “Kẻ hành giả đối với Chơn Ngôn, trong bốn oai nghi, có vô lượng Thiên Long, Bát bộ chúng, Kim Cang Thiện Thần thường theo gia hộ.”

- Kinh Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni nói: “Tụng trì Đarani là Vô úy tạng, Long Thiên, Thiện Thần thường theo gia hộ. Nếu như pháp tụng chú, tức có tất cả Thiện Thần, Long Vương, Kim Cang Mật Tích thường theo hộ vệ không xa lìa hai bên người trì chú như giữ gìn đôi tròng con mắt, như hộ mạng mình…
Người trì chú, hoặc ở núi non đồng vắng, ngủ riêng một mình, các Thiện Thần sẽ thay nhau ngủ nghỉ để bảo vệ trừ sạch tai chướng. Nếu gặp giặc, trận đánh, trộm cướp, trốn lạc qua nước khác, Thiện Thần, Long Vương sẽ dẫn dắt về chỗ cũ. Nếu ở nơi núi rừng, đồng vắng, nước lửa thiếu thốn, Long Vương ủng hộ hóa ra nước lửa, cho nên có bài kệ: “Long Thiên Thánh chúng đồng từ hộ, trăm ngàn tam muội đốn huân tu.”187


Dạ Xoa Thiện Thần


- Kinh Đại Phật Đảnh Đarani nói: “Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, miệng vẫn tụng thần chú, thường được tám vạn bốn ngàn na-do-tha,188 hằng hà sa cu-chi189 Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát chủng tộc mỗi mỗi đều có các Kim Cang chúng làm quyến thuộc, ngày đêm thường theo hộ vệ người này. Dù có Ma Vương phương tiện rình tìm người kia, cũng không thể được. Các tiểu quỷ thần xa lánh kẻ thiện nhơn này ngoài mười do tuần. Nếu quyến thuộc của ma muốn rình tìm đến xâm nhiễm, nhiễu hại kẻ thiện nhơn, các chúng Kim Cang lấy chày đập nát đầu, nhỏ như hạt bụi; năng khiến người này việc làm như nguyện.” Cho nên có bài tụng: “Tám vạn bốn ngàn Kim Cang chúng; đi, đứng, nằm, ngồi đều theo hộ thân.”

Mật bộ các kinh đều rộng nói hộ trì cho người tụng chú. Muốn biết rõ thêm, xin xem trong Tạng giáo.

THỨ TÁM: KHIẾN PHÀM ĐỒNG PHẬT NHƯ LAI QUY MẠNG.
Người hành giả trì tụng thần chú Chơn Ngôn, khi khóa số đã mãn, thì ba nghiệp do thân, khẩu, ý, làm ra trong đời, dù là thiện nghiệp hay ác nghiệp, đều sẽ biến thành pháp môn vô lậu công đức.

- Bạch Tán Cái Tụng nói rằng: “Tụng xong một vạn tám ngàn biến, biến biến nhập nơi Vô tướng định; tên thành Kiên Cố Kim Cang Tràng Tự Tại,190 được gọi là Phật giữa loài người. Dù cho mắng chửi, chẳng lấy làm lỗi, chư Thiên vẫn nghe tiếng thành ra tiếng Phạn Âm.”191

- Kinh Đại Bi Tâm Đà–ra–ni nói: “Tụng trì Đarani ấy, trong miệng nói ra lời gì, hoặc thiện hay ác, tất cả Thiên Long nghe đều là Pháp âm thanh tịnh.” Lại còn có bài kệ:
“Thí như thuốc linh đơn
Điểm sắt thành vàng báu
Tụng trì Đarani
Biến phàm thành Thánh hiền.”

- Kinh Biến Sớ có nói: “Chơn ngôn hành giả năng khiến ba nghiệp giống như ba nghiệp của Bổn Tôn.”192 Cho nên mười phương thế giới các Đức Như Lai hộ niệm cho người trì chú vậy (Phật Đảnh Tụng).


Tứ Thiên Vương Hộ Thế


THỨ CHÍN: ĐẦY ĐỦ THA LỰC, TỰ LỰC, HIỆN THÀNH BỒ ĐỀ.
Trong Hiển Giáo có Tự lực193 và Tha lực.194 “Thập Trụ Luận’’ và “Niệm Phật Cảnh’’ có nói:
1. Tự Lực Môn: Nghĩa là tu Lục độ hết thảy muôn hạnh,195 gọi là khó hành đạo, như người đi bộ xa ngàn dặm thì phải đến chậm.
2. Tha Lực Môn: Các pháp môn niệm Phật gọi là dễ hành đạo, như người đi đường thủy xuôi thuyền, thuận gió thì được đến mau.

Nay trong Chơn Ngôn Bí Mật thần chú, đầy đủ cả hai lực Tự và Tha.

- Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương và các kinh có nói: “Hành giả Chơn Ngôn, ngày ngày được đầy đủ Ba-la-mật, viên mãn công đức.”

- Phật Đảnh Tụng nói: “Không trì trai mà gọi là trì trai, không trì giới mà xưng là trì giới… Khi nghe Phật Đảnh Đarani liền được Cụ túc Thanh Văn giới.’’196

- Phật Đảnh Sớ nói: “Hạnh môn Bồ Tát tùy hành thời đủ; nay không thành tựu mà tự đủ; là nhờ sức của thần chú có đầy đủ muôn hạnh; lời nói không sai.’’

- Kinh Mạt Pháp Trung Nhất Tự Chú nói: “Sau khi diệt độ, Ta biến thân làm chú này’’ v.v… tức là Tha lực môn.

- Kinh Đại Bảo Quảng Bác nói: “Ta từ nơi vô lượng cu-chi trăm ngàn kiếp, tuy hành khổ hạnh mà không được Bồ Đề, nhờ có vừa nghe Đarani, thì tăng thêm hạnh tương ứng, liền thành Chánh giác.’’

- Ngũ Tự Đarani có bài tụng: “Chư Phật sức bổn thệ, hiện thành các việc Thánh,” và “Nếu họ chưa công đức, chỉ trong đời này liền được Bồ-đề, không cần lao nhọc, tấn tu nhiều kiếp”.

- Thần Biến Sớ nói: “Xét Đarani làm đại bất tư nghì thừa, thành Phật thần thông”197 có nghĩa là y các món khác để tu thành Phật, như cỡi dê ngựa, đi ngàn dặm đường, qua thời gian rất lâu mới đến. Y Đarani môn để tu, như cỡi thần thông đi ngàn dặm đường, móng ý198 liền đến nơi. Chỗ đến tuy không khác, nhưng chỗ phương pháp có chậm mau. Lại như các môn thành Phật như mài vàng đá lấy ngọc Như Ý, tu theo Chơn Ngôn thành Phật như sức thần thông lấy ngọc Như Ý.

- Thần Biến Sao còn nói: “Các vị Bồ Tát vì cầu Bồ Đề, tuy tu các khổ hạnh khó làm, như sự cứu lửa cháy đầu, trải qua vô lượng kiếp còn không được thành tựu, Chơn Ngôn hành giả nếu tu không thiếu pháp tắc thì chỉ trong đời này sẽ được thành công đắc chứng Bồ Đề. Ngoài ra “Đốn siêu199 các địa vị, mau xa lìa phiền não ràng buộc, là vì nhờ chú thuật.”

- Đại Giáo Vương Kinh có nói: “Nếu không y bí mật khóa tụng tu hành, sẽ không thành công trọn vẹn ở cõi Vô Thượng Bồ Đề.”


THỨ MƯỜI: CHƯ PHẬT, NHƯ LAI THƯỢNG NÃI CẦU HỌC.200
- Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương Kinh nói: “Các Phật cũng cầu thần chú, huống nữa phàm phu không trì tụng sao?”

Lại nói: “Đức Quan Âm có sáu chữ Đại Minh Đarani, tất cả Như Lai đều không biết chỗ sở đắc kia; nhân vị Bồ Tát làm thế nào mà biết được’’… đến nỗi nói: “Phật trên hoa sen đã thành Phật rồi, mới trải qua vâng thờ các Phật, để cầu sáu chữ Đại Minh này v.v…’’

* Hỏi: Phật có đủ trí, đâu không biết Đarani đó ư?

* Đáp: Có ba dụng ý.
1) Tiêu biểu Đarani này là thù thắng thâm sâu, khiến tôn trọng. Như trên đã nói Phật không biết mà tự cầu đó.
2) Phật trong Quyền giáo201 như A-la-hán hay Bích Chi Phật không thể biết được Viên tôn mật chú,202 như Tiểu thừa cực quả203 không hay biết được pháp thâm sâu của Đại Thừa.
3) Mật Tông thần chú: Tức thể lại là Viên viên quả hải,204 cho nên Phật không đắc được. Như Thích Đại Thừa Luận: “Viên viên quả hải Phật cũng không đắc được.”

* Hỏi: Vì sao chư Phật không đắc được Viên viên quả hải?

* Đáp: Viên viên quả hải là pháp bổn tánh,205 tiêu biểu chẳng phải Phật tu nhơn206 đoạn chướng207 mà được; lại tiêu biểu ra ngoài nhân quả vậy. Vì thế nên nói chư Phật không được mà tự cầu đó. Ngài Hiền Thủ nói: “Tánh đức quả hải, tức là thập Phật cảnh giới vậy.’’208

Mười Môn từ trước đến đây là lược bày Mật bộ, y tận kinh điển,209 chẳng phải riêng do kẻ nào mà hay biết được mật chỉ. Những bậc bác học thượng trí, xét kỹ nơi đây mà rõ.


Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH


Cũng như các tông phái khác trong Phật Giáo, sự tu hành của Mật Tông gồm có hai phương diện: Sự và Lý; hay nói theo danh từ của Mật Tông là Giáo Tướng và Sự Tướng.

– Sự Tướng là tất cả những thực hành như: tụng chú, kết ấn, cúng dường, lập đàn, v.v… Tất cả những thực hành ấy phải theo đúng khuôn phép nhất định, chứ không thể dùng ý riêng mà làm càn được.

– Giáo Tướng là tất cả những ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm mà chư Phật và Bồ Tát đã rút ra trong Sự Tướng để chỉ dạy chúng ta.

– Người tu hành phải học tập và thực hành cả hai phương diện ấy, không được thiên bỏ bên nào. Không học Giáo Tướng thì không lãnh hội ý nghĩa của Sự Tướng để làm cho đúng. Không học Sự Tướng thì tất cả đều nói suông. Giáo Tướng thì có thể nương theo kinh điển mà học hỏi, còn Sự Tướng thì phải có các bậc A-xà-lê tức là các vị truyền đạo Mật Tông, truyền cho mới biết được.

Ngoài sự tu hành hằng ngày, phương pháp tu hành trọng yếu của Mật Tông là tam mật. Tam mật là phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân mật, khẩu mật và ý mật. Trong Mật Giáo, có nhiều phương cách để tu tập tam mật, tùy theo căn cơ và sở thích của hành giả. Nhưng tất cả phép thiền Mật Tông đều đặt trọng tâm vào việc hướng tư tưởng đến tinh thần đại nguyện Bồ Tát Hạnh trước khi để tự do lựa chọn phương pháp thích nghi cho mỗi cá nhân. Vì lý do đó, việc học tập và am tường giới luật để tiến lần đến việc giữ Đại Giới là điều hữu ích cho một hành giả Du-già.

I. GIỚI LUẬT
Đức Phật khi còn tại thế, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chế ra nhiều loại giới luật để răn dạy đệ tử và hóa độ chúng sanh. Sau khi Ngài nhập Niết Bàn, Ngài Ưu–ba–ly, một vị đệ tử của Phật, tinh thông về giới luật đứng lên pháp tòa trong kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất để tụng đọc lại những giới luật mà Đức Phật đã chế ra.


Đức Phật Thích-ca đang thuyết Pháp


Về sau tuần tự theo thời gian, Nguyên Thủy Phật Giáo lần hồi chia ra nhiều nhánh hay bộ phái. Mỗi bộ phái lại theo một bộ luật riêng, nhưng tựu chung cũng đều xây dựng căn cứ trên bốn trọng giới và Tam tụ tịnh giới (Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới).

Theo Phật Giáo, nghiệp định đoạt tất cả đời sống của chúng ta. Nghiệp có ba loại: nghiệp của hành động, nghiệp của lời nói, nghiệp của ý nghĩ. Muốn các nghiệp được thanh tịnh, chúng sanh phải giữ gìn giới luật. Giới luật được chế ra để ứng dụng cho từng loại căn cơ từ thấp đến cao, như: Ngũ giới cấm, Bát quan trai giới, Thập thiện, 250 giới của Tỳ kheo, và 350 giới của Tỳ kheo ni, Đại giới hay Bồ Tát giới. Những giới nào có tánh cách tiêu cực, tự lợi chỉ có mục đích chánh là tránh tội lỗi cho riêng mình là thuộc về giới Tiểu Thừa như: Ngũ giới, Bát quan trai giới, Sa di và Sa di ni giới, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới. Những giới nào có tánh cách tích cực, nhằm vào mục đích lợi tha hơn tự lợi thì thuộc về Đại Thừa giới như: Bồ Tát giới trong kinh Phạm Võng và Tam tụ tịnh giới là đại giới của các tông phái khác.

A. NGŨ GIỚI CẤM VÀ CÁC ÍCH LỢI THỰC TIỄN.
1) Giới không sát sanh hại vật: hiện đời không làm người hung dữ khỏi bị tù tội, về sau khỏi đọa trong ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
2) Giới không tà dâm: hiện tại thành người tốt, gia đình mình và người không bị rầy rà, đánh đập, khổ sở vì ghen tuông.
3) Giới không trộm cướp: hiện đời làm người lương thiện, khỏi bị giam cầm xiềng xích, đời sau không mắc quả báo bị người giựt của cướp nhà.
4) Giới không nói dối: không nói láo xược, thèo lẻo, đâm thọc, không nói hung ác và thô tục, thì không bị người khinh khi, trí tuệ tăng trưởng.
5) Giới không cờ bạc, hút sách, rượu chè: thì khỏi mất tiền, thiếu nợ, khỏi say sưa làm điều tội lỗi và khỏi bị người khinh khi.

B. BÁT QUAN TRAI GIỚI
Gồm có Ngũ giới cấm kể trên và cộng thêm ba giới:
- Không nằm giường cao, đẹp, rộng.
- Chẳng làm và nghe ca kịch âm nhạc.
- Chẳng dùng các món trang sức, dầu thơm.
Đây là tám giới mà Phật chế ra cho người tại gia tập sống như người xuất gia.

C. MƯỜI GIỚI (Sa di và Sa di ni)
Bát quan trai giới cộng thêm 2 giới:
a. Chẳng giữ vàng, bạc, tiền.
b. Chẳng ăn trái giờ.

Mười giới là cơ sở của người xuất gia trì giới, tức là tu các việc thiện và diệt những điều ác.

Ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập giới trên đây đều thuộc về giới Tiểu Thừa. Bốn giới đầu: sát, đạo, dâm, vọng, gọi là giới căn bản hễ phạm đến thì tội lỗi rất nặng. Nếu y theo pháp Tiểu Thừa thì không thể sám hối được, còn y nơi pháp Đại Thừa thì cho sám hối theo pháp “Vô sanh sám hối” mới dứt đặng. Rượu hay giúp làm phạm đến bốn giới căn bản nên đồng gọi là giới căn bản. Các giới tại gia, xuất gia, Tiểu Thừa, Đại Thừa đều lấy năm giới đây làm căn bản.

D. HAI GIỚI BỔN CỦA CÁC TỲ KHEO VÀ TỲ KHEO NI (Cụ túc giới)
a. Ba-la-di: (Tăng 4 điều; Ni 8 điều) phạm đến 4 giới này: sát, đạo, dâm, vọng, tội không cho sám hối bỏ hẳn ra ngoài Phật pháp.
b. Tăng-già-bà-thi-sa: (Tăng 13 điều; Ni 17 điều) phạm đến một trong các giới này, tỷ như năm căn bị tàn khuyết.
c. Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề: (Tăng 120 điều; Ni 208 điều) phạm đến một trong các giới này thì xả thân bị đoạ.1
d. Ba-la-đề-đề-xá-ni: (Tăng 4 điều; Ni 18 điều) phạm đến giới này có thể đến Tỳ kheo kia xin sám hối.
e. Đột-kiết-la: (Tăng 100 điều; Ni 100 điều) pháp giới rất nhiều và nhỏ nhặt cần phải mỗi giờ mỗi phút cẩn phòng gìn giữ.

