Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi oneway
Trích dẫn từ câu chuyện phụ trương của chủ đề: Lý giải nào cho những huyền bí tâm linh.
(Tích hợp giữa tư duy khoa học và chiêm nghiệm Phật học: Con đường tiếp cận huyền bí tâm linh).

Shanti Dévi sinh năm 1926 tại Delhi, Ấn Độ. Năm lên 4 tuổi, cô bé bắt đầu nói với bố mẹ những điều rất kỳ lạ rằng, ngôi nhà thật của bé là ở thành phố Mathura, nơi chồng của bé đang sống. Mới đầu cảm thấy buồn cười, nhưng không lâu sau, cha mẹ Dévi cảm thấy lo lắng cho tình trạng thần kinh của con gái. Nhưng Shanti Dévi rất thông minh và dễ mến. Suốt hai năm tiếp theo, Dévi vẫn luôn khẳng định những lời nói của mình, điều này làm cho cha mẹ cô bé khó chịu. Năm lên 6 tuổi Dévi trốn khỏi nhà và quyết định đi bộ đến Mathura, cách Delhi 150km, nhưng không thực hiện được. Một hôm Dévi giải thích cho một bạn cùng lớp rằng, cô không phải tên là Shanti Dévi mà là Lugdi Dévi, và rằng cô đã có chồng, thậm chí, còn có một con mà cô không thể chăm sóc, vì sinh con được 10 ngày thì cô chết. Cả trường học đã chế giễu Dévi. Dévi khóc tức tưởi và bỏ đi. Tuyệt vọng, cô bé lang thang rất lâu và cuối cùng đến gần một ngôi đền. Tại đây, cô bé kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho một người phụ nữ, khi bà này cố an ủi cô. Lúc này, cả gia đình hốt hoảng lo cho con gái. Bố cô bé bỏ đi tìm và cuối cùng đã tìm thấy cô. Lần này, ông đã lung lay trước sự cương quyết của con gái. Tuy nhiên, hai năm tiếp theo mọi chuyện vẫn như cũ, không có gì thay đổi. Shanti Dévi sống khép mình.

Cuối cùng, cảm thấy tò mò vì tất cả những gì người ta kể về đứa trẻ hiền lành, chăm chỉ này, thầy giáo và thầy hiệu trưởng trường cô bé học, đã đến gặp bố mẹ cô bé, với hy vọng làm sáng tỏ mọi việc. Họ đã hỏi cô bé rất lâu và cô bé đã bình tĩnh tự tin trả lời tất cả các câu hỏi của họ. Cô bé kể lại cuộc sống của mình đã trải qua ở Mathura với người chồng làm nghề buôn bán, và khẳng định rằng, cô có thể dễ dàng nhận ra người quen và các địa danh nơi đó. Trong buổi nói chuyện Dévi thường dùng các phương ngữ của vùng Mathura, mà ở đây không một ai nói. Hai ông thầy nài nỉ cô bé cho biết tên chồng. Việc cho biết tên chồng đối với một phụ nữ Ấn Độ, là một việc làm mất lịch sự và đáng xấu hổ, Dévi lưỡng lự, lấy tay che mặt và cuối cùng thì thầm cái tên “Kédar Nath”. Mặc dù bố mẹ cô bé muốn mọi người quên tất cả những chuyện này đi, nhưng ông Hiệu trưởng vẫn tiến hành điều tra ở Mathura. Và ở đó quả thật có một thương gia tên là Kédar Nath. Ông Hiệu trưởng viết một lá thư cho Nath và vài tuần sau, ông nhận được thư trả lời. Hết sức sững sờ, người thương gia khẳng định rằng 9 năm trước, vợ anh ta đã chết 10 ngày sau khi sinh ra một đứa con trai. Hẳn là người đàn ông này muốn biết thêm nhiều thông tin nữa, nhưng vì còn bán tín bán nghi, nên anh ta nhờ một người họ hàng đến Delhi để tìm hiểu sự tình. Ngay lập tức, cô bé đã nhận ra người đàn ông mà cô chưa bao giờ gặp này. Cô đón tiếp thân mật anh ta, nhận xét rằng anh ta béo lên so với trước và cảm thấy buồn khi anh ta vẫn sống độc thân. Cô bé còn hỏi han nhiều điều khác nữa. Lúc đến đây, với niềm tin sẽ lột mặt được một trò bịp bợm, người đàn ông nọ cảm thấy rất đỗi kinh ngạc. Anh ta cũng bắt đầu vặn hỏi cô bé, nhưng ngay sau đó đã phải cầu xin cô bé im lặng, vì cô bắt đầu kể chính xác, anh ta đã tán tỉnh cô như thế nào lúc chồng cô đi vắng. “Lugdi Dévi là một người phụ nữ tuyệt vời nhất thế giới, đó là một nữ thánh!”, người anh họ này kêu lên. Sau đó cô bé hỏi thăm tin tức về con trai mình.

Khi kể lại cho thương gia Kédar Nath nghe sự việc này, thiếu chút nữa thì anh ta ngất xỉu. Kédar Nath quyết định đến Delhi cùng con trai, nhưng với ý định là giả danh người em trai. Nhưng thật hoài công. Ngay khi Nath vừa xưng tên giả mạo của mình, thì Dévi đã kêu lên: ”Anh không phải là Jeth (em chồng – theo phương ngữ ở Mathura) của em, mà là Kédar Nath, chồng em” và cô bé Dévi ngã vào vòng tay của Nath khóc nức nở. Khi cậu con trai, gần bằng tuổi Dévi, vào phòng, Dévi ôm hôn cậu bé giống như mẹ ôm con. Tất cả những người chứng kiến cảnh này đều thấy sững sờ. Câu chuyện càng tiếp tục càng trở nên chính xác hơn. Shanti Dévi còn hỏi Kédar Nath có giữ lời hứa trước lúc cô lâm chung là sẽ không tục huyền không. Dévi đã tha thứ khi Nath thú nhận là đã lấy một người phụ nữ khác. Kédar Nath ở lại Delhi nhiều ngày và hỏi Shanti Dévi rất nhiều câu hỏi, và Dévi đã trả lời với những chi tiết làm mọi người hết sức ngỡ ngàng. Khi quay trở về, Nath hoàn toàn tin rằng Shanti Dévi chính là sự đầu thai trở lại của người vợ cũ của mình.