E. BỒ TÁT GIỚI HAY GIỚI ĐẠI THỪA CỦA KINH PHẠM VÕNG (10 giới trọng và 48 giới khinh).
Mười món trọng cấm giới là:
1) Chớ vì vui mà sát sanh.
2) Chớ trộm cướp của người.
3) Chớ cùng với phái nữ mà hành dục (xuất gia), tà dâm (tại gia).
4) Chớ có ý nói dối.
5) Chớ mua hay bán rượu.
6) Chớ nói lỗi của tứ chúng.
7) Chớ tự khen mình mà chê người.
8) Chớ bỏn xẻn pháp với kẻ cầu pháp mà còn hủy nhục họ.
9) Chớ vì lời can mà giận dữ và chẳng phục thiện.
10) Chớ hủy báng Tam bảo.
Phạm phải mười giới trọng này, lỗi rất nặng. Bốn mươi tám giới khinh nếu phạm có thể sám hối.

F. GIỚI ĐẠI THỪA CỦA MẬT GIÁO: (Bồ Đề Tâm Bồ Tát Giới Yết Ma Nghi Quỹ).
Tại miền trung Thiên Trúc, nước Ma-đà-già (MAGADHA), thành Vương Xá (RAJAGRAHA), chùa NALANDA Trúc Lâm, Có vị Tam tạng Sa môn huý DUBACALA, Trung Hoa gọi là Thiện Vô Uý (SUBHAKARASIMHA). Ngài vốn con nhà hào quý, thuộc dòng Sát-lỵ (KSATRYA),2 rất thông về pháp nghĩa Đại thừa.
Sau khi sang Trung Hoa, có một độ Thiện Vô Uý A-xà-lê cùng với một đại đức thiền sư ở chùa Hội Thiện tại Tung Nhạc là Kính Hiền Hòa Thượng, đối biện về Phật pháp, luận sâu đến yếu chỉ của Đại Thừa. Lời biện luận của ngài đã mở rộng tâm giới nhãn giới của quần sanh, khiến cho nhiều người mộ đạo. Trong đó có nghi quỹ thọ Bồ Đề Tâm Bồ Tát Giới Yết Ma Nghi Quỹ của Mật Pháp được truyền đến ngày nay. Có thể tóm lược đại nét như sau:
1- Kính Lễ Môn.
2- Cúng Dường Môn.
3- Sám Hối Môn.
4- Quy Y Môn.
5- Phát Bồ Đề Tâm Môn.
6- Giá Nạn Môn.3
7- Thỉnh Sư Môn.
8- Yết Ma Môn (Tam tụ tịnh giới:
Nhiếp luật nghi giới, tránh các điều ác mười giới.
Nhiếp thiện pháp giới: làm các việc thiện.
Nhiêu ích hữu tình giới: làm các việc lợi ích cho người.)
9- Kiết Giới môn.4
10- Tu Tứ Nhiếp Môn.5
11- Thập Trọng Giới (riêng của Mật Giáo).

II. DƯ NGÔN
Tuy hành giả đã thọ Bồ Tát giới, nhưng cũng nên thọ giới pháp nội chứng thanh tịnh vô lậu của Chư Phật mới có thể vào Định Môn. Giới pháp đó chính là Đarani bí mật mà Chư Phật đã nương vào để đi đến biển nhất thế trí. Pháp bí mật này khó được nghe nay chỉ đối với người hữu duyên mà khai thị một đôi phần thiết yếu.

Đarani thứ I: (……….)
Chân ngôn này tụng qua ba lần, có thể nghe và đi vào cấm giới thanh tịnh cùng các pháp bí mật khác, có đầy đủ luật nghi thanh tịnh của tất cả Bồ Tát.

Đarani thứ II: (……….)
Chân ngôn này tụng ba biến, có thể phát tâm Bồ Đề kiên cố cho đến khi thành Phật không bị thoái chuyển.

Đarani thứ III: (……….)
Tụng ba biến liền được tất cả Giới tạng rất sâu và đầy đủ nhân nhất thế chủng trí.

Đarani thứ IV: (……….)
Tụng ba biến, có thể vào tất cả ngôi quán đảnh MANDALA, đối với các pháp bí mật khi nghe không còn bị chướng ngại, kham vào vị quán đảnh của Bồ Tát và thọ trì các Định môn.
(Thiện Vô Uý Tam Tạng Thọ Giới Sám Hối Văn và Thiền Môn Yếu Pháp).

III. NGHI THỨC TRÌ NGŨ BỘ CHÚ – TINH HOA CỦA MẬT-TÔNG PHẬT-GIÁO
GIAI ĐOẠN I: Hành trì trong vòng 100 ngày (108 biến mỗi thời công phu).
GIAI ĐOẠN II: Hành trì trong thời gian một năm (5x108=540 biến mỗi thời công phu).
GIAI ĐOẠN III: Hành trì trong thời gian ba năm ba tháng ba ngày (5x108=540 biến mỗi thời công phu).

Hình ảnh


Chọn ngày rằm, trước tượng Phật, mua một tấm kiếng chưa từng đối trước mặt, kiết Ấn Chuẩn Đề trì 108 biến “Ngũ Bộ Chú” trong Kiếng Đàn. Sau mỗi lần công phu để “Kiếng Đàn” trước mặt ngồi bán già hay kiết già trì chú theo nghi thức sau: (trì niệm trong tâm để thiền định trong Mật Tông).

A. NGHI THỨC KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG PHẬT, PHÁP, TĂNG.
1. Chí tâm đảnh lễ Nam mô Thập Phương Pháp Giới Thanh Tịnh Diệu PHÁP THÂN TỲ-LÔ-GIÁ-NA PHẬT (tức Thượng Đế). (1 lạy)
2. Chí tâm đảnh lễ Nam mô Thập Phương Pháp Giới Viên Mãn BÁO THÂN LÔ-XÁ-NA PHẬT. (1 lạy)
3. Chí Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thập Phương Pháp Giới Giải Thoát TƯỚNG NGHIÊM THÂN NHỨT THIẾT ỨNG HÓA PHẬT. (1 lạy).
4. Chí Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thập Phương Pháp Giới Thâm Diệu Mật Tạng nhất Thiết Đà-ra-ni Môn. (1 lạy)
5. Chí Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thập Phương Pháp Giới Pháp Trí Nhị Nghiêm Thân Nhất Thiết Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy).

B. NGHI CÁCH TRÌ NGŨ BỘ CHÚ:
Kiết Ấn Chuẩn Đề niệm thầm:
ÚM LAM – ÚM XỈ LÂM – ÚM MA NI PAD MÊ HUM – ÚM CHIẾC LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ĐỀ TA BÀ HA - BỘ LÂM. (đọc toàn bộ năm câu chú này 108 lần).

C. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC TRÌ CHÚ:
1. Phục nguyện:
Tam Bảo Chứng Minh. Oai Thần Hộ Niệm. Bồ Tát Thanh Văn. Phạm Thiên Đế Thích. Tứ Thiên Vương Chúng. Thiên Long Bát Bộ. Hộ Pháp Thần Vương. Nhất Thiết Thiện Thần. Đồng Thuỳ Chứng Giám. Đệ Tử Chúng Đẳng. Chí Tâm Trì Chú. Hồi Hướng Công Đức. Sơn Lâm Thủy Lục. Không Dã Thị Thành. Oan Hồn Yểu Tử. Nhất Thiết Hương Linh. Cầu Sanh Tịnh Độ.

2. Thứ Nguyện:
Đệ Tử Chúng Đẳng. Tiêu Trừ Nghiệp Chướng. Tà Ma Ngoại Đạo. Yêu Quái Ác Tinh. Ly My Vọng Lượng. Áp Từ Chú Trở. Tật Bịnh Tội Khiên. Tai Nạn Hoạnh Ương. Nhất Thiết Ác Duyên. Tất Giai Tiêu Diệt.

3. Phổ Nguyện:
Tứ Thời An Lạc. Sở Trụ Phong Nhiêu. Phước Huệ Tăng Long. Tùy Tâm Mãn Nguyện.

NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT
(Đọc 3 lần lạy 3 lần)

IV. BẢY PHÁP MÔN TU TẬP THIỀN ĐỊNH CỦA MẬT GIÁO:
Nghiên cứu tỷ giảo6 về nhiều loại kỹ thuật thiền định của các tôn giáo, học phái và tông phái khác nhau là một chủ đề khó khăn và hấp dẫn vượt quá phạm vi của sách này. Nhưng những pháp môn tu tập thiền định chánh của Phật Giáo Đại Thừa có thể tóm tắt trong bảy nhóm:

1. Tu thiền bằng Sổ Tức Quán.
Theo lý thuyết căn bản “Tâm Khí Bất Nhị,”7 nếu ta có thể điều phục được hơi thở ta có thể điều phục được tâm. Do đó, luyện thở là một trong những lối nhập định (SAMADHI) hay nhất.


Thiền định


Chữ “Sổ Tức Quán” ngụ ý tập điều ngự hơi thở theo một phương pháp đã được quy định. Các phương pháp thông thường nhất là đếm hơi thở, hoặc là đình chỉ, hoặc giữ nó lại. Trong hai cách này, có lẽ cách thứ nhất là cách dễ dàng và an toàn nhất. Cách này vẫn được các thiền sư tha thiết tiến dẫn và được rất nhiều hành giả tu tập suốt hàng thế kỷ. Không giống các loại khác, loại thiền định này có thể tu tập mà không cần dựa tuyệt đối vào sự hướng dẫn của Đạo sư (GURU) nếu ta thâm hiểu về những kỹ thuật thở và hiểu nguyên tắc căn bản của pháp môn tu tập thiền định. Đại Sư Trí Khải, Khai Tổ Thiên Thai Tông Trung Hoa, giải thích phép luyện thở “Sổ và Tùy” rất minh bạch trong tập sách lừng danh của ngài “Lục Diệu Pháp Môn” hay sáu lối tuyệt diệu vào giác ngộ.

2. Tu thiền bằng cách chuyên tâm vào một điểm.
Đây là một lối tu thiền có vẻ giản dị, nhưng thực ra khó khăn. Nhiều Đạo sư (GURU) khuyên hành giả trước tiên phải tinh thông các phép luyện thở đến một mức độ nào đó trước khi khởi sự pháp tu thiền “chuyên tâm vào một điểm” này, nếu không hành giả hẳn thấy nó khó khăn và chán nản. Chuyên tâm vào một điểm ngoài thân thể, nghĩa là tập trung sự chú ý vào bất cứ một đối tượng nào trước mặt ta thì an toàn hơn, nhưng không hữu hiệu bằng chuyên tâm vào một điểm đặc biệt nào đó trong thân thể. Tập trung chú ý vào bất cứ thành phần nào trong thân thể hẳn đưa lại những kết quả phi thường và đôi khi lạ lùng. Chuyên tâm vào một trọng tâm thân thể đặc biệt nào đó hẳn luôn luôn đem lại một kinh nghiệm tâm linh đặc biệt. Chẳng hạn chuyên tâm vào một điểm giữa hai chân mày sẽ đưa lại kinh nghiệm ánh sáng và chuyên tâm vào lỗ rún đem lại một kinh nghiệm an lạc. Khi chuyên tâm vào trái tim, các nguồn lực tích cực của thân thể sẽ chóng trở nên hợp nhất và vì thế sẽ kịp thời đưa lại kinh nghiệm “Không chiếu diệu” hay “Không an lạc.”8 Những nhà Phật Giáo Mật Tông xác nhận rằng mỗi trung tâm trong năm trung khu (CHAKRAS) chính của thân thể có những chức vụ đặc biệt và những công dụng ưu biệt của nó. Chỉ có một Đạo sư (GURU) đã đắc đạo mới giải thích được chúng một cách mật thiết. Tài liệu chi tiết hơn về vấn đề này có thể tìm thấy trong văn học Mật Tông Tây Tạng.

3. Tu thiền bằng cách quán tưởng.
Nếu ta nhắm mắt và quán tưởng một hình ảnh ta sẽ khám phá ra ngay là việc ấy khó khăn biết bao. Hình ảnh ấy luôn luôn mập mờ và dao động: nó phai mờ, phù trầm9 và không chịu đứng yên hay hiện ra hoàn toàn. Quán tưởng là một trong những pháp môn hay nhất để chế phục tâm và khí (PRANA). Mật Tông đặc biệt nhấn mạnh tánh cách hữu dụng của nó và áp dụng nó trong hầu hết các hình thức thiền định. Hàng trăm quán tưởng tu tập pháp khác nhau được cung ứng cho các nhu yếu cá nhân và cho các ứng dụng đặc biệt. Quán tưởng một đối tượng tĩnh hoặc một hình ảnh bên ngoài thân thể được xem là một cách luyện tập sơ bộ và chuẩn bị, quán tưởng một đối tượng lưu hành trong một quỹ đạo hữu hạn trong thân thể được xem là một pháp môn tu tập cao hơn. Cố quán tưởng một hình ảnh hết sức phức tạp với những chi tiết của nó tuyệt cho những người sơ cơ đang học cách thắng ngự cái tâm loanh quanh của mình, và những thiền định cao hơn thì nên quán tưởng một hình ảnh giản dị hơn. Trong các loại quán tưởng tiến bộ hơn hành giả phải quán tưởng một hình ảnh lớn trong một không gian rất nhỏ. Nhiều đạo sĩ Tây Tạng có thể quán tưởng rõ rệt một Mạn-đà-la (MANDALA) lớn trong khoảng một hạt đậu nhỏ xíu. Do đó, quán tưởng một mặt có thể khai mở cái tiềm lực vĩ đại và linh động của tâm và mặt khác có thể đem hành giả đến trạng thái định cao.

4. Tu thiền theo Mantram Yoga (niệm hay tụng các minh chú hay huyền môn).
Trong khi “Quán Tưởng” là một pháp môn tu tập thiền định sử dụng tâm nhãn,10 MANTRAM YOGA, sử dụng tâm nhĩ. Âm thanh cũng như thị giác, có thể sử dụng như là một phương tiện đưa ta nhập định. Niệm một lời cầu nguyện hay MANTRAM, hoặc niệm một chữ đơn độc linh thiêng như “OM” hay “AH” là một pháp môn tu tập rất được phổ cập ở đông phương. Mặc dù Phật Giáo không nhấn mạnh sự quan trọng của âm thanh đến mức như “Ấn Độ Giáo,” thế nhưng “Yoga âm thanh” xưa nay vẫn là một trong các trụ cột thiền định Phật Giáo và được tu tập sâu rộng với các tu sĩ và cư sĩ Phật Giáo. Nó được phổ cập như vậy là vì ba lý do:

1. Nó là loại thiền định dễ dãi và an toàn nhất.
2. Nó là loại thiền định có tánh cách sùng mộ và nó thỏa mãn các nhu yếu tôn giáo của quần chúng.
3. Pháp môn tu tập thiền định bằng cách niệm một lời cầu nguyện, một MANTRAM, hoặc danh hiệu một vị Phật là loại thiền định phổ cập11 và ảnh hưởng nhất trong các thiền định khác nhau và được tín đồ Phật Giáo đồ đủ mọi trình độ tu tập.

5. Tu thiền bằng cách vận động.
SAMADHI là một tâm trạng mà ta có thể đạt đến được bằng rất nhiều phương pháp mà trong đó, nói tổng quát, loại trực tiếp nhất là loại “tĩnh.” Nhưng như thế không hề có ý nghĩa đó là cách độc nhất để nhập định. Một vài lối vận động đặc biệt nào đó cũng có thể đưa đến nhập định. Chẳng hạn Thái Cực Quyền danh tiếng của Đạo Giáo Trung Hoa do đạo sĩ vĩ đại Trương Tam Phong thời nhà Minh sáng chế, là một pháp tu tập thiền định tuyệt diệu cũng như Thiếu Lâm của Mật Tông Phật Giáo là một pháp môn độc đáo nhằm khai mở những quyền năng vô hạn của con người. Các loại quyền này do Tiên Thánh mật truyền và là một lối luyện tập rất ôn nhu, được phát minh một cách tinh xảo để đem các nguồn lực tiêu cực và tích cực đến chỗ hài hòa viên mãn, do đó tự điều hòa tâm, chế phục khí và còn có thể đưa ta đến nhập định trực tiếp.

Có một pháp môn tu tập thiền định độc đáo khác do các Đạo gia phát minh, gọi là “Nhất Tự Quyết” hoặc các loại Yoga xác thân của Mật Giáo, nhờ đó mà hành giả có thể đánh thức dậy cái KUNDALINI (Sinh Lực) trong một vài ngày bằng một số cách vận động đặc biệt của hai ngón tay cái. Cách chính xác của vận động này được giữ tuyệt đối bí mật và chỉ được mật khải khi hành giả tiến hóa đến một trình độ tâm linh nào đó.
Nói tổng quát, Phật Giáo không nhấn mạnh đến sự áp dụng vận động cho các mục đích thiền định, mặc dù Phật không bác bỏ sự hữu dụng của nó và còn áp dụng nó trong những trường hợp nhất định nào đó như là một lối luyện tập phụ trợ rất hay.

6. Tu tập thiền bằng cách chuyên tâm vào thiện ý (hay những tư tưởng sùng mộ).
Theo quan điểm tâm linh, lối thiền định này quan trọng hơn hết trong năm lối thiền định chúng ta vừa bàn đến. Có một giáo lý được rất nhiều hành giả Phật Giáo tu tập, gọi là “Tứ Vô Lượng Tâm,”12 dùng để tôi luyện13 thiện tưởng và thiện ý đối với tất cả chúng sanh, và giảm bớt những chướng ngại giữa mình và người khác, những chướng ngại đã gây ra quá nhiều bất hạnh cho thế gian. Lối thiền định này được các Phật tử xem là nền tảng và chuẩn bị cho các lối thiền định khác. Ở Tây Tạng những bài kệ về “Tứ Vô Lượng Tâm” này được tụng niệm và chiêm nghiệm trước khi bắt tay tu tập bất cứ lối thiền định nào.
Sự rèn luyện thiện ý và sùng mộ là khởi đầu cho quá trình chuẩn bị tâm linh. Thiếu sự chuẩn bị tâm linh thì thực hành bất cứ loại thiền định nào cũng khó mà có kết quả lành mạnh được. Thay vì vậy, nó còn có thể đưa ta đi lạc đường. Các hành giả không ngộ được sau thời kỳ tu thiền dài đăng đẳng thường khám phá ra rằng công trình chuẩn bị trong phạm vi sùng mộ và tâm linh của họ bị thiếu sót. Khi ấy họ hẳn trở lại tu tập pháp căn bản như là “Tứ Vô Lượng Tâm,” “Bồ Tát Nguyện,” cầu nguyện, lễ bái, v.v… để trừ bỏ khiếm khuyết của họ trong phạm vi này. Những người nỗ lực nghiêm nghị để giác ngộ không bao giờ được xao lãng nó.

7. Tu thiền bằng cách đồng nhất tâm tánh:
Đây là lối thiền định “dễ dãi” của thiền và “Đại Thủ Ấn” (MAHAMUDRA). Đó là một lối thiền không có một đối tượng gì để chuyên tâm vào cả, tác động đột khởi và tuyệt diệu của tâm, tuyệt đỉnh và và cốt tủy của tất cả giáo lý. Đối với những kẻ chưa vào cổng thì đây là một pháp môn khó nhất. Nhưng đối với một kẻ đã vào thì đây là một pháp môn dễ nhất. Tất cả những luyện tập và tu tập khác chỉ là những chuẩn bị cho nó. Điểm cốt yếu của pháp môn này là nhận ra được bản tánh của tâm mình, hoặc ít ra thoáng thấy được nó. Một khi đã nhận ra được tâm tánh, hành giả hẳn cố thâm nhập vào nó bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu không chút khó khăn. Trong động hoặc trong tĩnh, cái ý thức “Không chiếu diệu” hẳn luôn luôn chiếu sáng trong hành giả. Mặc dù sau khi nhận ra hoặc thấy tâm tánh vẫn còn một con đường dài để đi, cái “thoáng thấy” đầu tiên được tất cả các hiền triết Phật Giáo xem là điều quan trọng nhất, mà tất cả các hành giả thoạt tiên phải cố đạt được.
Một khi đã vào được cái “cổng không cổng”, thiền định không còn là một tu tập hoặc một nỗ lực. Bấy giờ nó đã trở thành một tác động tự nhiên ngẫu phát của đời sống. Nhưng để đạt được cái “cổng không cổng” này, ta phải tu tập chăm chỉ pháp môn “không có gì để tu này” hoặc theo con đường thiền, hoặc theo con đường Đại Thủ Ấn. (“Tạng Thư Về Đại Giải Thoát” hay Tibetain Book of The Great Liberation và “Yoga Tây Tạng và Giáo Lý Bí Truyền” hay Tibetain book Yoga and Secret Doctrine cuốn II của Evans-Went).


Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG V: QUẢ TƯỚNG1


I. MỘNG CHỨNG
Này Tô-bà-ha Đồng tử! Khi niệm tụng không nên quá chậm, cũng không được quá mau, âm thanh vừa nghe không được lớn nhỏ, chẳng nên gián đoạn, chớ xen tạp nói chuyện với người, chớ để tâm duyên nơi cảnh khác, với các tư thế chớ có sai lầm. Ví như nước sông lớn ngày đêm trôi chảy không ngừng nghỉ, người trì tụng tu các công đức như cúng dường, lễ bái, tán thán… ngày đêm tiếp tục cũng lại như vậy.

Nếu hành giả thoạt tưởng đến các cảnh tạp nhiễm, hoặc khởi niệm giải đãi,2 ái dục,3 nên mau hồi tâm quán văn tự của Chơn Ngôn; hoặc quán bổn tôn hay thủ ấn. Ví như người tu Tỳ-bạt-xá-na (VIPASYANA)4 trụ tâm nơi chót mũi hoặc giữa đôi mày, lần lần tâm được thuần thục, khi đối cảnh không còn loạn động. Đó gọi là quán hạnh thành tựu. Bậc Du-già hành giả cũng thế, nếu đối với cảnh sở duyên5 về Chơn Ngôn tâm không lay động, tức được “Trì minh” thành tựu. Cho nên muốn cầu tất địa, hành giả nên nhiếp tâm nơi một cảnh. Khi tâm đã được điều phục sự hoan hỷ tự phát sanh, tùy nơi hoan hỷ thân liền nhẹ nhàng, tùy nơi nhẹ nhàng thân được an vui, tùy nơi an vui tâm liền được định, tùy nơi được định không còn nghi lực6 khi niệm tụng, tùy nơi niệm tụng tội liền tiêu diệt, tùy nơi tội tiêu diệt tâm được thanh tịnh. Vì tâm thành tựu nên thành tựu pháp Chơn Ngôn.

Cho nên Như Lai nói: "Tất cả các pháp vui thù thắng của nhân thiên do tâm tạp nhiễm mới bị nỗi khổ tam đồ7 cho đến cảnh gian nan nghèo khổ. Nếu tâm thanh tịnh cùng cực, hành giả sẽ xa lìa đất, nước, gió, lửa, sanh già bịnh chết, không chấp hai bên, đi vào cảnh giải thoát vắng lặng. Như tâm được một ít phần thanh tịnh, pháp Chơn Ngôn cũng dễ thành, hành giả sẽ xa lìa sự vui vô thường, biến hoại. Các pháp đều từ tâm sanh, chẳng do thời gian, không phải tự nhiên xuất hiện, không phải do tự nhiên tạo tác, chẳng phải không nhân duyên, cũng chẳng từ nơi ngã8 mà sanh, chỉ vì vô minh nên chúng sanh lưu chuyển trong nẻo luân hồi, do bốn đại hòa hợp giả gọi là Sắc, Sắc chẳng phải ta, ta chẳng phải Sắc. Do đó suy diễn ra, bốn uẩn kia cũng không. Sắc uẩn vô thường như cụm bọt, Thọ như bóng nước, Tưởng như hơi nóng, Hành như chuối cây, Thức dường trò huyễn. Nhận xét như thế mới là chánh kiến, nếu khác là tà kiến."

Lại nữa, Tô-bà-ha Đồng tử! Nếu hành giả trì tụng Chơn Ngôn đủ số lượng, tự biết mình gần với tất địa. Tại sao thế? Vì trong giấc mơ, kẻ trì tụng tất thấy một hoặc nhiều hóa tướng9 như sau:

Thấy mình bước lên lầu cao đẹp, đi lên đỉnh núi cao hoặc leo lên cây to. Thấy mình cưỡi ngựa bạch, cưỡi cọp bạch, cưỡi con tê ngưu, cưỡi bạch tượng, cưỡi trâu trắng hoặc trâu vàng. Nghe giữa hư không có tiếng sấm lớn, nghe tiếng thuyết pháp.

Thấy mình có được tiền của, được tràng hoa, được áo ngũ sắc sạch đẹp, được rượu thịt, được các thứ trái cây có nước, được hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, được tôn dung của Như Lai, được xá lợi của Phật, được kinh điển Đại Thừa, được lạc đà, được trâu nghé, được đầy xe đồ vật, được cây phất trần, được dép giày, được gươm đao, được cây quạt làm bằng lông đuôi chim công, được chuỗi vàng, chuỗi ngọc, được châu báu, được gái xinh đẹp đoan chánh, thấy mình ở trong đại hội, được cùng Phật, Bồ Tát, chư Thánh Tăng đồng tòa10 mà thọ thực.

Thấy mình gặp cha mẹ được những đồ trang sức, được nằm giường ngà có nệm trắng lót phủ. Thấy mình đi qua biển cả, qua sông lớn, đầm rộng, qua hồ ao. Thấy tắm gội thân thể, thấy mình vào chùa vào tháp, vào tăng phòng.

Thấy Như Lai ngồi nơi tòa báu vì hàng Nhơn, Thiên, Bát Bộ thuyết pháp, mình cùng đồng dự nơi Pháp hội nghe lời Phật dạy. Hoặc thấy hàng Duyên Giác nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên. Thấy thánh tăng nói về bốn quả chứng.11 Thấy Bồ Tát nói pháp Lục độ Ba-la-mật. Thấy Đại Lực Thiên Vương nói pháp khoái lạc ở cõi trời. Thấy Ưu-bà-tắc12 nói pháp chán lìa thế tục.

Thấy Ưu-bà-di13 nói pháp chán lìa nữ nhân. Hoặc thấy quốc vương, thấy chúng A-tô-la Đại Lực, thấy Bà La Môn đại tịnh hạnh, thấy bậc trượng phu anh tuấn, thấy hàng phu nhân đoan chánh, thấy bậc trưởng giả chánh trực, giàu sang, hiền lành.
Trong giấc mộng, hành giả thấy mình cùng quyến thuộc tụ hội một chỗ, thấy khổ hạnh tiên nhơn, thấy các trì minh tiên nhơn, thấy người trì tụng nhiệm mầu, thấy nuốt mặt trời, mặt trăng, thấy mình nằm trên biển cả, chúng sanh ở biển trôi vào bụng. Hoặc thấy mình uống nước bốn biển đại châu, thấy mình cưỡi con rồng phun nước tưới nhuần khắp bốn châu lớn, thấy mình bay lên hư không, thấy mình ngồi ở núi Tu Di, Long Vương bốn châu đều đến đảnh lễ. Hoặc thấy mình vào trong đám lửa lớn, thấy người nữ ẩn vào thân mình.

Này Tô-bà-ha Đồng tử! Khi người trì Chơn Ngôn công hạnh sắp thành tựu, tất thấy những điềm mộng thù thắng như thế. Lúc thấy như thế rồi, nên biết thời gian nửa tháng hoặc một tháng sắp tới, hành giả sẽ được tất địa.
Nếu luận về mộng tưởng của người trì tụng Chơn Ngôn thì thật không kể xiết, ta chỉ lược thuật thế thôi. Như hành giả tinh tấn không lui sụt, quyết định sẽ thấy cảnh giới thượng thượng (Kinh Tô-bà-ha Đồng Tử).

II. QUẢ TƯỚNG TU TRÌ
Nếu hành giả trì môn bí mật này, tu tập được tinh thuần14 rồi, tất cả sở cầu đều được như ý, thông hiểu nghĩa mầu tối thượng của các pháp, chứng Vô Ngại Tuệ15 không còn phân biệt, lòng tin đầy đủ, có thể biết việc ba đời của người khác. Hành giả lại được chư Phật, Bồ Tát hiện thân đến trước, khai thị về đạo lý xuất sanh tất cả các pháp môn16 và có thể soi biết tự tánh17 của ngã pháp.18 Du-già hành nhơn,19 khi đã được như thế rồi, có thể biến hóa các tướng như: hiện ra thân Chấp Kim Cang Đại Phẫn Nộ Vương hay điều phục tất cả loại khó điều phục, hoặc hiện các sắc thân có đại quang minh để cứu độ chúng sanh, làm lợi ích lớn. Hành nhơn lại có thể thành tựu tất cả minh chú, ấn tướng tam muội,20 cùng pháp MANDALA, trở thành bậc Đại Chú Minh Vương Tối Thắng.

Tất cả các thần Tỳ-na-dạ-ca21 cực hung mãnh, cho đến ma hoặc ma tộc, ngày đêm thường theo ủng hộ hành giả ở tất cả các chỗ mà không hiện thân, không cho các loại ác rình rập chờ dịp thuận tiện để làm hại.
Người trì chú thường kiến lập nghiệp thân, ngữ, ý trụ nơi chánh pháp, được tất cả chư Phật, Bồ Tát xót thương nhiếp thọ,22 được tài biện luận không sợ hãi đối với tất cả pháp và hay quán soi tự tánh vô ngã.23 Tất cả Phạm Vương, Đế Thích, cùng chư Thiên ở thế giới này, cho đến Hộ Thế chư Thiên ở mười phương ngày đêm cũng thường hộ vệ, khiến cho hành giả khi đi, đứng, nằm, ngồi thường được yên ổn (Kinh Phật Thuyết Tối Thắng Diệu Kiết Tường Căn Bản Trí Tối Thượng Bí Mật Nhất Thế Danh Nghĩa Tam Ma Địa Phần).

III. CHÍN PHẨM THÀNH TỰU CỦA MẬT CHÚ
Công phu tu tập thành tựu, hành giả sẽ đạt được một trong chín phẩm sau đây của mật chú:

1. HẠ PHẨM.
a) Hạ Hạ: Năng nhiếp phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu, cử ý tùng tâm,24 tất cả Thiên Long thường đến thăm hỏi, lại hay hàng phục tất cả trùng thú và quỷ mỵ.
b) Hạ Trung: Có công năng sai sử tất cả Thiên Long Bát bộ hoặc ra vào A-tô-la cung hoặc Long cung, đi ở tùy tâm.
c) Hạ Thượng: Liền được Tiên đạo, thừa nương hư không bay đi qua lại. Trên trời dưới đất đều được tự tại: thế gian xuất thế gian chẳng việc gì mà không đạt đến.

2. TRUNG PHẨM.
a) Trung Hạ: Làm vua trong các Tiên chú, Phước đức, Trí tuệ, ba cõi không gì có thể so kịp.
b) Trung Trung: Liền được thần thông qua lại các thế giới, làm chuyển luân vương, trụ thọ một kiếp.
c) Thượng Trung: Hiện chứng từ Sơ địa Bồ Tát trở lên.

3. THƯỢNG PHẨM.

a) Thượng Hạ: Được đến Ngũ địa Bồ Tát trở lên.
b) Thượng Trung: Được đến Bát địa Bồ Tát trở lên.
c) Thượng Thượng: Tam mật biến thành tam thân, chỉ trong đời này chứng quả Vô thượng Bồ Đề.

Đây là tóm lược chín phẩm thành tựu tu trì của người hành giả tu Mật Pháp.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG VI: CHÚ ẤN PHÙ và CÁC VÒNG PHÉP
Cũng như MANDALA của Mật Tông Trung Hoa – Tây Tạng – Nhật Bản và Cao Miên


I. LỤC TỰ THẦN CHÚ VƯƠNG KINH
(Khai Nguyên Thập Di Biên, lục chép ra trong đời Lương. Thích Viên Đức dịch Hán ra Việt)

Như thật tôi nghe,1 một thời Phật ở tại nước Xá Vệ, trong rừng Kỳ-đà. Lúc bấy giờ có một người nữ ngoại đạo Chiên-đà-la,2 chuyên làm các ác vẽ Phù yếm đảo; hoặc nhờ Thần núi, Thần cây, Quỷ thần dưới gốc cây, Nhật, Nguyệt, Ngũ Tinh, Nam Đẩu Bắc Thần, hết thảy Vọng Lượng,3 các Ma Tà Mị để yếm hoặc Tôn giả A-nan-đà và các người lành khác, hằng hà sa số như vậy. Khi ấy Đức Như Lai nhơn thấy ông A-nan-đà tinh thần hoảng hốt, Ngài vì thương xót tất cả hữu tình ba đời, liền nói Lục Tự Thần Chú Vương Kinh này. Trước chư Phật đã nói, ta (Phật) nay cũng nói, tức nói Chú rằng:

An Đà Lệ, Bát Đà Lệ, Ca La Chi Sí Do Lệ, Đế Xà Bà Đế, Tần Đầu Bà Đế, Đà Đầu Lệ, Đà Cưu Đế Lệ, Đà Cưu Ma Đế, Tu Ma Đế, An Đà La Bàn Đà La, Đàn Đà La Đề Đâu La, Đà Na Diên Đà, Mạn Đà Bà Đế, A Na A Na Dạ, Ma Đậu Ma Bà Đế, Ca La Tra Sí Do La Phù Đắng Dà Di, Đế Ám Bà Đế, Tần Đầu Ma Đế, A La Bà Dà Đế, Tỳ Trá Tỳ Đề Nị, Chất Tra Tỳ Đề Nị, Chất Tra Tỳ Đề Nị, Ta Bà Ha.