Sự việc không dừng lại ở đây. Tiếng đồn vang xa, và một hôm. Trong sự kinh ngạc của tất cả mọi người, đích thân Ngài Gandhi đã đến thăm cô bé. Ông rất quan tâm đến trường hợp này. Shanti Dévi tiết lộ với ông rất nhiều điều, trong đó có việc Lugdi Dévi rất sùng giáo. Vuốt tóc cô bé như người cha vuốt tóc con. Ngài Gandhi nói với cô bé: “Ta hy vọng sẽ biết nhiều điều hơn nữa khi cháu trở lại Mathura. Những thiện ý của ta sẽ đi cùng cháu. Điều mà cháu cần làm, đó là Sự thật, đừng bao giờ rời xa con đường Sự thật, dù cháu phải trả giá như thế nào”. Ông đã gửi cô bé đến Mathura, có cha mẹ đi theo, cùng với 3 thân hào, nhiều Luật sư, nhà báo và doanh nhân nổi tiếng có trí tuệ cao. Ngày 25 tháng 11 năm 1935, phái đoàn đến nhà ga Mathura. Một đám đông tụ tập trên sân ga để chào đón họ. Ngay lập tức, cô bé khiến mọi người phải sửng sốt khi cô nhận ra các thành viên của “gia đình” mình. Cô bé bước nhanh đến một ông già và kêu lên: “Ông!”và hỏi thăm con rắn thần của mình. Ông già hết sức kinh ngạc: trước khi chết, Lugdi Dévi đã ký thác cho ông con rắn thần của mình. Sau đó, cô dẫn cả đoàn về thẳng “nhà mình”. Trong nhiều ngày Dévi tới thăm hàng chục địa danh và con người nơi đây. Cô tới gặp lại bố mẹ xưa kia của mình, làm họ hết sức bối rối. Trong khi đó, bố mẹ hiện tại của cô rất lo là cô sẽ không về lại với họ nữa. Mặc dù bị giằng xé ghê gớm, nhưng cô bé vẫn quyết định trở lại Delhi. Dần dà trong quá trình hỏi chồng mình, cô bé phát hiện ra rằng, anh ta đã không giữ bất cứ lời hứa nào, mà anh ta đã nói trước lúc cô giã từ cõi đời. Thậm chí, anh ta còn không cúng tiến cho thần Krisha 150 rupi tiết kiệm mà cô đã giấu dưới một tấm ván, để cứu rỗi cho linh hồn cô. Món tiền giấu này chỉ có Lugdi Dévi và chồng biết. Shanti Dévi đã tha thứ cho Kédar Nath tất cả những lỗi lầm đó, và điều này càng khiến cho những người nghe cô, thêm quý trọng cô nhiều hơn.

Ủy Ban điều tra gồm các thân sĩ đã làm việc nghiêm túc, tiến hành rất nhiều cuộc xác minh, tập hợp và đối chiếu các thông tin và sự việc. Ủy Ban này đã đi đến quyết định rằng, Shanti Dévi chính là sự đầu thai trở lại của Lugdi Dévi.

Sau đó, Shanti Dévi sống một cuộc đời rất khiêm nhường và độc thân, vì cô đã hứa với chồng là sẽ không bao giờ tái giá trong cuộc sống mới. Cô không bao giờ tìm cách kiếm lợi từ sự nổi tiếng của mình và, sau khi hoàn thành việc học Văn học và Triết học, cô đã dành thời gian cho cầu nguyện và thiền định. Vào cuối những năm 1950, một lần nữa, cô chấp nhận kể lại câu chuyện của đời mình…
Đã xemBởi Horangi
Nguồn: buddhanet.net

TRƯỜNG HỢP LY KỲ CỦA GEORGE RITCHIE ÐÃ CHẾT RỒI SỐNG LẠI, HIỆN NAY LÀ BÁC SĨ, ÐÃ THẤY NHỮNG GÌ KHI HỒN LÌA KHỎI XÁC.

Tác giả: Sylvia Cranston và Carey Williams.

Trường hợp lạ lùng của bệnh nhân George Ritchie đã chết rồi sống lại (hiện đang là bác sĩ Tâm Trí) đã khiến cho các Khoa học gia cũng như các nhà tâm lý học đặc biệt chú ý. Bác sĩ Raymond Moody đã bỏ ra năm năm để nghiên cứu trường hợp đặc biệt này. Bác sĩ Raymond Moody vừa là bác sĩ vừa là nhà phân tâm học, là tác giả cuốn sách nổi tiếng "Life After Life" với số độc giả cả triệu người đã phổ biến trường hợp của George Ritchie đến thế giới Tây Phương. Cuốn sách do bác sĩ Raymond Moody viết để tặng bác sĩ George Ritchie, trước đây là một bệnh nhân trong quân đội. Câu chuyện có thật này đã được đưa lên màn ảnh với tựa đề Beyond And Back. Cuốn phim này đã làm chấn động dư luận.

Lúc hai mươi tuổi, George Ritchie, một sinh viên y khoa với hoài bão trở thành bác sĩ, đã phải gia nhập quân đội. (Sau này George Ritchie đã trở thành vị bác sĩ trẻ tuổi nhất tốt nghiệp tại đại học Ðường Virginia). Khi chiến tranh chấm dứt cũng là lúc George Ritchie tốt nghiệp y khoa. Bác sĩ George Ritchie là chủ tịch Hàn lâm viện Nội Khoa và Ngoại Khoa Richmond, chuyên về tâm trí và đã trở thành Viện trưởng viện Tâm Trí của bệnh viện Towers ở Charlottesville. Bệnh viện này đã sát nhập với đại học Ðường Virginia. Hiện nay bác sĩ George Ritchie có một phòng mạch riêng tại Richmond và là chủ tịch sáng lập viên Ðoàn Thanh Niên Quốc Tế.

Tài liệu này được viết theo trong cuốn "Return From Tomorrow" của Bác sĩ George Ritchie và trong băng ghi âm của Bác sĩ có nhiều chi tiết chưa được tiết lộ.

Là một người lính được huấn luyện tại trại Barkeley, Texas, George Ritchie nhận định rõ giá trị của một người lính bộ binh trong quân đội hiện đại với cơ khí hóa tối tân. Vì nhu cầu cần bác sĩ để phục vụ cho quân đội nên George Ritchie được tuyển chọn gửi đi huấn luyện tại đại học Ðường Y Khoa Virginia. Nhưng chẳng may trước hôm đi, George Ritchie bị bệnh nặng, hai lá phổi bị sưng, phải vào nhà thương điều trị. Thời đó thuốc Penicilline được coi là phát minh kỳ diệu nhưng cũng không chữa nổi căn bệnh sưng phổi, bệnh tình của George Ritchie rất trầm trọng.

Người phụ trách trông nom khu George Ritchie điều trị đã thấy George Ritchie tắt thở. Ðược báo cáo bác sĩ trực đến khám nghiệm, xác nhận George Ritchie đã chết và ra lệnh làm thủ tục đem George Ritchie vào nhà xác. Chính trong khoảng thời gian chín phút này, việc lạ lùng đã xảy ra.

Bác sĩ Donald G. Francy, y sĩ trưởng của trại Barkeley gọi trường hợp của George Ritchie sống lại là một trong những sự lạ lùng và ly kỳ nhất chưa từng bao giờ có. Trong một bài đã được kiểm chứng, bác sĩ Francy viết như sau:

"Bệnh nhân George Ritchie đã chết hẳn rồi lại sống lại rất mạnh khoẻ là một trường hợp chưa từng có. Ðiều đáng lưu ý là một người bị bệnh tim, khi tim ngưng đập có thể dùng cách này hay cách khác để làm tim đập lại. Nhưng trường hợp của George Ritchie với bệnh sưng phổi, cơ thể đã bị nhiễm độc, các cơ quan trong người đều bị phá hủy thì việc làm cho trái tim đập lại không thể thực hiện được. Hơn nữa, George Ritchie đã chết ít nhất là chín phút, thì bộ não hư hỏng không thể toàn vẹn được."