Nếu có kẻ nào làm ác chú trù ếm, nếu đã làm rồi, hoặc đang làm. Hoặc Trời, hoặc Ma, hoặc Rồng, hoặc Dạ-xoa,4 hoặc La-sát,5 hoặc Ngạ quỷ, hoặc Cưu-bàn-trà,6 hoặc Phú-đơn-na,7 hoặc Tỳ-xá-xà,8 hoặc A-ba-ma-la,9 hoặc Ưu-ba-ma-la, hoặc Kiết-giá,10 hoặc Khư-ủ-đà, hoặc Tỳ-đà-la,11 hoặc Bán-tỳ-đa-la, hoặc Sa-môn,12 hoặc Bà-la-môn,13 hoặc Sát-lợi,14 hoặc Tỳ-xá,15 hoặc Thủ-đà,16 hoặc Ma-đăng-già,17 hoặc Ma-đăng-già nữ, hoặc Chiên-đà-la, hoặc Chiên-đà-la nữ, hoặc tôi hoặc tớ, hoặc nam, hoặc nữ, hoặc ngoại đạo Ni-càn-đà18 hoặc ngoại đạo xuất gia nam nữ, các thứ như vậy v.v..., hoặc hay chú yếm trù rủa, trùng độc.

Ta (Phật) nay lấy Lục Tự Thần Chú Vương Kinh này, nếu làm yếm trên Trời thì trên Trời liền diệt. Nếu làm yếm dưới Trời thì dưới Trời liền diệt. Nếu hướng trên làm yếm thì hướng trên liền diệt. Nếu hướng dưới làm yếm thì hướng dưới liền diệt. Nếu trên vách làm yếm thì trên vách liền diệt, nếu làm yếm dính nơi vách thì dính nơi vách liền diệt. Nếu yếm trong đám mây mù thì trong đám mây mù ấy liền diệt. Nếu làm yếm trong hư không thì trong hư không ấy liền diệt. Nếu làm yếm trên mặt đất thì trên mặt đất liền diệt. Nếu yếm dưới đất thì dưới đất liền diệt. Nếu làm yếm tám phương xa thì tám phương xa liền diệt.

Nếu bên trong trên dưới bốn phương làm yếm thì ở trong trên dưới bốn phương liền diệt. Nếu theo ngọn gió thổi làm yếm thì theo trong ngọn gió thổi liền diệt. Nếu bên trong nước bốn biển lớn làm yếm thì bên trong nước bốn biển lớn liền diệt. Nếu trong bên mé sông Hoài, sông Hồng làm yếm thì trong bên mé sông Hoài, sông Hồng liền diệt. Nếu bên trong bờ đường đi làm yếm thì bên trong bờ đường liền diệt. Nếu bên trong các vũng nước làm yếm thì bên trong các vũng nước liền diệt. Nếu bên trong núi, suối, khe, hang, đồi, gò, hầm làm yếm thì bên trong núi, suối, khe, hang, đồi, gò, hầm liền diệt. Nếu bên trong năm núi lớn làm yếm thì bên trong năm núi lớn liền diệt. Nếu bên trong đầm, rừng, gành lớn làm yếm thì bên trong đầm, rừng, gành lớn ấy liền diệt. Nếu bên trong cỏ cây lớn, cây nhỏ, làm yếm thì bên trong cây cỏ cây lớn, cây nhỏ liền diệt. Nếu bên trong cây rễ nhánh cây cỏ làm yếm thì bên trong rễ nhánh cây cỏ liền diệt. Nếu bên trong đường đi tắt lớn nhỏ làm yếm thì bên trong đường đi tắt lớn nhỏ liền diệt. Nếu bên trong ngã tư đường lớn nhỏ làm yếm thì bên trong ngã tư đường lớn nhỏ liền diệt. Nếu bên trong ngoài cửa thành lớn, thành nhỏ, phường, thôn làm yếm thì bên trong ngoài cửa thành lớn, thành nhỏ, phường, thôn liền diệt.

Nếu trong nội thành lớn, nhỏ, phường, thôn làm yếm thì trong nội thành lớn, nhỏ, phường, thôn liền diệt. Nếu bên ngoài cửa nội, ngoại cung làm yếm thì bên ngoài cửa nội, ngoại cung liền diệt. Nếu trong cửa cung làm, trong cửa cung liền diệt. Nếu nơi bên trong mồ mả làm yếm thì bên trong mồ mả liền diệt. Nếu bên trong nhà cửa, liêu, xá, thành, tường làm yếm, hết thảy đều tiêu diệt. Nếu nơi mái nhà làm yếm thì nơi mái nhà tiêu diệt. Nếu bên cây cột yếm thì bên cây cột liền diệt. Nếu dưới đá tán cây cột yếm thì dưới đá tán cột liền diệt. Nếu bên trong đống đất phân yếm thì bên trong đống đất phân liền diệt. Nếu bên trong giếng, bếp, cối giã, cối xay làm yếm thì bên trong giếng, bếp, cối giã, cối xay liền diệt. Nếu yếm bên trong hỏa lò thì bên trong hỏa lò liền diệt. Nếu yếm bên trong nhà tiêu, chuồng thú thì bên trong nhà tiêu, chuồng thú liền diệt. Nếu yếm bên trong dụng cụ xe lớn, xe nhỏ thì bên trong dụng cụ xe lớn, xe nhỏ liền diệt. Nếu yếm bên trong đồ phục sức yên ngựa thì bên trong đồ phục sức yên ngựa liền diệt đó. Nếu yếm nơi giường, chõng, áo, mền, nĩ, nệm, giầy, mão, nơi bên trong các đồ đựng thì bên trong giường, chõng, áo, mền, nĩ, nệm, giầy, mão, các đồ đựng liền diệt.

Hoặc bên trong tất cả đồ ăn uống làm yếm thì bên trong tất cả đồ ăn uống liền diệt. Nếu yếm gần bên người và nơi tất cả chỗ đi, đứng, nằm, ngồi, hết thảy như vậy đều tiêu diệt. Nếu ngày làm thì ngày diệt, nếu đêm làm thì đêm diệt. Nếu ngày đêm thường làm thì ngày đêm diệt. Thần chú này có công năng đoạn tuyệt Ðế Thích chú đạo, hay đoạn tuyệt Phạm Thiên chú đạo, hay đoạn tuyệt Tứ Thiên Vương chú đạo và tất cả các chú đạo huyền thuật đã có của tà quỷ hết thảy đều đoạn dứt. Nếu có bị kẻ nào chú ác yếm trùng, trù rủa cùng độc dược thảy đều tiêu diệt. Hoặc Khư-ủ-đà, hoặc Tỳ-đà-la, hoặc Kiết-giá, hoặc Phú-đơn-na đã làm thảy đều diệt trừ hết các ác, các thiện trợ giúp. Nguyện nhờ chú này thường được an lành, dùng chơn thật chương cú này, khiến đệ tử… ngày an, đêm an, đêm ngày thường an. Sống lâu trăm tuổi, được thấy trăm thu. Bởi vì sao? Trong thế gian bậc Tối Thượng không ai hơn Phật. Các Trời tôn trọng, chúng thần phụng ngưỡng. Nếu có kẻ hành ác chú đạo, nếu đã làm, hoặc đang làm, hay trong thời gian làm, hoặc thành tựu, hay chưa thành tựu cũng thảy đều tiêu diệt và tất cả các độc hay hại người. Chỗ nào có Lục Tự Thần Chú Vương Kinh này, hoặc đọc tụng hoặc thọ trì nhớ niệm, các ác nghiệp trọng chướng đã có thảy đều tiêu diệt. Tức nói chú rằng:

Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi, Bà Chi, Ta Bà Ha.

Nếu có kẻ nào làm ác chú trù rủa, nếu đã làm hoặc đang làm. Hoặc Trời, hoặc Rồng, hoặc Dược-xoa, hoặc La-sát và tất cả kẻ làm ác chú trù rủa thảy đều tiêu diệt. Hoặc Khư-ủ-đà, hoặc Tỳ-đà-la, hoặc Phú-đơn-na đã làm thảy đều tiêu diệt, các ác tiêu tan các thiện trợ giúp.
Nguyện nhờ chú này thường được an lành, dùng chơn thật chương cú này, khiến đệ tử… ngày an đêm an, đêm ngày thường an. Sống lâu trăm tuổi, được thấy trăm thu. Bởi vì sao? Tối thượng trong thế gian không qua phép Phật. Trời người cung kính, chúng Ma vâng phụng, ly dục không nhiễm. Tức nói chú rằng:

Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi, Bà Chi, Ta Bà Ha.

Vì cớ sao? Tối thượng trong thế gian không ai hơn Tăng, lương thiện phước điền, Hiền Thánh cung kính, các thiện ủng hộ. Tức nói chú rằng:

Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi Bà Chi Ðâu Ðế, A Nĩ Ðế, A Châu Ðế, Ta Ba Ha.

Nếu kẻ nào làm ác chú trù rủa, hoặc hòa hợp độc dược, hoặc chơn, hoặc ngụy, đã làm phi pháp. Hoặc thân trước hoặc thân này, làm các ác nghiệp, tất cả trọng tội thảy đều tiêu diệt. Tức nói chú rằng:

Ma hưu bà ô ma đế, ô ma đà đồ đà nĩ, khư ủ đà bà đề đồ đà nĩ tần đầu ma đề, chất đế chất đa đề bà đồ đà nĩ, a bệ chiên a bệ, ta bà ha.

Nếu có người hay tụng trì Lục Tự Thần Chú Vương Kinh, giả sử khiến chú vào cây khô, có thể được hoàn sanh nhánh lá, huống gì thân người, khiến người ấy được sống trăm tuổi, được thấy trăm thu. Chư Phật đã nói, A-nan đã truyền. Nếu người đọc tụng thông suốt đều tự hộ mình, các ác lìa thân, các điều thiện nhóm tụ. Nếu chú nguyện cho người khác, hay trừ các ác khổ hoạn cho người ấy. Người đọc tụng phải đoạn dứt ngũ tân,19 chí tâm thanh khiết, nhiên hậu mới làm. Các nạn hung họa không còn dư sót, đều được cát tường lợi ích. Tức nói chú rằng:

Ha ha giá lị, ha ha na di, ha ha phù đà ma đề, ha ha ni ha trá, ni cù sa, ha ha ni ha đà, khư ủ đà, ni tỳ sa khư ủ đà, i nĩ di nĩ, đà tệ, đà đà tệ, ta bà ha.

Kính lễ Tam bảo, kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai. Kính lễ hết thảy Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác. Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thấp Phạ La Ma-ha Tát-đỏa, quy mạng như vậy rồi, vậy sau nói Thần chú, mong nhờ Thần chú này thường an lành. Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thấp Phạ La, quán chiếu thân con (câu này xưng ba lần) thương xót con. Tức nói chú rằng:

Ô ha ni mộ a ni a đà ni a đà tỳ a đà xà tỳ ni đam tỳ ni, an đà lệ, bát đà lệ, tử bì đề, an đà la bà tử ni, tát lục đậu suất tra, ba la đậu suất tra, chất đảm diêm bà dạ, đam bà dạ, ma ha dạ da bà mậu la, đề na mậu giá đề, lô lụ chất tra na đà tử, lô lụ lô lậu chất tra bát đà tử, ta bà ha.

Chú này hay hộ tất cả ách nạn, vô cấu thanh tịnh giải thoát quang minh quán chiếu, cột trói tất cả kẻ tặc làm ác, không có mê hoảng, người niệm lành được cứu độ tất cả các ác ma nạn, hiện đời ủng hộ ngã thân, sư tử, voi điên, cọp beo, chó sói, khỉ, vượn và các ác cầm thú muốn hại người, khiến thảy bị trói. Tôi nay vì đệ tử… và cùng bạn đồng hành. Tất cả chú lực hướng đến chỗ nào đi, đứng, nằm, ngồi nguyện thảy bình an. Tức nói chú rằng:

Tri hê rị, tri rị, thâu rị Ma-Đắng kỳ, chiên Đà rị xoa la xoa la la da ta bà ha.

Kính lễ Tam bảo ắt nguyện chú này, khiến đại cát tường, khéo dùng chú pháp này, ngày đang dùng ấy tắm rửa sạch sẽ, y phục thanh tịnh, thân tâm điềm tĩnh, không được hành dâm, không ăn ngũ tân, không uống rượu thịt, không nói lời ác.
Phải lấy chỉ trắng, tay nắm giăng ra, tụng chú bảy biến, một biến một gút. Làm dây thành rồi, nếu có quan sự, bị lời thị phi, hoặc gặp tranh cãi, hoặc trù chú rủa, hoặc bàn mưu sàm tấu, vu cáo bậy bạ, và tất cả các ác, lấy chú gút này đeo nơi áo người, những nạn như trên thảy đều tiêu diệt.
Sau việc qua rồi, thỉnh Phật, Pháp, Tăng thiêu các danh hương, trai phạn cúng dường, thâm tu cầu phước, bi kỉnh báo Phật từ ân, chủ tự mở gút, phát đại nguyện rằng: Con cùng tất cả tứ sanh, vĩnh tuyệt bát nạn, sở nguyện tùng tâm. Tức nói chú rằng:

Hê đậu ma đế da xá bà đế, bà la sa thiên bà đế, ô thọ bà đế, uất đa la ni, a xoa dạ bà đế, a nâu thiên đế mục xí bà la bà mục đế, bà la bà chỉ đậu ta ha.

Kính lễ quá khứ, vị lai, hiện tại tất cả Thường trụ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác.
Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thất Phạt La tiêu phục độc hại cứu khổ đại bi giả.
Kính lễ Mạn-thù-thất-lợi Bồ Tát, Tam-mạn-đa Bạt-đạt-la Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát, Khí Ấm Cái Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Thường Bất Ly Thế Bồ Tát, Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, Hư Không Tạng, Bảo Tràng, Khổng Tước Vương Ðà-la-ni, Lục Tự Chương Cú, Dược Vương Dược Kiên Ý, Bất Ô Hạnh Ðẳng Bồ Tát Ma-ha-tát.
Xưng các danh hiệu quy y như vậy, hết thảy Thánh chúng đắc đạo. Vậy sau nói Ðà-la-ni Thần chú này. Tức nói chú rằng:

Ca ra ni ma đế, tỳ dũ đa ni, dà đế bà ra tỳ, da xá thủ la bà lệ, đà đề nâu đề tán đà bà đề, xá đà mục khư, uất đa la ni, xá đà bà ra tỳ xá tỳ thiên đà, ca rị xa, bà tát na bà dà đế, cưu xá la bà bà ni, a nâu sang đế tỳ san đế tri đế, a tri đế, than na dà đế, a than na dà đế, a bà ta rị, a xá ta ra nĩ, bà la nĩ mục lê, mâu ra mâu ra bà đà lệ, xá ni bà ra lục, tu lê bà đế thù đế bà la lục, tu tỳ ma lệ yêm ma lệ, ta ha.