Bây giờ là khoảng thời gian sau khi George Ritchie đã được xác nhận là thực sự chết nhưng anh cảm thấy tinh thần tỉnh táo thấy mình như trong một thân xác vật vị khác lạ được chuyển đến một căn phòng nhỏ trong lúc tình trạng trở nên nguy kịch. Lúc này khoảng nửa đêm. Ý nghĩ đầu tiên của anh là phải đi chuyến xe buýt sáng sớm để tới trường Y khoa tại Richmond để kịp dự lễ khai giảng khóa mới. Nhưng lạ lùng thay! Quần áo của anh đâu rồi? Anh tìm khắp nơi trong phòng. À! Có lẽ ở dưới giường chăng?

"Tôi đi vòng quanh, rồi lạnh cứng. Có người nào đó đang nằm trên giường tôi kìa! Tôi lại gần, đó là một người đàn ông còn trẻ, tóc mầu nâu cắt ngắn, nằm ngay đơ. Nhưng... không thể như thế được! Chính tôi vừa ra khỏi cái giường này mà. Tôi thắc mắc, khó hiểu sự kỳ lạ này. Thật là quá lạ lùng nghĩ đến việc này, nhưng không còn thì giờ nữa!"

Anh phải đi tìm người phụ trách nơi đây để lấy lại quần áo. Ritchie trông thấy một trung sĩ đang đi ngoài hành lang, anh chận lại và yêu cầu ông ta giúp đỡ. Nhưng người này không thấy anh và cũng không nghe thấy anh nói cứ tiếp tục đi thẳng khiến anh phải tránh ra nhường lối cho ông ta đi.

Nóng lòng tới trường đại học, Ritchie ra khỏi bệnh viện rồi bay theo hướng Bắc về Richmond với một tốc độ nhanh chóng. Anh phân vân không biết đi có đúng đường không.

"Một con sông rộng ở dưới tôi. Tôi thấy có một cái cầu dài, cao và tít đằng xa bên kia sông có một thành phố lớn mà tôi chưa bao giờ đến cả. Tôi muốn đáp xuống kiếm người hỏi thăm. Tôi từ từ ngưng lại, ngay dưới tôi có hai con đường chập lại làm một và tôi bị cuốn hút bởi một luồng ánh sáng xanh chiếu ra từ một bảng hiệu gắn đèn nê-ông của một tòa nhà có mái ngói đỏ. Tấm bảng hiệu "Past Blue Ribbon Beer" treo ngay trên cửa sổ và trước nhà bảng hiệu "Cafe" lơ lửng trên cửa ra vào...

Trên con đường nhỏ dẫn vào quán Cafe bán đêm này, có một người đang rảo bước. Tôi bèn xuống đi bên cạnh và hỏi:

"Làm ơn cho tôi biết đây là thành phố nào?"

Ông ta vẫn tiếp tục đi thẳng... Chúng tôi tới quán cafe. Ông ta xoay tay nắm cửa bước vào. Có lẽ ông ta bị điếc hẳn? Tôi lấy tay trái đập lên vai của ông ta. Không có gì cả mà hình như tay tôi vừa để vào khoảng không. Rõ ràng tôi thấy ông ta mà, tôi còn nhận ra ông ta có một chòm râu đen ở cằm cần phải cạo đi nữa."

Mọi suy nghĩ Ritchie tựa hẳn vào một người đàn ông đang mắc dây điện thoại ở kế bên và đi xuyên qua.

Trước khi đi đến phần kế tiếp, chúng tôi thấy cần phải báo cáo là, một năm sau đó, bất ngờ Ritchie đã khám phá ra tên của thành phố này. Trên đường trở về trại Barkeley trước khi đi công tác tại Âu Châu, Ritchie cùng những người bạn sinh viên y khoa đi xe hơi về trại. Ðến ngày thứ ba họ tới tiểu bang Mississippi, một tiểu bang mà chưa bao giờ Ritchie đặt chân tới cả. Khi đến vùng ngoại ô của Vicksburg, Ritchie đã tả lại như sau:

"Thành phố này tuy xa lạ nhưng hình như rất quen thuộc. Tôi đã biết rõ từng nét cong của bờ biển, từng khúc rẽ đường. Nơi đó, tôi biết rõ đường phố như thế nào! Tôi biết chắc chỉ còn một con đường ngắn là tôi có thể đến ngôi nhà trắng có mái ngói đỏ, có chữ Cafe bằng nê-ông gắn trên cửa ra vào. Khi xe tới gần, tôi nhận được ra con đường nhỏ mà tôi đã cùng một người không nhận ra tôi đi tới quán này. Cũng còn cả cột điện thoại mà tôi đã đứng ở đó rất lâu... bao lâu? Giờ nào, ngày nào với loại thân hình nào?"

Trong cơn thoát xác, Ritchie cảm thấy đi Richmond thật phù phiếm không ai thấy và nghe được anh cả.

"Nếu tôi có trở về gia đình thì cũng chẳng ai thấy tôi? Ý tưởng cô đơn xâm chiếm tôi, dù sao tôi cũng phải về ngay nơi mà mọi người thấy tôi và nghe được tôi chứ."

Rồi George Ritchie nghĩ đến cái xác hãy còn đang nằm tại bệnh viện. Ritchie đã vội vàng quay trở về bệnh viện tại trại Barkeley. Tới nơi Ritchie đã phải sục sạo tìm lại cái xác nằm tại một trong hai trăm căn phòng của năm ngàn binh sĩ đang ngủ. (Lúc đó trại Barkeley có 250 ngàn khóa sinh)

Ðèn không được sáng, thật khó khăn mới nhìn được mặt họ. Cả giờ rồi, đã toát cả mồ hôi, qua hết phòng này đến phòng khác mà vẫn không kết quả. Ðột nhiên anh nhớ ra! Tay trái anh có đeo một cái nhẫn hội viên Phi Gamma Delta. Và tiếp tục tìm kiếm, anh đã tìm được cái xác một người đàn ông trong một căn phòng nhỏ, phủ một tấm chăn và tay trái có đeo chiếc nhẫn.

"Tôi tiến lại từ từ, mắt dán chặt vào cái bàn tay đeo nhẫn. Tôi khiếp hãi. Dưới ánh đèn mờ ảo, tôi thấy bàn tay đó thật trắng và thật mềm. Trước đây, tôi đã nhìn thấy bàn tay này ở đâu rồi nhỉ? Tôi đã nhớ ra: Cha Dabney nằm trong phòng khách Moss Side. Tôi lùi lại gần cửa ra vào. Người nằm trên giường đã chết. Tôi cảm thấy khó chịu như trước đây tôi đã phải ở chung với người chết trong một phòng... Nhưng... cái nhẫn là của tôi mà, vậy chính là tôi mà, vậy thì một phần của tôi nằm trên cái giường này, phủ bởi tấm chăn. Vậy có nghĩa là tôi đã... Ðó là lần đầu tiên tôi đã trực nhận đến chữ "chết" liên quan đến những gì đang xảy ra cho tôi. Nhưng tôi chưa chết mà, sao tôi có thể chết trong khi tôi vẫn còn thức đây? Tôi bấu vào tấm chăn, cố gắng kéo xuống để mắt tôi nhìn được phía ngoài. Nhưng vô ích, tất cả các cố gắng của tôi cũng không đủ để tạo một cơn gió nhẹ thoáng qua căn phòng im lặng nhỏ bé này. Sau cùng thất vọng tôi ngồi xuống giường. Tôi nghĩ: Tôi đã thoát ra khỏi xác nên không tiếp xúc lại được. Ðây chính là lúc tôi cảm thấy da thịt tôi và tôi (hình hài và linh hồn) ở hai hành tinh riêng biệt."