Chú này hay trừ hết thảy tối tăm, Như Lai truyền trì, chư Thiên kính thọ, Thiện thần hộ niệm, Phạm thiên giải bày, Ðế Thích kính thờ, ủng hộ cõi đời, các Thánh thấu rõ, chư Tiên thọ trì, các họ hòa hợp, giải thoát ràng buộc, hết thảy các trời và cùng các người, dứt các phiền não, hàng phục ma oán, chế phục ngoại đạo, bẻ gãy các lỗi kiêu mạn. Các Pháp sư đàm luận tranh tụng đều được vượt thắng, căn lành tăng trưởng, thân tâm thanh tịnh, không bỏ đại chúng, vui các học pháp, giữ gìn kinh điển, pháp tạng thâm sâu, lợi ích Tam bảo, thương xót tất cả các loài chúng sanh, trang nghiêm chúng nghĩa, có hết thảy lợi ích lớn như vậy, nên gọi là Vô Tận Tạng Ðà-la-ni Chương Cú, chẳng phải hộ mà hay hộ, nếu có người hay đọc tụng, biên chép, thọ trì hoặc khuyên người biên chép, cho đến lấy hương hoa cúng dường kinh quyển ấy, thì được vô ngại ba mươi hai nạn sợ hãi. Người dùng chú pháp này sớm chiều tắm gội sạch sẽ, súc miệng rửa tay, y phục thanh tịnh, thắp hương chí tâm đảnh lễ, đọc tụng ba biến như vậy xong rồi, chỗ ra làm việc gì, lời nói đàm luận, bốn chúng chiêm ngưỡng, hướng đến phương nào cũng được cát tường. Mọi người quy kính, thấy đều vui mừng, oan gia vâng thuận. Các ông A-nan-đà, hết thảy nên phải một lòng phụng trì Ðà-la-ni Chương Cú này. Khi nói pháp đây, tất cả Trời, Rồng, Bát bộ, Quỷ thần, nghe Phật Ngài nói, đều đại vui mừng làm lễ mà trở về.

II. UẾ TÍCH KIM CANG THUYẾT THẦN THÔNG ÐẠI MÃN ÐÀ-LA-NI PHÁP THUẬT LINH YẾU MÔN
Bắc Thiên Trúc, Sa-môn Tam Tạng A-chất-đạt-tản truyền sang từ đời Ðường.
Ngài Vô Năng Thắng Tướng dịch Phạn ra Hán.
Sa-môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt Văn.


Tôi nghe như vầy, một thời Ðức Phật ở tại Câu-thi-na, xứ Lực Sĩ Xanh, gần bên sông Bạc-đề trong rừng Sa-la Song Thọ.

Lúc bấy giờ đức Như Lai sắp nhập Niết Bàn, khi đó có vô lượng trăm ngàn vạn chúng, hết thảy Trời, Rồng, tám bộ nhơn và phi nhơn… đứng chung quanh bốn phía Ðức Phật than khóc, buồn rầu, khổ não.

Bấy giờ lại có chư Thiên, đại chúng, như ông Thích Ðề Hoàn Nhơn20 v.v… đều đến cúng dường. Chỉ có ông Lễ Kế Phạm Vương đem chư Thiên nữ nương ở bốn phía đoanh vây chung quanh ông mà ngồi, Thiên nữ trước sau, cả thảy ngàn vạn ức chúng cùng chung vui chơi. Nghe Đức Như Lai vào cõi Niết Bàn mà không đến thăm hỏi.

Bấy giờ chư đại chúng liền nói: Ngày nay đức Như Lai vào Niết Bàn, vậy sao Phạm vương kia không đến ư?! Vương kia chắc có tâm ngã mạn mới không đến đây. Hết thảy đồ chúng chúng ta nên sai khiến Tiểu Chú tiên, đến nơi kia khiến họ về. Nói lời ấy rồi liền vội thúc trăm ngàn chúng Chú tiên đến chỗ nơi ấy mới thấy các thứ bất tịnh làm thành vách. Tiên kia thấy rồi thảy đều phạm chú mà chết.

Bấy giờ đại chúng ngạc nhiên chưa từng có, lại thúc vô lượng Kim Cang cũng khiến trì chú mà đi, mãi đến bảy ngày không người tới được. Ðại chúng thấy việc đó rồi, thêm phần buồn rầu.

Bấy giờ, đại chúng đồng thanh mà nói kệ rằng:
“Khổ thay Ðại Thánh Tôn,
Niết Bàn sao mau quá?
Các trời còn quyết định,
Không người được tìm kêu,
Ðau xót thầy cõi trời,
Niết Bàn như lửa tắt.”

Bấy giờ, chư đại chúng nói kệ này rồi lại bội phần gào khóc buồn khổ thảm thiết. Lúc ấy đức Như Lai thương xót chư đại chúng liền dùng Ðại biến Tri Thần Lực nơi bên tay trái của quả tim mà hóa ra Kim Cang bất hoại. Liền từ chỗ ngồi ở trong đại chúng mà đứng dậy, bạch đại chúng rằng: Tôi có đại Thần chú, hãy thu lấy Phạm vương kia. Nói lời ấy rồi liền ở trong đại chúng hiển bày thần thông làm cho Tam thiên đại thiên thế giới sáu lần chấn động, cung Trời, cung Rồng cùng các cung điện Quỷ thần thảy đều sụp đổ, liền tự thân bay đến chỗ Phạm vương kia lấy tay chỉ đó, các thứ vật xú uế kia biến làm đại địa.

Bấy giờ Ngài Kim Cang bảo với người kia rằng: Ngươi thật là đại ngu si, đức Như Lai ta muốn vào cõi Niết Bàn, sao ngươi không đến?! Liền lấy sức bất hoại Kim Cang mà chỉ đó, Phạm vương phát tâm đến chỗ Đức Như Lai.

Bấy giờ đại chúng khen ngợi rằng: Ðại Lực Sĩ, Người thật là đại thần lực mới đem Phạm vương về đến nơi đây.

Lúc đó Ngài Kim Cang liền nói rằng: Nếu có chúng sanh nào trong thế gian bị chư Thiên ác ma hung mãnh và các ác quỷ, hết thảy các ngoại đạo làm não loạn, người ấy chỉ tụng Thần chú của ta mười vạn biến, ta tự hiện thân mà hộ hết thảy các Hữu tình, tùy ý mà được viên mãn, vĩnh viễn xa lìa nghèo cùng, khốn khổ, thường được an vui. Thần chú này có công năng như thế. Trước phát lời đại nguyện, niệm đức Bổn Sư của ta: NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.

Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thọ trì Thần chú này thệ độ quần sanh, khiến cho Phật pháp bất diệt, cửu trụ ở đời, phát lời nguyện ấy rồi liền thuyết Thần chú Uế tích Chơn Ngôn Ðại Viên Mãn Ðà-la-ni rằng:

“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra, ngân na ngái, vẫn trắp vẫn, vĩ hiệt vĩ, ma na thê, ô thâm mộ hốt lốt, hùm hùm phấn phấn tóa ha.”

Bấy giờ Ngài Kim Cang thuyết Thần chú này rồi lại nói nữa rằng: Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thường tụng Thần chú này, nếu có chúng sanh thỉnh nguyện thọ trì Thần chú đây, tôi thường vì sự sai khiến của người ấy mà làm cho họ sở cầu như nguyện. Tôi nay trước đức Như Lai mà nói Thần chú này, cúi xin đức Như Lai trong cõi Niết Bàn thấu rõ cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh bị nhiều thứ quỷ, ác thần làm não loạn, trì Thần chú này đều không thể làm hại, vĩnh viễn xa lìa các khổ nạn.

Bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành và người gái tín nào muốn cứu trị lành vạn bịnh thì tụng Thần chú của con, trên bốn mươi vạn biến, thấy có các bịnh, trị đều hiệu nghiệm, không luận sạch hay dơ, tùy ý sai khiến, con thường theo gia hộ, hết thảy các sở nguyện đều được viên mãn.

Nếu muốn khiến cây khô sanh cành lá, lấy một lượng Bạch giao hương để thoa trong tim cây, lấy cành dương chi, chú trong cây một trăm biến, ngày ba thời, cho mãn ba ngày, cây liền sanh hoa trái.

Nếu muốn suối khô có nước, lấy vôi sạch mà rải khắp chung quanh ấy, lấy hoa tốt bỏ vào trong ba mươi lít nước sạch ở giếng, đem để ở trong giữa lòng suối, giờ Dần buổi sáng, chú 108 biến, nước liền phun ra như bánh xe quay.

Nếu muốn núi khô sanh cây cỏ, lấy dao thép bén, búa bốn hướng của núi ấy, chú ba ngàn biến, mãn bảy ngày liền sanh cây cỏ.

Nếu muốn khiến loại dã thú hung mãnh đến hàng phục, lấy An tất hương, nhìn về hướng có dã thú ấy mà đốt, chú một ngàn biến, đêm lại, các dã thú kia kéo nhau tụ tập trước cửa nhà của người trì chú, quy hàng hiền hậu, giống như gia súc mình nuôi vậy, tùy ý mình sai bảo, đời đời không xa lìa.

Nếu muốn quỷ Dạ-xoa tự đến hàng phục, lấy mười nhánh đào, tề cho bằng gốc, lấy năm mươi lít nước đổ vào bình sành (cái thạp) đem nấu, bỏ đào liễu ấy vào ngâm, xong lấy ra, lấy ba lượng lớn đinh hương, ba lượng lớn nhũ đầu hương, ba lượng lớn bạch giao hương, sau cùng hòa trong năm mươi lít nước nấu đào liễu ấy, liền đem đổ trong một cái chậu bể, lấy nhánh đào dài ba thước mà khuấy nước đó, tụng chú một trăm biến, hết thảy quỷ Dạ-xoa, La-sát đều đến hiện hình, cùng người làm pháp này mà hầu chuyện, cầu xin theo làm thị giả.

Nếu muốn diệt ác tâm của các quỷ thần, độc xà, rắn rết, những mãnh thú hung dữ v.v… lấy vôi sạch rải khắp cửa hang của chúng, tự nhiên chúng chui ra, tụng chú nho nhỏ một trăm biến, thì các rắn độc trùng thú kia, liền diệt hết tâm độc, không dám làm tổn thương người khiến mau được giải thoát.

Nếu muốn chó dữ không cắn người, lấy một nắm cơm chú bảy biến vào cho nó ăn, vĩnh viễn không cắn người mà cũng không còn gầm sủa hung hăng.

Nếu muốn người ác đến hàng phục mình, viết tên họ người ấy để dưới bàn chân, chú một trăm biến, tâm mình nghĩ đến người kia, người kia liền đến hàng phục, bỏ hết tâm oán ghét.

Nếu muốn người ghét nhau, viết tên họ của hai người đó, để dưới bàn chân, tụng chú hai trăm mười tám biến thì hai người ấy đời đời xa lìa, không còn thương mến.

Nếu có người ghét nhau, muốn khiến họ thương kính, mến nhau, liền viết tên họ của các người ấy, để dưới bàn chân tụng chú một trăm lẻ tám biến thì các người ấy thương kính, mến nhau, đời đời không xa lìa.

Nếu có người chưa an lạc, muốn khiến họ được an lạc cũng làm như trước, viết tên họ của người ấy, dưới bàn chân chú ba trăm biến thì người kia được an vui, nên vì người kia phát lời đại nguyện, ta đối với người ấy, khi bấy giờ, liền tự đem vô lượng trân bảo ban cho người nghèo cùng, thảy được đầy đủ. Lại phép nữa: Nếu người trì chú, cầu các món trí, cầu các món tuệ, chỉ tụng chú mười vạn biến tự được các món đại trí tuệ và các thứ thiện mỹ, biện tài trôi chảy, tùy ý mà được, chỗ cần dùng ấy thảy đều ban cho.

Nếu người trì chú cầu các thứ trân bảo, ma ni như ý châu v.v… chỉ chí tâm tụng này, tùy theo nhiều ít, ra liền ban cho họ, được mãn sở nguyện.

Nếu muốn trị lành người bịnh, thì nên kiết ấn Ðốn bịnh (trước lấy tay trái, ngón trỏ, ngón giữa quấn lại với nhau) kiết ấn như vậy, chú 108 biến, lấy ấn Ðốn bịnh này quơ quơ bảy lần dưới người bịnh, người ấy liền mạnh.

Nếu trị bịnh người sắp chết, trước kiết ấn Cấm ngũ lộ, sau mới trị tức bịnh liền dứt. Ấn này cũng giống như trước, chỉ khác là ngón vô danh co vào trong lòng bàn tay, ngón út thẳng ra, chú một trăm biến, bịnh liền lành.

Nếu trị bịnh tà, chỉ ở bên đầu người bệnh, xông An tức hương, tụng chú thì bịnh liền lành.

Nếu trị bịnh trùng độc, viết tên họ của người ấy trên giấy, tụng chú thì bịnh liền lành.

Trị bịnh tinh mị cũng như pháp trước mà trừ.

Nếu trị bịnh nằm liên miên, viết tên họ người bịnh cùng tên họ của con quỷ làm bịnh, vùi dưới giường tụng chú, con quỷ theo tên họ mà hiện hình, khiến quỷ ấy nói việc ba đời mỗi mỗi hướng về người bịnh mà nói thì bịnh liền lành.

Nếu có bịnh thời khí, thấy vị Sư trì chú này thì bịnh liền lành.

Nếu muốn khiến Hành bịnh Quỷ vương, không vào địa giới của mình thì vào mười ngày trai (thập trai) tụng chú của tôi 1.008 biến, năng trừ vạn dặm bịnh hoạn.
(còn tiếp)

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
III. UẾ TÍCH KIM CANG CẤM BÁCH BIẾN PHÁP KINH
Bắc Thiên Trúc, Sa môn Tam Tạng A-chất-đạt-tản truyền sang từ đời Ðường.
Ngài Vô Năng Thắng Tướng dịch Phạn ra Hán.
Sa môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.


Bấy giờ, Ngài Kim Cang lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành, người gái tín nào trì chú của con mà vô hiệu nghiệm thì không có lẽ đó.

Muốn khiến núi sập, lấy ba mươi lít hạt cải trắng, lấy An tất hương loại tốt, vì nghi trong núi ấy có vật báu, lấy một dao thép bén, búa bốn hướng của núi ấy, làm giới hạn lấy một cái khăn sạch, một cái lư hương xông An tất hương, trước tụng chú 1.008 biến, lấy hạt cải trắng rải khắp bốn phía cho đến bảy lần, làm phép ấy thì núi liền sập. Nếu có của báu trong đó thì vị thần giữ kho liền bỏ kho báu mà đi, tha hồ lượm lấy.

Nếu muốn khiến biển khô nước, trước tiên chú 1.008 biến, lấy vàng hoặc đồng làm thành hình con rồng, quăng xuống biển, nước biển liền khô cạn.

Nếu muốn khiến nước sông, suối chảy ngược, lấy An tất hương nắn thành hình con voi, không luận lớn nhỏ, ném xuống nước chú 108 biến, tức nước liền chảy ngược. Muốn khiến chảy lại như cũ, tụng chú trong hòn đá sạch, quăng xuống nước, thì nước chảy như xưa.

Nếu có chớp nháy, sấm sét, rồng độc làm bão lụt mưa gió liền kết ấn Chỉ Lôi Ðiện (lấy tay trái, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út, co vào trong lòng bàn tay, thẳng ngón cái ra, nắm trên tiết thứ nhất của ngón trỏ) tụng chú mà chú đó, quơ quơ về hướng ấy, sấm sét liền hết.

Nếu muốn khiến hết thảy Quỷ thần đến hàng phục để sai sử, lấy ba mươi lít nước đổ vào cái bát bằng đồng, lấy vôi sạch rải chung quanh rồi kiết ấn Giáo Nhiếp Lục (lấy hai ngón vô danh co vào trong lòng bàn tay, dựa lưng của hai ngón tay ấy vào nhau, hai ngón tay giữa chạm đầu lại, hai ngón trỏ và hai ngón út xòe ra như hoa nở, hai ngón tay cái vịn tiết giữa của hai ngón trỏ) kiết ấn như vậy thầm niệm chú 108 biến, thì các loại ác quỷ trong thế giới đều vân tập, tự hiện thân hình, bỏ tâm ác độc, làm theo người sai khiến.

Nếu cấm núi không cho các loại đến, tụng chú 100 biến, kêu lớn ba tiếng, liền kiết ấn Nghiệp Sơn (lấy tay phải, ngón vô danh co trong lòng bàn tay, ngón trỏ, ngón giữa, ngón cái, tất cả các ngón đều thẳng ra) hướng lên trên tụng chú bảy biến, liền lui ra sau bảy bước rồi mới ấn lên núi ấy, thì ở trong núi tất cả chim, thú v.v… liền rời khỏi núi. Nếu kiết ấn này, chú bảy biến hướng lên hư không ấn 21 lượt thì trên hư không mảy trần không qua lọt.

Nếu muốn khiến người không nói được, trước viết tên họ của người ấy bỏ vào trong miệng mình ngậm lại, thì người ấy miệng không nói được, nhả ra liền nói được.

Nếu tụng tất cả chú khác, trước phải làm đàn, còn tụng chú này của tôi (Kim Cang) thì khỏi làm đàn, chỉ lấy gỗ đẽo một cái chày Kim Cang đem để nơi trong tháp Phật, hoặc trong tịnh thất, dùng các hương thơm cúng dường thoa đất, tùy theo chày lớn nhỏ, nên cần các thứ hương hoa cúng dường, để chày trong đàn, tụng chú 108 biến thì cái chày ấy liền tự động hoặc biến hiện các vật lạ, không lấy gì làm ngạc nhiên, sợ hãi.
Lại nữa! Tụng chú 108 biến thì cái chày ấy tự nhích lên ba thước rồi lại năm, sáu, bảy thước cho đến một trượng trở lại.

Người trì pháp này, liền quỳ xuống quy y sám hối, phát lời nguyện, thì ta ở trong ấy liền hiện chơn hình, tùy theo ý của người đó làm theo khiến cho họ các sở nguyện mau được như ý. Tôi liền thọ ký cho họ được đắc quả Bồ Đề, liền được thân tâm giải thoát. Trước trì tụng mười vạn biến cho đầy đủ vậy, sau mới làm các phép tắc, nếu chưa đủ túc số như vậy thì không được hiệu nghiệm.

Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang nói Thần chú này rồi, đại chúng đồng khen rằng: Hay thay Đại lực sĩ, Ngài hay nói pháp đại nhiệm mầu này, thật là tối thượng, khiến cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát.

Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang liền bạch đại chúng rằng: Các vị phải biết, đối với pháp của tôi mà lưu hành đến chỗ nào, tôi và tất cả đại thần Kim Cang thường theo gia hộ cho người trì pháp này, trợ giúp cho họ mau được thành tựu.

Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang lại nói nữa rằng: Nếu có chúng sanh nào thọ trì pháp này, tôi liền hiện thân trước người ấy làm cho họ sở cầu được như nguyện. Tôi cũng ban cho họ được các phép hóa hiện, các thứ thần thông, không bị chướng ngại, nhưng phải thường niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta, tôi thường theo đến đó, khiến cho tất cả các pháp đều được thành tựu.

Bấy giờ ngài Kim Cang tiếp nói các phù ấn sau đây:

ẤN PHÁP ĐỆ NHỊ

an phan de nhi.JPG

Ấn này khắc vuông một tấc tám phân, chú một ngàn biến, dùng bạch giao hương thoa. Ngày khắc ấn này không được cho người thấy.
Dùng ấn in nơi Tâm (ngực) thì được Tâm trí, Tự nhiên trí, Túc mạng trí. Trì ấn này trong một trăm ngày, liền được các Đại pháp môn.

an phap de nhi 2.JPG

Ấn này khắc vuông một tấc hai phân, chú sáu trăm biến, lấy An tất hương thoa đeo nơi thân.
Khiến tất cả mọi người thấy mình đều vui mừng, được đại tự tại, xa lìa vĩnh viễn các khổ.

an phap de nhi 3.JPG

Ấn này khắc vuông một tấc năm phân, chú sáu trăm biến, lấy Bạch giao hương thoa.
Dùng Ấn, in dưới lòng bàn chân, liền bay được lên hư không, tùy ý mà bay đến các hướng.

an phap de nhi 4.JPG

Ấn này khắc vuông một tấc tám phân, dùng Bạch giao hương thoa, chú bảy ngàn biến.
Dùng ấn, in nơi chân, có thể ngày đi ba trăm vạn dặm, người không thấy được.
CƯỚC CHÚ: Bốn Ấn vuông trên đã đo đúng, thước tấc của Tàu. Quý vị tu trì cứ nương đây làm khuôn mẫu.


THẦN BIẾN DIÊN MẠNG PHÁP

than bien dien mang phap 1.JPG

Người bị bịnh liên miên, viết bùa này nơi tim (ngực) họ, thì bịnh liền lành.
Đại Kiết cấp cấp như Luật lịnh.

than bien dien mang phap 2.JPG

Đau tim viết Bùa này lập tức liền trừ lành.
Đại Kiết lợi cấp cấp như Luật lịnh.
Trước tụng chú bảy biến.

than bien dien mang phap 3.JPG

Bịnh Quỷ, lấy màu đỏ viết cho uống đó.

than bien dien mang phap 4.JPG

Người bị bịnh Tinh Mị Quỷ, lấy màu đỏ, viết bảy lá lớn cho uống, liền lành, rất thần nghiệm.

than bien dien mang phap 5.JPG

Nếu người làm pháp này, lấy vải sa tanh trắng (một trượng bảy) 10m7 tấc, đem giặt cho thật trắng, để trong Đại Luân Thế Giới (Quả Địa Cầu). Khiến người sống lâu 70 tuổi. Nếu không có người làm được vậy, thì ở trong chính giữa sân nhà, đào đất bảy thước, chôn vải ấy thì được thông minh, tăng trưởng trí tuệ, biện tài vô ngại.

7 chu bua.JPG

Bảy chữ Bùa này có công năng trị vạn bịnh, viết mà uống đó, khiến cho người sống lâu, tăng trưởng trí tuệ rất đại thần nghiệm.

7 chu bua 2.JPG

Bảy chữ Bùa trên, nếu có cầu các thứ trân bảo, dùng màu đỏ viết Bùa này uống, cho mãn bảy ngày, thì có các thứ trân bảo tự nhiên đem đến. Nếu cầu tài vật của người, viết tên họ người ấy để dưới bùa này, thì người kia liền đem tài vật dâng đến.

3 chu bua.JPG

Ba chữ Bùa trên, dùng màu đỏ viết, dán trên bốn chân giường, thì thường có tám vị Đại Kim Cang theo gia hộ, không tạm bỏ rời. Nhưng phải uy nghiêm, thanh tịnh, không được cho các vật ô uế vào phòng, phải cẩn thận dè dặt đó.

7 chu bua 3.JPG

Bảy chữ Bùa này, dùng màu đỏ viết trên giấy, uống một ngàn cái (vò viên bằng múi cam) khiến người sống lâu, ngang bằng Trời Đất. Khi làm phép này, không được cho người thấy.

7 chu bua 4.JPG

Bảy chữ Bùa trên, nếu có người bị các thứ bịnh, viết Bùa này uống đều được trị lành. Nếu người viết bùa này uống đó, thì được sống lâu, tăng trưởng trí tuệ, rất đại thần nghiệm vậy.

bua 1.JPG

Khi có nạn lửa lớn bốc cháy, viết chữ Bùa này ném vào đó, tụng chú 108 biến, hướng có nạn lửa ấy tự nhiên tắt.

bua 2.JPG

Khi có gió lửa ác nổi lên (bão lửa), viết bùa này, chú 108 biến, ném vào hướng có gió đó thì ác kia liền diệt.

bua 3.JPG

Khi có nước lớn nổi lên, viết bùa này ném vào trong nước lớn đó, lập tức dứt nước chảy, không làm chìm người được.

bua 4.JPG

Khi có mưa lụt lớn, viết bùa này, chú 108 biến, ném vào hướng có mưa đó, lập tức liền đình lại.

bùa 5.JPG

Dùng màu đỏ viết Bùa này, uống ba lá thì mới có thể viết bùa cho người khác, tức có linh nghiệm.
Nếu không làm như vậy, dùng các Bùa đều vô hiệu nghiệm.


Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang nói pháp này rồi đại chúng thêm phần vui mừng, cùng chư Thiên Long, Đại Quỷ Thần v.v… vâng lời dạy mà làm lễ lui về.

(còn tiếp)
Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
IV. KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI.
Đời Đường, Sa môn Dà-Phạm Đạt-mạ, người xứ Tây Thiên Trúc dịch.

Như thế tôi nghe, một thời, đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự nơi đạo tràng Bảo Trang Nghiêm, trong cung điện của Quán Thế Âm Bồ Tát ở tại non Bổ-đà-lạc-ca, đức Phật ngồi nơi tòa sư tử, tòa này trang nghiêm thuần bằng vô lượng ngọc báu tạp ma ni, xung quanh treo vây nhiều tràng phan bá bảo.

Khi ấy, đức Như Lai ở trên pháp tòa, sắp muốn diễn nói môn Tổng trì Ðà-ra-ni, có vô lượng số Bồ Tát Ma-ha-tát câu hội. Các vị ấy là: Tổng Trì Vương Bồ Tát, Bảo Vương Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát... Những vị Bồ Tát như thế đều là bậc Quán Đảnh Đại Pháp Vương Tử.

Lại có vô lượng vô số đại Thanh Văn tăng đều là bậc A-la-hán, tu hạnh Thập địa câu hội. Trong ấy, ngài Ma-ha-ca-diếp làm thượng thủ.

Lại có vô lượng Phạm-ma-la Thiên câu hội. Trong ấy, ngài Thiện Tra Phạm Ma làm thượng thủ.

Lại có vô lượng chư Thiên tử ở cõi trời Dục giới câu hội. Trong ấy, ngài Cù-bà-dà Thiên tử làm thượng thủ.

Lại có vô lượng Hộ thế tứ Thiên vương câu hội. Trong ấy, ngài Đề-đầu-lại-tra làm thượng thủ.

Lại có vô lượng Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, Nhơn, Phi Nhơn câu hội. Trong ấy, ngài Thiên Đức đại Long vương làm thượng thủ.

Lại có vô lượng chư Thiên nữ ở cõi trời Dục giới câu hội. Trong ấy, ngài Đồng Mục Thiên nữ làm thượng thủ.

Lại có vô lượng Thần Hư không, Thần Giang hải, Thần Tuyền nguyên, Thần Hà chiểu, Thần Dược thảo, Thần Thọ lâm, Thần xá trạch, Thần cung điện, cùng Thủy thần, Hỏa thần, Địa thần, Phong thần, Thổ thần, Sơn thần, Thạch thần v.v… đều đến tập hội.

Bấy giờ, đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong đại hội, mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát độ và cõi tam thiên đại thiên thế giới này đều thành sắc vàng. Từ Thiên cung, Long cung cho đến cung điện của các vị tôn thần thảy đều chấn động. Biển cả, sông, nguồn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, cùng thổ sơn, hắc sơn, cũng đều rung động dữ dội. Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, châu báu và lửa đều bị ánh kim quang rực rỡ kia lấn át làm cho ẩn mất không hiện.

Lúc đó, ngài Tổng Trì Vương Bồ Tát thấy tướng trạng hy hữu ấy, lấy làm lạ cho là việc chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, dùng lời kệ hỏi Phật, để biết tướng thần thông kia do ai làm ra, kệ rằng:

Ai thành Chánh giác trong ngày nay?
Khắp phóng ánh sáng như thế này.
Mười phương sát độ thành sắc vàng,
Cả cõi đại thiên cũng như vậy.
Ai được tự tại trong ngày nay?
Phô diễn thần lực ít có này.
Không ngằn cõi Phật đều rung động,
Cung điện Long thần cũng long lay.
Sức thần thông này ai làm ra,
Là ánh quang minh đấng Phật-đà,
Là của Bồ Tát, đại Thanh Văn,
Hay trời Đế Thích, cùng Phạm ma?
Nay trong chúng hội đều sanh nghi,
Chẳng biết đây là nhân duyên gì?
Muốn cầu hiểu rõ, tâm thành kính,
Hướng trông về ngôi đại từ bi.

Đức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ Tát:

“Thiện nam tử! Các ông nên biết trong pháp hội này, có vị Bồ Tát Ma-ha-tát, tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ bi, lại khéo tu tập vô lượng Đà-ra-ni môn. Vị Bồ Tát ấy vì muốn làm cho chúng sanh được lợi ích an vui, nên mới mật phóng sức thần thông như thế.”

Đức Như Lai vừa nói lời ấy xong, Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay hướng về Phật mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con có chú Đại Bi tâm Đà-ra-ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng tất cả công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.”

Đức Phật bảo: “Thiện nam tử! Ông có tâm đại từ bi, muốn nói thần chú để làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc hợp thời, vậy ông nên mau nói ra, Như Lai tùy hỷ, chư Phật cũng thế.”

Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật:
"Bạch đức Thế Tôn! Con nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai. Đức Phật ấy vì thương nghĩ đến con và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni. Ngài lại dùng tay sắc vàng xoa nơi đầu con mà bảo: “Thiện nam tử! Ông nên thọ trì tâm chú này, và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi nước ở đời vị lai, mà làm cho họ được sự an vui lớn.”

Lúc đó con mới ở ngôi Sơ địa, vừa nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ Bát địa. Bấy giờ con rất vui mừng, liền phát thệ rằng: “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn tay ngàn mắt.” Khi tôi phát thệ rồi, thì ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân. Lúc ấy, cõi đất mười phương rung động sáu cách, ngàn Đức Phật trong mười phương đều phóng ánh quang minh soi đến thân con, và chiếu sáng khắp mười phương vô biên thế giới.

Từ đó về sau, con ở trong vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, lại được nghe và thọ trì môn Đà-ra-ni này. Mỗi lần nghe xong, con khôn xiết vui mừng, liền được vượt qua sự sanh tử vi tế trong vô số ức kiếp. Và từ ấy đến nay, con vẫn hằng trì tụng chú này, chưa từng quên bỏ. Do sức trì tụng ấy, tùy theo chỗ sanh, con không còn chịu thân bào thai, được hóa sanh nơi hoa sen, thường gặp Phật nghe pháp.

Nếu có vị Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di hay đồng nam, đồng nữ nào, muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh, và sau đây y theo con mà phát nguyện:

Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả pháp.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt trí tuệ.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền Bát nhã.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được qua biển khổ.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được giới định đạo.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết Bàn.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi,
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi địa ngục,
Ðịa ngục liền mau tự tiêu tan.
Nếu con hướng về loài ngã quỷ,
Ngã quỷ liền được tự no đủ.
Nếu con hướng về chúng Tu-la,
Tu-la tâm ác tự điều phục.
Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh tự được trí tuệ lớn.

Khi phát lời nguyện ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của con, lại chuyên niệm danh hiệu Bổn sư của con Đức A Di Đà Như Lai, kế đó tiếp tụng Đà-ra-ni thần chú này. Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử.”


Ngài Quan Thế Âm Bồ-tát
Thiên Thủ Thiên Nhãn


Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật:
“Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, con thề không thành Chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về cõi Phật, con thề không thành Chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài con thề không thành Chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-ra-ni, duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành. Nếu các người nữ chán ghét thân nữ, muốn được thân nam, tụng trì thần chú Đại Bi, như không chuyển nữ thành nam, con thề không thành Chánh giác.

Như kẻ nào tụng trì chú này, nếu còn sanh chút lòng nghi, tất không được toại nguyện. Nếu chúng sanh nào xâm tổn tài vật, thức ăn uống của thường trụ21 sẽ mang tội rất nặng, do nghiệp ác ngăn che, giả sử ngàn Đức Phật ra đời cũng không được sám hối, dù có sám hối cũng không trừ diệt. Nếu đã phạm tội ấy, cần phải đối mười phương Ðạo sư sám hối, mới có thể tiêu trừ. Nay do tụng trì thần chú Đại Bi liền được trừ diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng chú Đại Bi tâm Đà-ra-ni, mười phương Ðạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Chúng sanh nào tụng chú này, tất cả tội thập ác ngũ nghịch, báng pháp, báng người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ, làm nhơ phạm hạnh, bao nhiêu tội ác nghiệp nặng như thế đều được tiêu hết, duy trừ một việc: kẻ tụng đối với chú còn sanh lòng nghi. Nếu có sanh tâm ấy, thì tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu, huống chi tội nặng! Nhưng tuy không liền diệt được tội nặng, cũng có thể làm nhân Bồ Đề về kiếp xa sau.


Tây Phương Giáo Chủ
Đức Phật A-di-đà


Bạch đức Thế Tôn! Nếu các hàng trời, người tụng trì thần chú Đại Bi, thì không bị mười lăm việc chết xấu, sẽ được mười lăm chỗ sanh tốt.

–Thế nào là mười lăm việc chết xấu?
Không bị chết do đói khát khốn khổ.
Không bị chết do gông tù đánh đập.
Không bị chết vì oan gia thù địch.
Không bị chết giữa quân trận chém giết nhau.
Không bị chết do cọp sói cùng ác thú tàn hại.
Không bị chết bởi rắn rít độc cắn.
Không bị chết vì nước trôi lửa cháy.
Không bị chết bởi phạm nhằm thuốc độc.
Không bị chết do loài sâu trùng độc làm hại.
Không bị chết vì điên cuồng mê loạn.
Không bị chết do té cây, té xuống núi.
Không bị chết bởi người ác trù ếm.
Không bị chết bởi tà thần, ác quỷ làm hại.
Không bị chết vì bịnh ác lâm thân.
Không bị chết vì phi mạng tự hại.