Chợt George Ritchie thấy trong phòng tự nhiên sáng hẳn lên. Anh nhìn vào cái bóng đèn 15 watts và chắc chắn cái bóng đèn này không thể sáng đến thế được!

"Tôi ngạc nhiên thấy ánh sáng càng ngày càng rực lên ở trong phòng, tất cả các bóng điện trong bệnh viện thắp lên cũng không thể sáng như thế, tất cả những ngọn đèn trên thế giới cũng không thể sáng như thế, sáng như cả triệu ngọn đèn dùng để bàn cùng cháy lên một lúc."

Bây giờ George Ritchie nhận thấy không phải là ánh sáng mà là một người đang bước vào phòng, nói đúng hơn là một Người được làm bằng ánh sáng.

"Con Người này đã tỏa ra sức thần thông của chính mình xưa hơn cả thời gian và hiện đại, hơn bất cứ ai mà tôi đã được gặp."

Người này đã nhìn thấy suốt cuộc đời của anh." Người này đã biết đến cả những gì khó ưa trong tôi, Người đã chấp nhận và thương yêu tôi".

Người này đã hỏi anh: "Anh đã làm được những gì trong đời?" Câu hỏi được nhắc đi nhắc lại nhưng anh lẩn tránh. Cuối cùng là anh cũng phải trả lời là chẳng làm được gì trong suốt cuộc đời.

Không thể nào trong một vài chương mà có thể kể hết được. Con người thiên thể này đã dẫn dắt Ritchie đi; sau này Ritchie gọi là: "Một Cuộc Kinh Lý Giáo Dục". Ritchie đã được dẫn đến thế giới thiên thể ở tầng trời cao nhất. Ở thế giới thiên thể này Ritchie đã nhìn thấy cảnh các linh hồn đam mê nhục dục: Những người nghiện rượu được kéo ra khỏi các quán rượu, các quán cà phê và đây là địa ngục của họ: Những người nghiện rượu trông thấy người khác đang uống mà không được động đến cái ly. Ritchie nhìn thấy những người khác vì say mê ái dục mà trở thành bất lực. Ðây là địa ngục của họ, Ritchie đã nhìn thấy những người tự tử vì thất vọng. Ritchie cũng được dẫn đến thăm một văn phòng mà người thoát xác đang la hét và bắt người làm phải thi hành công việc như thế nào nhưng các người làm này đâu còn tuân lệnh nữa. Ðây là ông chủ đã quá cố của Ritchie.

Tuy đã được Southern Baptist (một tông phái Tin Lành) dạy dỗ nghiêm khắc, Ritchie cũng vẫn thấy giật mình. Anh thấy anh đang ở trong một thư viện vĩ đại có nhiều cuốn sách nói về vũ trụ mà chưa ai viết - và cuốn Thánh Kinh chỉ là một mà thôi.

Khi được đưa tới tầng trời thứ ba thì Ritchie bị ngất ngây bởi vô lượng ánh sáng của người Ðồng Hành Thiên Thể mà sau này Ritchie nghĩ là Ðấng Tối Thượng, Tối Cao hơn cả. Ðó là Ðức Chúa Christ với người Thiên Chúa Giáo - Ðức Phật với người Phật Giáo - Krishna (Phạm Thiên) với người Ấn Ðộ Giáo - Messiah Giáo Chủ với người Do Thái Giáo - có lẽ tất cả đều đúng.

Ðã đến lúc phải trở về với nhiều nuối tiếc. "Những bức tường đã ngăn chận chúng tôi. Những bức tường rất hẹp như những cái hộp; rồi trong khoảnh khắc tôi nhận ra được cái phòng của bệnh viện mà tôi đã bỏ đi trong một thời gian". Anh cố gắng nhập vào cái xác đang nằm trên giường, anh cố gắng mở mắt nhưng không sao mở mắt được vì bị tấm chăn phủ mất. Anh muốn giơ hai tay nhưng không thể được và cảm thấy như đang nâng hai thanh sắt nặng. Anh chậm chạp xích hai bàn tay lại gần nhau và xoay cái nhẫn vài lần.

Rồi đầu óc Ritchie lại mờ đi. Ritchie lại rơi vào tình trạng hôn mê và hình như lại chết một lần nữa. Chính sau này thân xác anh cử động được nhưng đầu óc anh vẫn mê man mất ba ngày. Lần này khi mở mắt ra anh nhìn thấy cô y tá đang nhìn anh mỉm cười và nói: "Thật vui mừng ông đã trở lại với chúng tôi, đã có lúc chúng tôi tưởng không thành công".

Sau này Ritchie được biết, khi người trông nom bệnh viện trở lại để sửa soạn đưa Ritchie vào nhà xác thì đôi tay anh đã được đổi vị trí. Nguyên lúc bác sĩ khám nghiệm phủ mặt Ritchie, đặt hai cánh tay thẳng và để đôi bàn tay úp xuống. Nhờ vậy Ritchie đã nhìn thấy cái nhẫn của mình. Nhận thấy có sự thay đổi (đôi tay không ở vị trí có) người trông nom (binh nhì) vội cấp báo Bác sĩ. Sau khi khám nghiệm lại cẩn thận, vị bác sĩ đã một lần nữa tuyên bố Ritchie đã chết hẳn.

Tuy nhiên, người trông nom bệnh viện này không thừa nhận lời tuyên bố của Bác sĩ đề nghị: "Có thể chích một mũi Adrenalin vào thẳng tim cho Ritchie sống lại". Về việc này, George Ritchie đã nhận xét như sau: "Việc này không thể có được, thứ nhất là vì một người binh nhì đâu có thể tranh cãi với cấp sĩ quan chỉ huy của mình, hơn nữa lại là một bác sĩ chuyên môn có bằng cấp, thứ hai lời đề nghị của người trông nom trên phương diện y khoa chuyên môn thật là lố bịch và buồn cười. Bệnh sưng phổi đã làm tê liệt tất cả các bộ phận trong cơ thể việc tiêm thuốc kích thích tim không thể chấp nhận được. Về trường hợp của tôi, bất cứ một nhà y khoa nào cũng không thể làm gì hơn được. Ấy thế mà đề nghị cho một người đến canh chừng của người trông nom bệnh viện với bác sĩ cho rằng việc này không hữu lý đã được chấp thuận và đề nghị này lại thành công!

Thời gian bình phục thật là khó khăn. Khi trở về Richmond, Ritchie chỉ như một bộ xương, không ai có thể tin được Ritchie có thể theo học lớp y khoa. Phải mất đúng một năm Ritchie mới hoàn toàn bình phục. Sau đó Ritchie được chuyển trở lại trại Barkeley và được gửi sang phục vụ một đơn vị ở Âu Châu. Khi chiến tranh kết thúc, Ritchie đã tiếp tục học lại, đậu Bác sĩ và đã trở thành một Bác sĩ chuyên khoa về tâm trí.

Bác sĩ George Ritchie đã viết như sau:

"Khi tôi xin vào nội trú tại Ðại học Ðường Virginia, một người bạn đã khuyên tôi đừng nên cho ban tuyển chọn biết chuyện tôi đã xuất hồn vì những người chấm điểm có thể nghi ngờ tôi. Người đầu tiên phỏng vấn tôi là bác sĩ Wilfred Abse, giáo sư ngành Phân Tâm Học, Tâm Lý Học thuộc viện Tâm Trí và là một trong những người đứng đầu trong ngành Phân Tâm Học tại Virginia. Ngay khi bước vào phòng bác sĩ Abse đã nói với tôi:

"Tốt, này bác sĩ Ritchie hình như ông đã được gặp Chúa Christ. Tôi tưởng rằng cơ may của tôi đã bị ném qua cửa sổ. Bác sĩ Abse là người Do Thái, một người nghiên cứu về triết học Freud. Ông ta đã trực tiếp phỏng vấn tôi. Tôi đã nói hết sự thực và không giấu giếm chút nào về việc xảy ra tại trại Barkeley, Texas.

Không thể ngờ được, hai tuần lễ sau cuộc phỏng vấn tôi nhận được thư thông báo Ban Tuyển Chọn đã chấp nhận tôi vào nội trú và tôi đã trở thành một Bác sĩ về tâm trí.

Những năm sau này, bác sĩ Abse trở thành người bạn thân của tôi. Trong một câu chuyện giữa chúng tôi, bác sĩ Abse đã cho biết: "Mọi người nơi đây đều biết rõ câu chuyện xuất hồn của anh; nếu trong cuộc phỏng vấn anh giấu giếm thì tôi đã không chọn anh vì cho anh là một người không có tinh thần vững vàng, một người như vậy ắt hẳn không thể phân biệt đâu là sự thật, đâu là ảo tưởng".

Cũng tại bệnh viện này, bác sĩ George Ritchie đã tiến tới chức vụ viện trưởng viện Tâm Trí.

-ooOoo-

-2-

MỘT NGƯỜI NÔ LỆ DA ÐEN MÙ LÒA TRỞ THÀNH NHẠC SĨ LỪNG DANH

Tác giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Chú mù Tom sanh năm 1849 tại Georgia, Hoa Kỳ trong thời kỳ chế độ nô lệ còn đang mạnh mẽ. Là một người da đen, chào đời vào thời này, lại bị tàn tật ngay từ lúc mới sanh, thật là một bất hạnh!

Trong một tạp chí, Webb Garrison đã viết một bài với tựa đề "CHÚ MÙ TOM VÀ SỰ HUYỀN BÍ CỦA ÂM NHẠC". Ông đã ghi như sau:

"Hầu hết mọi nông dân tại Georgia trong một trăm năm qua đã đặc biệt chú ý đến việc thương mại nô lệ. Trong đó có Perry H. Oliveer ở quận Moscogee. Bởi thế, khi người nô lệ da đen của ông sanh ra một đứa con trai mù thì tự nhiên ông phải thất vọng vô cùng. Ít lâu sau trong một cuộc đấu giá nô lệ, ông đem bán người mẹ cho tướng James Bethune ở Columbus, Georgia. Sau đó, ông mới đem thằng nhỏ da đen bị mù ra khỏi nơi giấu và nói rằng: "Tôi quên không cho Ngài biết người đàn bà nô lệ này còn đứa con trai. Tôi đồng ý cho không đứa nhỏ này" (Theo Coronet, tháng 7 năm 1952). Người mẹ đáng thương cùng đứa con trai mù một tuổi đau lòng từ bỏ căn nhà và bạn bè để về làm nô lệ cho người chủ mới xa lạ. Tướng James Bethune đặt tên cho đứa trẻ là Thomas Green Bethune, nhưng cả thế giới này chỉ biết chú là "Chú Mù Tom". Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "My Antonia" bà Willa Cather đã thuật lại cuộc đời của chú mà bà gọi là người mù Arnault.

Trong nhiều bài tường thuật về sự kỳ diệu này, bài có giá trị nhất là bài của bà Ella May Thornton, quản thủ thư viện Georgia, một quản thủ được xếp vào hàng danh dự của các tiểu bang. Ðó là bài "Sự Huyền Bí Của Chú Mù Tom" của bà đăng trong tập "The Georgia Review" xuất bản mùa đông năm 1961. Sau đây là một đoạn:

"Lúc Tom còn nhỏ đang phải bồng trên tay thì Tom đã tỏ ra rất nhạy cảm trong bất cứ một tiếng động nào và đặc biệt về âm nhạc. Tất cả những người trong dòng họ tướng James Bethune lúc bấy giờ phần đông đều thông minh, học thức và giàu lòng từ thiện đều công nhận tài năng khác thường của đứa bé da đen này.

Khả năng kỳ diệu về âm nhạc được khám phá khi chú Tom mới lên ba tuổi. Vào một buổi chiều trên thềm ngôi biệt thự, thình lình giọng của chú vang lên hòa ca với giọng hát của các ái nữ tướng Bethune. Không những chú đã ca phần êm dịu ở phần đầu bản nhạc nhưng phần thứ hai mới là khó hát nhất... Thế mà chú đã trọn vẹn hát hết bản nhạc một cách tài tình không gượng gạo.

Cuộc trình diễn bất ngờ lần sau vào năm chú lên bốn tuổi, cũng vào một buổi chiều các thiếu phụ trẻ tuổi sau khi đã chơi dương cầm mấy tiếng đồng hồ tản mác quanh biệt thự. Bỗng nhiên họ được nghe lại những bản nhạc mà họ đã chơi từ lúc đầu. Mọi người vội vã trở về phòng khách, họ sửng sốt thấy một chú mọi đen nhỏ xíu đang say sưa dạo nhạc trên đàn dương cầm với những bản mà chú vừa được nghe.

Trước đây không một ai trong gia đình tướng Bethune cho phép chú Tom được chạm vào cây đàn. Ella May Thornton còn nhấn mạnh thêm: "Một đứa trẻ nô lệ mà đánh đàn dương cầm thì làm sao có thể giấu nổi một gia đình đông đúc như gia đình tướng Bethune!".

Tạp chí nghiên cứu về âm nhạc xuất bản Ttáng 8 năm 1940 đã ghi nhận như sau: Ngay khi bắt đầu chơi dương cầm, Chú đã biết sử dụng các phím đàn trắng và đen. Như vậy chứng tỏ chú đã từng hiểu biết về dương cầm của âm nhạc Tây Phương. Các phím đàn dương cầm sắp xếp không như nốt thường mà do óc sáng chế kỳ diệu của một người có biệt tài về âm thanh. Thật khó sử dụng đối với một đứa bé bị mù và chưa từng được ai chỉ dẫn huấn luyện. Bà Thornton nhấn mạnh: "Chú có thể chơi các bản nhạc cổ điển nổi tiếng một cách thành thạo, khác hẳn những người chơi đàn 'bằng tai' thường thấy. Chú Tom đã dùng các ngón tay mình một cách rất chính xác nhà nghề.