Tụng trì thần chú Đại Bi, không bị mười lăm việc chết xấu như thế.

–Sao gọi là mười lăm chỗ sanh tốt?
Tùy theo chỗ sanh, thường gặp đấng Quốc vương hiền lành.
Tùy theo chỗ sanh, thường ở cõi nước an lành.
Tùy theo chỗ sanh, thường gặp thời đại tốt,
Tùy theo chỗ sanh, thường gặp bạn lành.
Tùy theo chỗ sanh, thân căn thường được đầy đủ.
Tùy theo chỗ sanh, đạo tâm thuần thục.
Tùy theo chỗ sanh, không phạm cấm giới.
Tùy theo chỗ sanh, thường được quyến thuộc hòa thuận, có ân nghĩa.
Tùy theo chỗ sanh, vật dụng, thức ăn uống thường được đầy đủ.
Tùy theo chỗ sanh, thường được người cung kính giúp đỡ.
Tùy theo chỗ sanh, tiền của châu báu không bị kẻ khác cướp đoạt.
Tùy theo chỗ sanh, những việc mong cầu đều được toại nguyện.
Tùy theo chỗ sanh, Long Thiên, thiện thần thường theo ủng hộ.
Tùy theo chỗ sanh, thường được thấy Phật nghe pháp.
Tùy theo chỗ sanh, khi nghe chánh pháp ngộ giải nghĩa sâu.

Nếu kẻ nào trì tụng chú Đại Bi, sẽ được mười lăm chỗ sanh tốt như thế! Cho nên tất cả hàng trời, người, đều nên thường tụng trì, chớ sanh lòng biếng trễ.”

Khi đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, nở mặt mỉm cười, nói chương cú mầu nhiệm Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni rằng:

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ Đề tát đỏa bà gia. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa na ma bà tát đa. Na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát diệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha Bồ Đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê, ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô, yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô rô hô rô, ma ra. Hô rô hô rô hê lỵ. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ Đề dạ, Bồ Đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế lỵ dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dũ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết a ra tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ. Ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha. Án, tất diện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha.


Bồ Tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, Thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc, tất cả chúng hội đều được quả chứng. Hoặc có vị chứng quả Tu-đà-hoàn, có vị chứng quả Tư-đà-hàm, hoặc có vị chứng quả A-na-hàm, có vị chứng quả A-la-hán, hoặc có vị chứng được Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa, Ngũ địa cho đến Thập địa, vô lượng chúng sanh phát lòng Bồ Đề.

Khi ấy Đại Phạm Thiên vương từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay cung kính bạch với đức Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Lành thay Đại Sĩ! Từ trước đến nay, tôi đã trải qua vô lượng Phật hội, nghe nhiều pháp yếu, nhiều môn Đà-ra-ni, song chưa từng nghe nói chương cú thần diệu: Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni này. Cúi xin Đại sĩ vì tôi, nói hình trạng tướng mạo của Đà-ra-ni ấy. Tôi và đại chúng đều ưa thích muốn nghe.”

Quán Thế Âm Bồ Tát bảo Phạm vương: “Ông vì phương tiện lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên hỏi như thế. Nay ông khéo nghe, tôi sẽ vì các ông mà nói lược qua. Này Phạm vương! Những tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm chẳng nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm nhường, tâm không tạp loạn, tâm không chấp giữ, tâm Vô thượng Bồ Đề, nên biết các thứ tâm ấy đều là tướng mạo của môn Đà-ra-ni này. Vậy, ông nên y theo đó mà tu hành.”

Phạm vương thưa: “Tôi và đại chúng hôm nay mới hân hạnh được biết tướng mạo của môn Đà-ra-ni này, từ đây chúng tôi xin thọ trì chẳng dám lãng quên.”

Bồ Tát lại nói tiếp: “Nếu kẻ thiện nam, thiện nữ nào tụng trì thần chú này, phải phát tâm Bồ Đề rộng lớn, thề độ tất cả muôn loài, giữ gìn trai giới, đối với chúng sanh khởi lòng bình đẳng, và thường nên trì tụng chớ cho gián đoạn. Lại nên ở nơi tịnh thất, tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan, đốt đèn, dùng hương hoa, cùng các thứ ăn uống để cúng dường, buộc tâm một chỗ, chớ nghĩ chi khác, y như pháp mà tụng trì. Lúc ấy, sẽ có Nhựt Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát cùng vô lượng Thần tiên đến chứng minh, giúp thêm sự hiệu nghiệm. Bấy giờ ta cũng dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ, khiến cho kẻ ấy từ đó về sau có thể hiểu suốt tất cả sách vở thế gian, thông đạt các điển tịch Vi Đà và tất cả pháp thuật ngoại đạo. Chúng sanh nào tụng trì thần chú này, có thể trị lành tám muôn bốn ngàn thứ bịnh ở thế gian, hàng phục các thiên ma, ngoại đạo, sai khiến được tất cả quỷ thần. Những kẻ tụng kinh tọa thiền ở nơi non sâu, đồng vắng, bị sơn tinh, tạp mị, các quỷ vọng lượng làm não loạn phá hoại, khiến cho tâm không an định, chỉ cần tụng chú này một biến, các quỷ thần ấy thảy đều bị trói.

Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp, khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang Mật Tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hoặc thân mạng của chính họ.”

Tiếp đó, Bồ Tát liền đọc lời kệ sắc lịnh rằng:
Ta sai Mật Tích, Kim Cang Sĩ,
Ô-sô-quân-đồ Ương-câu-thi,
Bát bộ lực sĩ, Thưởng-ca-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Ma-hê Na-la-diên,
Kim-tỳ-la-đà Ca-tỳ-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Bà-cấp Ta-lâu-la,
Mãn Thiện Xa-bát Chân-đà-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tát-giá Ma-hòa-la,
Cưu-la-đơn-tra Bán-chỉ-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tất-bà-dà-la Vương,
Ưng Đức Tỳ-la Tát-hòa-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Phạm Ma Tam-bát-la,
Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm-ma-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Thích Vương, Tam Thập Tam,
Đại Biện Công Đức Bà-đát-na,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Đề-đầu-lại-tra Vương,
Các thần Mẫu nữ, chúng Đại Lực,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tỳ-lâu-lặc-xoa Vương,
Tỳ-lâu-bác-xoa, Tỳ-sa-môn,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương,
Hai mươi tám bộ Ðại tiên chúng,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Ma-ni Bạt-đà-la,
Táng Chi đại tướng, Phất-la-bà,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Nan-đà, Bạt-nan-đà,
Bà-dà-la Long, Y-bát-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tu-la, Càn-thát-bà,
Ca-lâu, Khẩn-na, Ma-hầu-la,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Điển thần,
Cưu-bàn-trà vương, Tỳ-xá-xà,
Thường theo ủng hộ bên hành giả.

Các vị thiện thần này cùng thần Long vương, thần Mẫu Nữ đều có năm trăm Ðại lực Dạ-xoa làm quyến thuộc, thường theo ủng hộ người thọ trì thần chú Đại Bi. Nếu người đó ở nơi núi hoang, đồng vắng, ngủ nghỉ một mình, các vị thiện thần ấy thay phiên nhau canh giữ không cho tai ương, chướng nạn xâm phạm đến thân. Nếu hành giả đi trong núi sâu lạc mất đường về, tụng trì chú này, Thiện thần, Long vương hóa làm người lành chỉ đường dẫn lối. Như hành giả trụ nơi núi rừng, đồng vắng, thiếu thốn nước lửa, Long thần vì ủng hộ, hóa ra nước, lửa.”

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát lại vì người tụng chú, nói bài kệ thanh lương tiêu trừ tai họa rằng:
Hành giả đi trong núi đồng vắng,
Gặp những cọp sói, các thú dữ,
Rắn, rít, tinh mị, quỷ vọng lượng.
Tụng tâm chú này khỏi bị hại.
Nếu đi biển cả hoặc sông, hồ,
Những rồng rắn độc, loài Ma-kiệt,
Dạ-xoa, La-sát, cá, rùa lớn,
Nghe tụng chú này tự lánh xa.
Nếu bị quân trận giặc bao vây,
Hoặc gặp người ác đoạt tiền của,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Giặc cướp tự khởi lòng thương xót.
Nếu bị vua quan, quân sĩ bắt,
Gông cùm trói buộc, giam ngục tù,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Vua, quan tự mở lòng ân xá.
Nếu đi vào nhà nuôi sâu độc,
Uống ăn để thuốc muốn hại nhau,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Thuốc độc biến thành nước cam lộ,
Nữ nhơn bị nạn khi sanh sản,
Khổ vì ma quái làm ngăn cản,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Quỷ tà sợ trốn sanh an ổn,
Gặp rồng, dịch quỷ gieo hơi độc,
Nóng bức khổ đau sắp mạng chung,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Bịnh dịch tiêu trừ, mạng trường cữu,
Rồng, quỷ lưu hành bịnh thủng độc,
Ung sang lở lói nhiều khổ đau,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Khạc ra ba lần hơi độc mất.
Chúng sanh đời trược khởi lòng ác,
Trù ếm hại cho thỏa oán thù,
Chí thành xưng tụng chú Đại Bi,
Liền phản trở lại người trù ếm.
Chúng sanh cõi trược đời mạt pháp,
Lửa dâm dục thạnh, tâm điên đảo,
Ngoại tình, xa vợ, bỏ chồng con,
Ngày đêm mãi tưởng điều sai quấy,
Nếu hay xưng tụng chú Đại Bi,
Lửa dục tiêu trừ, tâm tà dứt.
Công lực Đại Bi chỉ lược qua,
Nếu ta nói hết không cùng kiếp!

Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát lại bảo Phạm vương rằng:
“Này Phạm vương! Nếu chúng sanh nào muốn tiêu trừ tai nạn ma chướng nên lấy chỉ ngũ sắc xe làm một sợi niệt, trước tiên tụng chú này năm biến, kế tụng hai mươi mốt biến, cứ tụng xong mỗi biến lại thắt một gút, rồi đeo nơi cổ hoặc bỏ nơi đãy để trong thân. Tâm chú Đại Bi đây do chín mươi chín ức hằng sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra. Các đức Phật ấy vì thương xót muốn cho người tu hành: công đức Lục độ chưa đầy đủ, mau được đầy đủ; mầm Bồ Đề chưa phát, mau được phát sanh; hàng Thanh Văn chưa chứng quả, mau được chứng quả; các vị thần tiên trong cõi đại thiên chưa phát lòng Bồ Đề, mau được phát tâm Vô Thượng Bồ Đề.

Nếu chúng sanh nào chưa được tín căn Đại Thừa, do sức oai thần của Đà-ra-ni này, hạt giống Đại Thừa tự sanh mầm và tăng trưởng; lại do sức từ bi phương tiện của ta, khiến cho sự mong cầu của họ đều được thành tựu.

Lại nữa, người trì tụng Đà-ra-ni này, khi thốt ra lời nói chi, hoặc thiện hoặc ác, tất cả Thiên ma ngoại đạo, Thiên, Long, Quỷ thần đều nghe thành tiếng pháp âm thanh tịnh, đối với kẻ ấy khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật.

Người nào trì tụng Đà-ra-ni này nên biết người ấy chính là tạng Phật thân, vì chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật đều yêu quý. Nên biết người ấy chính là tạng quang minh, vì ánh sáng của tất cả Như Lai đều chiếu đến nơi mình. Nên biết người ấy chính là tạng từ bi, vì thường dùng Đà-ra-ni cứu độ chúng sanh. Nên biết người ấy chính là tạng diệu pháp, vì nhiếp hết tất cả các môn Đà-ra-ni. Nên biết người ấy chính là tạng thiền định vì trăm ngàn Tam muội thảy đều hiện tiền. Nên biết người ấy chính là tạng hư không, vì hằng dùng không huệ quán sát chúng sanh. Nên biết người ấy chính là tạng vô úy, vì Thiên, Long, Thiện thần thường theo hộ trì. Nên biết người ấy chính là tạng diệu ngữ, vì tiếng Đà-ra-ni trong miệng tuôn ra bất tuyệt. Nên biết người ấy chính là tạng thường trụ, vì tam tai ác kiếp không thể làm hoại. Nên biết người ấy chính là tạng giải thoát, vì thiên ma ngoại đạo không thể bức não. Nên biết người ấy chính là tạng dược vương, vì thường dùng Đà-ra-ni trị bịnh chúng sanh. Nên biết người ấy chính là tạng thần thông, vì được tự tại dạo chơi nơi mười phương cõi Phật. Công đức người ấy khen ngợi không thể cùng!”

- Này thiện nam tử! Chúng sanh nào nghe danh tự của môn Đà-ra-ni này còn được tiêu diệt tội nặng sanh tử trong vô lượng kiếp, huống chi là tụng trì? Nếu người nào được thần chú này mà tụng trì, phải biết kẻ ấy đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, gieo nhiều căn lành.

Nếu kẻ nào tụng trì đúng pháp, lại có thể vì chúng sanh dứt trừ sự khổ nạn, nên biết người ấy là bậc có đủ tâm đại bi, không bao lâu nữa sẽ thành Phật. Cho nên, hành giả khi thấy mọi loài, đều nên vì chúng tụng chú này, khiến cho chúng được nghe để cùng gây nhân Bồ Đề, thì sẽ được vô lượng, vô biên công đức.

Nếu kẻ hành trì khéo giữ gìn trai giới, dụng tâm tinh thành, vì tất cả chúng sanh sám hối tội nghiệp đời trước, tự mình cũng sám hối những ác nghiệp đã gây ra từ vô lượng kiếp đến nay, nơi miệng rành rẽ tụng Đà-ra-ni này tiếng tăm liên tiếp không dứt, thì trong đời hiện tại liền chứng được bốn đạo quả của bậc Sa-môn. Nếu là hạng lợi căn, có phương tiện Tuệ quán thì quả vị Thập địa còn chứng được không lấy gì làm khó, huống chi là những phước báo nhỏ nhặt ở thế gian. Những việc như thế, nếu có mong cầu, đều được toại nguyện.

Đức Phật lại gọi ngài A-nan mà bảo:
- Này A-nan! Khi trong một nước có tai nạn nổi lên, nếu muốn được an ổn, vị quốc vương ở xứ ấy phải biết dùng chánh pháp trị dân, có độ lượng khoan hồng, không làm oan uổng trăm họ, tha kẻ tù phạm, và giữ thân tâm tinh tấn đọc tụng chú này. Hành trì như thế luôn bảy ngày đêm, thì trong cõi nước ấy tất cả tai nạn thảy đều tiêu tan, ngũ cốc phong thạnh, dân chúng được an vui.

Lại trong một xứ, nếu gặp những tai ương dồn dập như: bị nước nghịch đem binh xâm lấn, dân tình rối loạn không yên, quan đại thần mưu phản, bịnh dịch lưu hành, mưa nắng trái thời hoặc nhựt, nguyệt sai độ v.v...

Muốn diệt các thứ tai nạn ấy, vị quốc vương phải lập đàn tràng, tạo tượng Thiên Nhãn Đại Bi để day mặt về phương Tây, sắm các thứ hương, hoa, tràng phan, bảo cái, hoặc trăm thức ăn uống mà cúng dường, rồi dùng thân tâm tinh tấn, đọc tụng chương cú thần diệu. Hành trì như thế đúng bảy ngày thì nước giặc quy hàng, chánh tình yên ổn, lân bang hòa hảo thương mến lẫn nhau, trong triều từ vương tử cho đến trăm quan đều hết dạ trung thành, nơi cung vi phi tần, thể nữ khởi lòng hiếu kính đối với vua, các Thiên, Long, Quỷ thần đều ủng hộ trong nước khiến cho mưa gió thuận mùa, hoa quả tốt, nhân dân vui đẹp.

Lại nếu trong nhà có những tai nạn như ma quái nổi dậy, quyến thuộc đau nặng, tiền của hao mòn, gia đình rối loạn, người ác gieo tiếng thị phi hoặc vu khống để hãm hại, cho đến trong ngoài lớn nhỏ chẳng hòa thuận nhau. Muốn diệt những tai nạn ấy, gia chủ phải lập đàn tràng, hướng về tượng Thiên Nhãn, chí tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và tụng Đà-ra-ni này đủ ngàn biến, thì tất cả các việc xấu như trên thảy đều tiêu diệt, gia đình được vĩnh viễn an vui.

Ngài A-nan lại bạch Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Chú này tên gọi là chi? Con nên thọ trì như thế nào?

Đức Phật bảo:
- Thần chú này có những tên như sau:
Quảng Đại Viên Mãn Đà-ra-ni.
Vô Ngại Đại Bi Đà-ra-ni.
Cứu Khổ Đà-ra-ni.
Diên Thọ Đà-ra-ni.
Diệt Ác Thú Đà-ra-ni.
Phá Ác Nghiệp Chướng Đà-ra-ni.
Mãn Nguyện Đà-ra-ni.
Tùy Tâm Tự Tại Đà-ra-ni.
Tốc Siêu Thánh Địa Đà-ra-ni.
Ông nên y như thế mà thọ trì.

Ngài A-nan lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vị Bồ Tát Ma-ha-tát, bộ chủ của thần chú này, tôn hiệu là chi, mà khéo nói môn Đà-ra-ni như thế?

Đức Phật bảo:
- Vị Bồ Tát ấy hiệu là Quán Thế Âm Tự Tại, cũng tên là Nhiên Sách, cũng gọi là Thiên Quang Nhãn.

- Này thiện nam tử! Quán Thế Âm Bồ Tát thần thông oai lực không thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp về trước đã từng thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì nguyện lực đại bi, vì muốn làm duyên phát khởi cho tất cả các hàng Bồ Tát, vì muốn an vui thành thục cho chúng sanh, ngài mới giáng tích hiện làm Bồ Tát. Vậy ông và đại chúng, các hàng Bồ Tát Ma-ha-tát, Phạm vương, Đế Thích, Long thần đều nên cung kính, chớ sanh lòng khinh mạn xem thường. Nếu tất cả hàng trời, người thường xưng niệm, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ được vô lượng phước, diệt vô lượng tội, khi mạng chung sanh về cõi nước của Phật A Di Đà.

Đức Phật bảo ngài A-nan:
- Thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát nói ra đây, chân thật không dối. Nếu muốn thỉnh Bồ Tát đến, nên tụng chú vào hương chuyết-cụ-la hai mươi mốt lần rồi đốt lên, Quán Thế Âm Bồ Tát liền đến (chuyết-cụ-la chính là An tức hương).

Đức Phật lại bảo ngài A-Nan:
- Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hành tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh. Đó cũng do tâm Đại bi của vị Đại sĩ ấy hóa hiện.

1. Nếu chúng sanh nào muốn được giàu lớn, có nhiều thứ châu báu, đồ dùng, nên cầu nơi tay cầm châu như ý.
Chân ngôn rằng: Án, phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.
tayQA1.JPG


2. Nếu muốn trị các thứ bịnh trên thân, nên cầu nơi tay cầm cành dương liễu.
Chân ngôn rằng: Án tô tất địa, ca rị phạ rị, đa nẫm đa, mục đa duệ, phạ nhựt ra, phạ nhựt ra bạn đà, hạ nẵng hạ nẵng, hồng phấn tra.
tayQA2.JPG


3. Nếu muốn trị các chứng bịnh trong bụng, nên cầu nơi tay cầm cái bát báu.
Chân ngôn rằng: Án, chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt ra, hồng phấn tra.
tayQA3.JPG


4. Nếu muốn trị bịnh mắt mờ không thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm châu nhựt tinh ma ni.
Chân ngôn rằng: Án, độ tỉ, ca giả độ tỉ, bát ra phạ rị nảnh, tát phạ hạ.
tayQA4.JPG


5. Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi tay cầm cây Bạt-chiết-la.
Chân ngôn rằng: Án nễ bệ nễ bệ, nễ bà dã, ma ha thất rị duệ, tát phạ hạ.
tayQA5.JPG


6. Nếu muốn hàng phục tất cả oán giặc, nên cầu nơi tay cầm chày Kim cang.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, chỉ nảnh, bát ra nễ bát đa dã, tát phạ hạ.
tayQA6.JPG


7. Nếu muốn trừ tánh ở tất cả chỗ sợ hãi không yên, nên cầu nơi tay thí vô úy.
Chân ngôn rằng: Án, phạ nhựt ra, nẵng dã, hồng phấn tra.
tayQA7.JPG


8. Nếu bị các việc khuấy rối, muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm dây quyên sách.
Chân ngôn rằng: Án chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
tayQA8.JPG


9. Nếu bị bịnh nhiệt độc, muốn được mát mẻ hết bịnh, nên cầu nơi tay cầm châu Nguyệt tinh ma ni.
Chân ngôn rằng: Án tô tất địa yết rị, tát phạ hạ.
tayQA9.JPG


10. Nếu muốn được mau gặp các bạn lành, nên cầu nơi tay cầm tên báu.
Chân ngôn rằng: Án ca mạ lã, tát phạ hạ.
tayQA10.JPG


11. Nếu muốn hàng phục tất cả quỷ, thần, vọng, lượng, nên cầu nơi tay cầm gươm báu.
Chân ngôn rằng: Án đế thế, đế nhá, đổ vĩ nảnh, đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.
tayQA11.JPG


12. Nếu muốn trừ những chướng nạn ác bên thân, nên cầu nơi tay cầm cây phất trắng.
Chân ngôn rằng: Án bát na di nảnh, bà nga phạ đế, mô hạ dã nhá, nga mô hạ nảnh, tát phạ hạ.
tayQA12.JPG


13. Nếu muốn tất cả người trong quyến thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm cái hồ bình.
Chân ngôn rằng: Án yết lệ, thảm mãn diệm, tát phạ hạ.
tayQA13.JPG


14. Nếu muốn xua đuổi loài hổ báo, sài lang và tất cả ác thú, nên cầu nơi tay cầm cái bàng bài.
Chân ngôn rằng: Án dược các sam nẵng, na dã chiến nại ra, đạt nậu bá rị dã, bạt xá bạt xá, tát phạ hạ.
tayQA14.JPG


15. Nếu muốn trong tất cả thời, tất cả chỗ, lìa nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm cây phủ việt.
Chân ngôn rằng: Án vị ra dã, vị ra dã, tát phạ hạ.
tayQA15.JPG


16. Nếu muốn có tôi trai tớ gái để sai khiến, nên cầu nơi tay cầm chiếc vòng ngọc.
Chân ngôn rằng: Án bát na hàm, vị ra dã, tát phạ hạ.
tayQA16.JPG


17. Nếu muốn được các thứ công đức, nên cầu nơi tay cầm hoa sen trắng.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, vị ra dã, tát phạ hạ.
tayQA17.JPG


18. Nếu muốn được sanh về mười phương tịnh độ, nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh.
Chân ngôn rằng: Án chỉ rị, phạ nhựt ra, bộ ra bạn đà, hồng phấn tra.
tayQA18.JPG


19. Nếu muốn được trí tuệ lớn, nên cầu nơi tay cầm cái gương báu.
Chân ngôn rằng: Án vĩ tát phổ ra, na ra các xoa, phạ nhựt ra, mạn trà lã, hồng phấn tra.
tayQA19.JPG


20. Nếu muốn được diện kiến mười phương tất cả chư Phật, nên cầu nơi tay cầm hoa sen tím.
Chân ngôn rằng: Án tát ra tát ra, phạ nhựt ra, hồng phấn tra.
tayQA20.JPG


21. Nếu muốn lấy được kho báu ẩn trong lòng đất, nên cầu nơi tay cầm cái bảo kíp.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, bát thiết ca rị, yết nẵng hàm, ra hồng.
tayQA21.JPG


22. Nếu muốn được đạo Tiên, nên cầu nơi tay hóa hiện mây ngũ sắc.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, ca rị ra tra hàm tra.
tayQA22.JPG


23. Nếu muốn sanh lên cõi Phạm Thiên, nên cầu nơi tay cầm bình quân trì.
Chân ngôn rằng:Án phạ nhựt ra, thế khê ra, rô tra hàm tra.
tayQA23.JPG


24. Nếu muốn được sanh lên các cung trời, nên cầu nơi tay cầm hoa sen hồng.
Chân ngôn rằng: Án thương yết lệ, tát phạ hạ.
tayQA24.JPG


25. Nếu muốn xua đuổi giặc nghịch ở phương khác đến, nên cầu nơi tay cầm cây bảo kích.
Chân ngôn rằng: Án thảm muội dã, chỉ nảnh hạ rị, hồng phấn tra.
tayQA25.JPG


26. Nếu muốn triệu tất cả chư Thiên, Thiện thần, nên cầu nơi tay cầm ống loa báu.
Chân ngôn rằng: Án thương yết lệ, mạ hạ thảm mãn diệm, tát phạ hạ.
tayQA26.JPG


27. Nếu muốn sai khiến tất cả quỷ thần, nên cầu nơi tay cầm cây gậy đầu lâu.
Chân ngôn rằng:Án độ nẵng, phạ nhựt ra xá.
tayQA27.JPG


28. Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến đưa tay tiếp dẫn, nên cầu nơi tay cầm xâu chuỗi ngọc.
Chân ngôn rằng: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dã. Án a na bà đế vĩ nhá duệ, tất địa tất đà lật thế, tát phạ hạ.
tayQA28.JPG


29. Nếu muốn có được tất cả Phạm âm thanh tốt nhiệm mầu, nên cầu nơi tay cầm chiếc linh báu.
Chân ngôn rằng: Nẵng mồ bát na hàm bá noa duệ. Án a mật lật đảm, nghiễm bệ thất rị duệ, thất rị chiếm rị nảnh, tát phạ hạ.
tayQA29.JPG


30. Nếu muốn được miệng nói biện luận hay khéo, nên cầu nơi tay cầm chiếc ấn báu.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát phạ hạ.
tayQA30.JPG


31. Nếu muốn được Thiên thần, Long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi tay cầm Cu thi thiết câu.
Chân ngôn rằng: Án a rô rô, đa ra ca ra, vĩ sa duệ. Nẵng mồ tát phạ hạ.
tayQA31.jpg


32. Nếu vì lòng từ bi muốn cho tất cả chúng sanh được nhờ sự che chở giúp đỡ, nên cầu nơi tay cầm cây tích trượng.
Chân ngôn rằng: Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế na dạ bát nảnh, hồng phấn tra.
tayQA32.jpg


33. Nếu muốn cho tất cả chúng sanh thường cung kính yêu mến nhau, nên cầu nơi tay hiệp chưởng.
Chân ngôn rằng: Án bát nạp mạng, nhá lăng hất rị. (Theo trong Tạng bản, lại có chân ngôn: Án vĩ tát ra, vĩ tát ra, hồng phấn tra).
tayQA33.jpg


34. Nếu muốn tùy theo chỗ sanh, thường ở bên Phật, nên cầu nơi tay hiện hóa Phật.
Chân ngôn rằng: Án chiến na ra, ba hàm tra rị, ca rị na, chỉ rị na, chỉ rị nỉ, hồng phấn tra.
tayQA34.jpg


35. Nếu muốn được đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không thọ sanh ở bào thai, nên cầu nơi tay hiện hóa cung điện.
Chân ngôn rằng: Án vi tát ra, vi tát ra, hồng phấn tra.
tayQA35.jpg


36. Nếu muốn được làm quan, lên chức, nên cầu nơi tay cầm cung báu.
Chân ngôn rằng: Án a tả vĩ, lệ, tát phạ hạ.
tayQA36.jpg


37. Nếu muốn được học rộng nghe nhiều, nên cầu nơi tay cầm quyển kinh báu.
Chân ngôn rằng: Án a hạ ra, tát ra phạ ni, nễ dã đà ra, bố nễ đế, tát phạ hạ.
tayQA37.jpg


38. Nếu muốn từ thân này cho đến thân thành Phật, tâm Bồ Đề thường không lui sụt, nên cầu nơi tay cầm bất thối kim luân.
Chân ngôn rằng: Án thiết na di tả, tát phạ hạ.
tayQA38.jpg


39. Nếu muốn mười phương chư Phật mau đến xoa đầu thọ ký, nên cầu nơi tay đảnh thượng hóa Phật.
Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt rị ni, phạ nhựt lãm nghệ tát phạ hạ.
tayQA39.jpg


40. Nếu muốn có được cây trái ngũ cốc, nên cầu nơi tay cầm chùm bồ đào.
Chân ngôn rằng: Án a ma lã kiếm đế nễ nảnh, tát phạ hạ.
tayQA40.jpg


41. Nếu muốn cho tất cả loài hữu tình đói khát được no đủ mát mẻ, nên cầu nơi tay hóa nước cam lộ.
Chân ngôn rằng: Án tố rô tố rô, bác ra tố rô, bác ra tố rô, tố rô tố rô dã, tát phạ hạ.
tayQA41.jpg


42. Nếu muốn hàng phục ma oán trong cõi đại thiên, nên cầu nơi tay tổng nhiếp thiên thủ.
Chân ngôn rằng: Đát nễ dã thá, phạ lồ chỉ đế, thấp phạ ra dã, tát bà đốt sắc, tra ô phạ di dã, sá phạ hạ.
tayQA42.jpg


- Này A-nan! Những việc có thể cầu mong như thế, kể có ngàn điều. Nay Ta chỉ nói lược qua chút ít phần thôi.

Khi ấy Nhựt Quang Bồ Tát vì người thọ trì Đại Bi Tâm Đà-ra-ni nói đại thần chú để ủng hộ rằng:
Nam mô bột đà cù na mê. Nam mô đạt mạ mạc ha đê. Nam mô tăng già đa dạ nê. Đế chỉ bộ tất tát đốt chiêm nạp mạ.

Nhựt Quang Bồ Tát bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này diệt được tất cả tội, cũng đuổi được ma và trừ thiên tai. Nếu kẻ nào tụng chú này một biến, lễ Phật một lạy, mỗi ngày chia ra làm ba thời tụng chú lễ Phật như thế, trong đời vị lai tùy theo chỗ thọ thân, thường được tướng mạo xinh đẹp, được quả báo đáng vui mừng.

Nguyệt Quang Bồ Tát cũng vì hành nhơn mà nói Đà-ra-ni để ủng hộ rằng:
Thâm đê đế đồ tô tra. A nhã mật đế ô đô tra. Thâm kỳ tra. Ba lại đế. Gia di nhã tra ô đô tra. Câu la đế tra kỳ ma tra. Sá phạ hạ.

Nguyệt Quang Bồ-tát lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này năm biến, rồi lấy chỉ ngũ sắc se thành niệt, gia trì chú vào, buộc tréo nơi tay, chú này do bốn mươi hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra, nay tôi cũng nói để vì các hành nhơn mà làm duyên ủng hộ. Chú này có công năng trừ tất cả chướng nạn, tất cả bệịnh ác, thành tựu tất cả pháp lành, xa lìa tất cả sự sợ hãi.

Đức Phật bảo ngài A-nan:
- Ông nên dùng lòng trong sạch tin sâu mà thọ trì môn Đại Bi Tâm Đà-ra-ni này và lưu bố rộng ra trong cõi Diêm phù đề, chớ cho đoạn tuyệt. Đà-ra-ni này có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh trong ba cõi. Tất cả bịnh khổ ràng buộc nơi thân, nếu dùng Đà-ra-ni này mà trị thì không bịnh nào chẳng lành. Dùng đại thần chú này tụng vào cây khô, cây ấy còn được sanh cành lá, trổ bông trái, huống chi là chúng sanh có tình thức ư? Nếu thân bị đau bịnh, dùng chú này trị mà không lành, lẽ ấy không bao giờ có.

- Này thiện nam tử! Sức oai thần của Đại Bi Tâm Đà-ra-ni không thể nghĩ bàn! Không thể nghĩ bàn! Khen ngợi không bao giờ hết được! Nếu chẳng phải là kẻ từ đời quá khứ lâu xa đến nay đã gieo nhiều căn lành, thì dù cho cái tên gọi còn không được nghe, huống chi là được thấy! Nay đại chúng các ông, cả hàng trời, người, long, thần, nghe Ta khen ngợi phải nên tùy hỷ. Nếu kẻ nào hủy báng thần chú này tức là hủy báng chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật kia. Nếu người nào đối với Đà-ra-ni này sanh nghi không tin, nên biết kẻ ấy sẽ vĩnh viễn mất sự lợi ích lớn, trăm ngàn muôn kiếp không bao giờ nghe thấy Phật, Pháp, Tăng, thường chìm trong tam đồ, chẳng biết bao giờ mới được ra khỏi.

Khi ấy, tất cả chúng hội, Bồ Tát Ma-ha-tát, Kim Cang, Mật Tích, Phạm vương, Đế Thích, Tứ đại Thiên vương, Thiên, Long, Quỷ, Thần, nghe đức Như Lai khen ngợi môn Đà-ra-ni này xong, thảy đều vui mừng, y lời dạy mà tu hành.

Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.