Cho nên năm 1862, một chuyên viên điêu luyện về âm nhạc nói là chú Tom chơi đàn giỏi được như vậy, chắc chắn phải được học ở "Nhà Trường". Mặc dù thần kinh chú Tom hoàn toàn bị giới hạn nhưng nếu cho chú vào học tại các trung tâm dành cho các trẻ em chậm phát triển thì thật sai lầm. Chú Tom có một bộ óc điện tử có thể ghi và trình tấu lại các bản nhạc dù mới chỉ nghe có một lần. Với khả năng siêu việt chú có thể lặp lại chính xác một bản nhạc mới dài 20 trang. Ngoài ra chú Tom còn có khả năng sáng tạo nữa. Bà Thornton nhớ lại "Thời bấy giờ ở Columbus, Georgia có rất nhiều giáo sư âm nhạc; trong đó có giáo sư Carlo Patti, anh của bà Adelina. Tướng Bethune đã nhờ giáo sư Patti chỉ dạy thêm nhạc cho chú Tom. Chính giáo sư là người đã từng dạy nhạc cho các ái nữ của tướng Bethune, nhưng ông từ chối và nói như sau: "Tôi không thể chấp nhận lời yêu cầu, thế giới chưa bao giờ thấy được một sự lạ như thế ở một người da đen, và từ xưa tới nay chưa từng thấy một hiện tượng nào như thế. Tôi không thể dạy cho chú thêm một chút gì nữa, tầm hiểu biết của chú về âm nhạc còn hơn cả chính tôi đã biết và đã học - trường hợp thần đồng này quả là một ngoại lệ và sự việc này đã biến thành một hiện tượng hữu hình. Tôi không thể hiểu nổi. Tất cả những gì tôi có thể giúp chú ấy là cho chú ấy nghe những bản nhạc hay và chính chú ấy sẽ tự ghi lại và tự tấu được không cần sự hướng dẫn hay chỉ bảo của tôi."

Vào lúc 8 tuổi chú bắt đầu trình diễn các bản hòa tấu trước công chúng. Lúc 12 tuổi, trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, chú Tom trình diễn tại Nữu Ước trong một cuộc hòa tấu ngày 19 tháng Giêng năm 1861. Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc này, chú đã trình diễn rất nhiều lần tại các thành phố sau chiến tuyến của cả hai phe bảo thủ và thống nhất. Hàng ngàn binh sĩ cả hai phe lâm chiến đã được dự thính nghe chú trình diễn. Một số khán giả này đã tường thuật lại một cách thích thú và trung thực về tài năng của chú trong các nhật ký, tùy bút, phỏng vấn xuất bản trên các báo chí sau đó. Năm 1866 và năm 1867, chú đã đi trình diễn tại các quần đảo thuộc Anh Cát Lợi, tại Lục địa và trên khắp nước Mỹ. Chú đã trình diễn tại Tòa Bạch Ốc và chính chú điều khiển buổi trình diễn này.

Chú Tom không bị giới hạn về một loại nhạc nào cả, Chú có thể trình diễn nhạc khúc của Beethoven, Mendelsohn, Bach và Chopin và cũng có thể chơi các bản nhạc bất luận về loại gì.

Nguồn cảm hứng đến với chú trong lúc chú ngồi dạo dương cầm khiến cho chú sáng tác được những bài ngẫu hứng cùng những bản trường ca bất hủ có tới cả nghìn bản. Các sáng tác với âm điệu tuyệt vời cùng những lời nhạc rất hay có thể nói lên chú Tom đã nắm được trọn vẹn khoa học và kỹ thuật về âm điệu, nhạc lý. Chỉ có thể cho rằng tất cả các yếu tố tạo thành sức mạnh âm nhạc đó đã có sẵn trong con người chú Tom.

Ella May Thornton đã kết thúc bài tham luận bằng một câu hỏi: "Một câu được đặt ra để hỏi các nhà tâm lý Học, các nhà vật lý học, các nhà khoa học cùng các chuyên gia về âm nhạc có thẩm quyền có thể giải thích về trường hợp này của chú Tom không? Sau một thời gian nghiên cứu tôi đã không tìm được câu trả lời. Chỉ có thể giải thích được đó là luân hồi và người ta đã kết luận rằng ở một thời điểm nào đó, ở một nơi nào đó, ở một kiếp nào đó chú Tom đã là một nhà nhạc sĩ siêu đẳng."

Sự hiện diện của chú mù Tom ở Âu Mỹ đã có một ý nghĩa đặc biệt. Trong giai đoạn cuối cùng của chế độ mọi nô người da đen tại Hoa Kỳ, chú mù Tom đã chứng tỏ cho hàng triệu khán thính giả trên thế giới biết rằng một người nghèo, bị khinh rẻ, bị coi là chậm tiến, một người da đen thất học đã làm nên sự nghiệp vĩ đại mà không một người da trắng nào dù tài giỏi đến mấy nữa cũng không làm được. Phải chăng tài năng này Chú đã có từ kiếp trước? Cho nên các giáo sư đã tìm được sự giải thích, đó là luân hồi. Tương tự như thế trường hợp của bà sơ Teresa, một tu sĩ Ky-Tô-Giáo, giáo sư Mỹ Thuật tại chủng viện Brooklyn, có mặt trong một buổi thuyết trình về luân hồi của hội Thanalogy Foundation tại Ðại học Ðường Columbia, được hỏi bởi một học sinh rằng có phải những nét vẽ điêu luyện của sơ là do sự huấn luyện và thực hành sau nhiều năm kinh nghiệm mà có phải không? Sơ Teresa đã xác nhận là do tiền kiếp của sơ mà có.

Trong những chuyện luân hồi do tiến sĩ Ian Stevenson điều tra đã chứng minh được có luân hồi nên con người đã có những khả năng đặc biệt, điều mà những khả năng đến với con người từ lúc nào và phát triển từ bao giờ chúng ta không phát hiện được. Ian Stevenson đã nêu lên thí dụ: "Trong hiện kiếp chúng ta biết đi đứng nhưng không ai có thể nhớ lại chúng ta đã biết tự lúc nào. Con người tuy không nhớ được những gì ở tiền kiếp song những tài năng và những cá tính đặc biệt ở kiếp trước đã là các chất liệu cho chúng ta trong kiếp này".
Đã xemBởi Apollo
Thêm một chuyện của Sylvia Cranston và Carey Williams - báo Saigon Post Vo.10 #677. Jan.9, 2009.

Bà Shakuntala Devi, nhà toán học thần đồng này được cả quốc tế công nhận. Bà sanh trưởng ở Ấn Độ. Bà đã du hành qua nhiều nước trên thế giới và đã làm cho các nhà toán học sửng sốt, ngơ ngẩn với tài năng xuất chúng của bà.

Bà đã tìm được đáp số của các bài toán còn nhanh hơn cái máy điện tử tối tân nhất. Sang nước Mỹ năm 1977 bà được US National Standard trao giải thưởng Univac 1108 vì tính được 23 căn số của 201 con số trong 50 giây. Tên bà được ghi trong cuốn Guinness Book of World Records (sách ghi các thành tích kỷ lục trên thế giới). Bà tính nhanh hơn máy điện tử mà không phải chuẩn bị trước. Muốn được như bà, máy điện tử cần phải có 13,466 chỉ dẫn và 4,883 dữ kiện. Nếu nói là may mắn thì xác suất của may mắn đó là 1 trên 598 triệu lần.

Tài năng của bà được khám phá khi bà lên 3 tuổi. Cha mẹ đã đem bà đến học viện địa phương để tìm hiểu. Trước mặt các vị giáo sư của đại học đường Bangalore, bà chứng tỏ tài năng phi thường qua những đáp số về logarithm (đối số), về căn số của con số phức tạp và về tổng số.

Trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình bà cho biết người Ấn giải thích khả năng của bà là bởi sự luân hồi, kiếp trước bà ở Ai Cập. Điều không thể chối cãi là đã có rất nhiều các nhà toán học kỳ tài trên đất nước Ai Cập. Kim tự tháp Cheops, một kỳ quan trên thế giới với lối kiến trúc hoàn toàn dựa trên căn bản toán học phức tạp đến nỗi các điều tra viên, 1 thế kỷ qua đã cố nặn óc mà vẫn chưa tìm ra được hết mọi bí ẩn.
Đã xemBởi Apollo
Nguồn: quangduc.com
Saigon Post Vo.10 #677

CÔ BÉ BLANCHE BATTISTA


Tác giả: Sylvia Cranston và Carey Williams.

Câu chuyện luân hồi này do bác sĩ người Anh Raynor Johnson điều tra và chính bác sĩ Johnson đã giới thiệu gia đình Battista với Mục sư tiến sĩ Leslie Weatherhead, cựu chủ tịch hội Methodist Conference Anh tại Melbourne, Úc Ðại Lợi. Tiến sĩ Weatherhead đã kể lại trong một bài thuyết giảng về đề tài: "Một trường hợp luân hồi".

Ðại úy Battista và vợ, đều là người Ý, có sanh một người con gái tại La Mã và đặt tên là Blanche. Ðại úy Battista có mướn một người vú em Thụy Sĩ nói tiếng Pháp tên Marie để trông nom bé Blanche. Marie thỉnh thoảng dạy cho Blanche bài hát ru con bằng tiếng Pháp. Bé Blanche rất thích bài này thường hát đi hát lại mỗi ngày nên thuộc lòng. Chẳng may bé Blanche bị chết nên Marie phải trở về Thụy Sĩ.

Ðại úy Battista viết: "Tiếng hát ru con từ nay đã im bặt trong gia đình nhưng âm vang của nó vẫn nhắc nhở chúng tôi nỗi đau buồn về cái chết của đứa con, nên chúng tôi cố tránh không nghĩ đến các kỷ niệm."

Bé Blanche chết được ba năm, người mẹ, bà Signora Battista mang thai. Lúc thai được bốn tháng, bà đã thấy một giấc mơ lạ lùng trong lúc nửa tỉnh nửa mê, bà cả quyết thấy rõ ràng bé Blanche hiện ra và nói với bà bằng giọng quen thuộc như hồi nào: "Mẹ ơi con sẽ trở về với mẹ". Rồi bé Blanche biến mất. Ðại úy Battista hoài nghi, nhưng đến tháng 2 năm 1906, vợ ông sanh một bé gái và ông cũng đặt tên cho đứa con gái này là Blanche. Ðứa con mới sanh giống hệt như đứa con gái trước.

Chín năm sau cái chết của đứa con gái đầu, khi đứa thứ hai được sáu tuổi thì một việc bất ngờ đã xảy đến. Ðây là lời của ông:

"Trong khi tôi và vợ tôi đang ở trong phòng đọc sách kế cận phòng ngủ thì cả hai chúng tôi đều nghe thấy giọng hát ru con bằng tiếng Pháp vẳng ra từ phòng ngủ của đứa con gái chúng tôi đang ngủ. Lấy làm lạ chúng tôi liền vào xem thì thấy con gái chúng tôi đang ngồi trên giường và hát bài ru con với một giọng Pháp rất tự nhiên. Bài hát này chưa được ai trong chúng tôi dạy cho con gái cả. Vợ tôi hỏi con đang ca bài gì đó thì nó trả lời đang ca bài hát bằng tiếng Pháp. Tôi liền hỏi: "Ai dạy con bài hát hay vậy?" Nó đã trả lời: "Không ai dạy con cả, bài hát này đã có sẵn trong đầu óc của con".

Blanche, người con gái Ý Ðại Lợi, khi luân hồi đã báo cho mẹ biết là sẽ trở lại và Blanche hãy còn nhớ bài hát bằng tiếng Pháp mà trước Blanche đã được Marie, người trông nom em dạy em ở tiền kiếp.
Đã xemBởi Tây Đô đạo sĩ
Trích sách: Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại.
Dịch giả Thích Tâm Quang.
Tác giả: Nhiều tác giả.

Giáo sư H.N. Banerjee là một giáo sư nổi tiếng khoa trưởng khoa Tâm Linh của đại học Ðường Rajasthan, Jaipur, Ấn Ðộ. Ông chuyên khảo cứu về các vụ luân hồi tại Âu cũng như Á. Hàng trăm chuyện luân hồi đã được giáo sư điều tra tại chỗ. Hồ sơ các vụ đó hiện còn đang lưu trữ tại trường đại học này.

Sau đây là hai vụ điển hình: Chandgari và Necati trong cuốn Reincarnation East and West của tác giả do nhà Xuất Bản Double Day, New York, Garden City phát hành năm 1974.
-ooOoo-

CHANDGARI
Tác Giả: H.N. Banerjee
Chandgari là một làng nhỏ có dân số hơn 1 ngàn người nằm trên Thượng Lưu Sông Hằng, Ấn Ðộ. Từ Ðại Lộ Chính đường dẫn vào làng là những con đường nhỏ, thế mà một câu chuyện luân hồi xảy ra đã khiến cái làng bộ nhỏ xa xôi này trở thành nổi tiếng trên thế giới làm cho tất cả các trung tâm tâm lý, siêu linh học đều phải chú ý.

Câu chuyện nghịch lý bằng sanh mà cũng là tử nữa. Câu chuyện không xảy ra chỉ riêng ở làng Chandgari mà cũng còn liên quan đến làng Itarni thuộc Quận Aligarth cách Chandgari chừng ít dặm.

Vào đầu năm 1960, một thanh niên làng Itarni tên là Bhajan Singh, 21 tuổi bị chết sau một cơn sốt cấp tính.

Cũng khoảng thời gian trên một đứa bé được sanh ra tại Chandgari và được cha mẹ đặt tên là Munesh. Từ khi chào đời đến lúc lên 3 tuổi mọi việc đều bình thường, không có gì đáng kể. Nhưng khi được 4 tuổi, trong lúc chơi với các bạn đồng trang lứa, em thường nhắc đến cái làng Atharni và nói rằng em đã từng ở nơi ấy. Các bạn em đều chế nhạo, cho rằng em nói đến một cái tên xa lạ không có trên thực tế.

Một hôm, người mẹ đang tắm cho em thì em la lối om sòm. Bà giận dữ tát em một bạt tai. Em hờn dỗi nói: "Mẹ à, nếu mẹ đánh con nữa, con sẽ đi khỏi nơi đây". Bà thắc mắc hỏi em định đi đâu. Với một giọng tự nhiên em trả lời: "Con sẽ trở về làng con, làng Atharni mới thật sự là làng của con, con không phải người thuộc làng này". Người mẹ chưa bao giờ nghe thấy làng Atharni cả, nhưng sau vài phút nghĩ ngợi bà cho rằng có lẽ em muốn nói đến làng Itarni, một làng cách xa Chandgari vài dặm. Bà la rầy và cấm em không được nói đến chuyện ngớ ngẩn ấy nữa. Em cãi lại là chuyện này không ngớ ngẩn và còn cho biết tên em không phải là Munesh mà là Bhajan Singh, người làng Atharni chứ không phải làng này.

Em còn nói em có một căn nhà, một cái giếng, một thửa vườn và một nông trại. Em nói thêm: "Con có một người vợ, một người anh, một người mẹ và một người con gái".

Người mẹ mắng em và bảo em đừng bao giờ kể chuyện của đứa trẻ nít ban ngày mê ngủ, nhưng ngược lại em nói đó là sự thực. Giận quá, bà đánh em một trận nên thân và bắt em phải im ngay.

Khi bắt đầu đi học, Munesh kể cho bạn bè ở trường về gia đình em ở làng Atharni. Mọi người đều chế nhạo chê cười câu chuyện của em. Song không bao giờ Munesh thay đổi và cả quyết chính em là Bhajan Singh, em có thể nhớ lại tất cả những chuyện thật của em ở kiếp trước. Không một ai trong gia đình cũng như trong bạn bè của em tin tưởng vào câu chuyện. Tuy nhiên trong gia đình em có ông nội em là người thương em nhiều nhất. Ông cô quyết định điều tra vụ này xem thực hư ra sao. Ông cô nghĩ rằng sau khi tìm được sự thực, tất nhiên Munesh không còn nói bậy nữa. Ông cô có biết một người láng giềng quê ở Itarni, do đó ông cô đã tìm đến người này. Người láng giềng này đã có tuổi nên có nhiều ký ức về quá khứ. Ông cô hỏi: "Có bao giờ ông nghe thấy ở Itarni có một người tên là Bhajan Singh không? Người này đã chết sau một cơn sốt, để lại một người vợ và một người con gái?"

Sau một hồi suy nghĩ, người láng giềng cho biết: "Tôi có nhớ một người ở Itarni có cái tên như vậy, và người ấy đã chết rồi để lại một người vợ và một người con gái. Hiện nay người vợ và đứa con gái đang sống tại Itarni".

Sau khi nghe được tin này, ông cô viết thơ cho gia đình Bhajan Singh và cho biết cháu nội ông tên Munesh ở Chandgari là hiện thân của Bhajan Singh".

Ít ngày sau, người anh của Bhajan Singh và người em rể của Bhajan Singh đã đến Chandgari để tìm hiểu sự việc. Khi hai người đến thì Munesh còn đang đi học. Munesh được người nhà đón về. Khi gặp hai người này thì Munesh nhận ra một trong hai người là anh của mình. (Từ lúc sanh ra đến nay, Munesh chưa bao giờ được gặp người này cả) Munesh nói: "Anh là anh tôi tên là Bhure Singh".

Chắp hai tay như cầu nguyện với vẻ kính cẩn em lại trước người lạ và gọi người này là anh. Người này không phải là người nhẹ dạ chấp nhận ngay mà liên tiếp hỏi Munesh về nhà cửa, về gia đình tại Itarni và về vợ con ra sao. Munesh đã trả lời đúng những câu hỏi của người anh không chút ngập ngừng. Munesh còn cho người anh biết ở tiền kiếp em có một người bạn thân ở gần nhà. Người anh hỏi tên người đó thì Munesh cho biết tên là Bhagwati. Ông Bhure Singh xác nhận: "Ðúng như vậy, Bhajan Singh và Bhagwati trước đây cùng lứa tuổi và hai người rất thân với nhau. Chúng là đôi bạn thân cho đến ngày Bhajan Singh từ trần lúc 21 tuổi.

Khi người anh và người em rể lên đường về nhà thì Munesh hết sức buồn bã, cố giữ lấy người anh và năn nỉ người anh đừng về. Người anh đã phải dỗ dành Munesh như sau: "Em cứ an tâm, trong ít ngày nữa anh sẽ trở lại, khoảng một tuần thôi anh sẽ đến đây mang Munesh về thăm Itarni".
Vài ngày sau có hai người đàn bà tới làng Chandgari. Một người là Ayodhya Devi, vợ của Bhajan Singh và người thứ hai là chị dâu của em. Ðể tìm hiểu sự thực cũng như bán tín bán nghi về tin tức một đứa trẻ tự nhận là chồng luân hồi trở về, nên người vợ đã cùng người chị dâu tìm đến làng Chandgari để gặp Munesh.

Hai người đàn bà này vóc dáng hao hao giống nhau, cũng cao và mảnh khảnh; 2 người đều che mạng kín mặt. Nghe tin có 2 người đàn bà lạ tới làng để tìm Munesh, một số dân làng đã đổ xô đến nhà Munesh. Khi gặp Munesh và ông nội, hai người đàn bà này vẫn che mạng và không giới thiệu mình là ai. Ông nội Munesh muốn thử cháu nên hỏi: "Này Munesh trong hai người đàn bà này, một người là mẹ con đấy, con có nhận được ai là mẹ con không?". Không chút ngập ngừng, Munesh trả lời không ai là mẹ của Munesh cả, chỉ có vợ và chị dâu. Ngay lập tức Munesh chạy lại cầm tay Ayodhya Devi và nói rằng: "Ðây là vợ tôi".

Vừa sợ hãi vừa nghi ngờ có thể đây là một cái bẫy nên bà ta đã vội vàng rút tay ra khỏi bàn tay của Munesh. Tuy nhiên khóe mắt của bà ta và Munesh nhìn nhau chứa chan tình cảm. Người đàn bà dịu dàng nói với Munesh: "Lại đây tôi hỏi vài câu". Rồi người góa phụ hỏi Munesh nếu quả thật Munesh là hiện thân của người chồng cũ thì hãy cho biết những chuyện bí mật riêng tư giữa hai người mà người ngoài không ai biết được.

Munesh trả lời: "Ðúng vậy tôi có đánh vợ tôi bằng hai cái cây dùng để xay bột. Sau khi dự cuộc thi ở Agra, tôi trở về Itarni thì gặp vợ tôi đang cãi nhau với mẹ tôi. Tôi đã đánh vợ tôi và làm cánh tay phải của vợ tôi bị chảy máu".

Người góa phụ vô cùng sửng sốt, và xác nhận việc bất hạnh đó quả có xảy ra. Rồi Munesh còn cho góa phụ biết thêm nhiều chi tiết về sự thân mật giữa hai vợ chồng mà chỉ có hai người biết được mà thôi. Lúc nói những điều bí mật này Munesh đã không cho mọi người nghe thấy.

Góa phụ Ayodhya Devi xác nhận những gì Munesh nói đều đúng sự thực và xin phép cho Munesh cùng về Itarni. Bấy giờ gia đình Munesh mới tin đây không phải là một chuyện ngớ ngẩn mà là một chuyện có thực. Munesh cùng ông nội đi Itarni. Khi đến nơi thì một đám đông người đã chờ sẵn, trong đám đông này, Munesh đã nhận được Bhagwati Prasad, người bạn thân ở tiền kiếp. Bhagwati nhận rằng anh đã chơi rất thân với Bhajan Singh xưa kia, để thử thách Bhagwati có hỏi Munesh nhiều câu, Munesh trả lời rất chính xác, có những sự kiện mà chỉ hai người biết được với nhau mà thôi. Tới Itarni Munesh không cần người hướng dẫn, tự mình tìm được nhà, và nhảy lên lòng mẹ Bhajan Singh. Munesh ôm chầm lấy bà, y như một đứa con mới tìm lại được mẹ sau nhiều năm xa cách. Mọi người chứng kiến nhìn thấy nước mắt đầm đìa trên gương mặt Munesh. Sau đó Munesh thăm nhà cửa chỉ cho biết những gì đã thay đổi so với hồi tiền kiếp.

Qua những sự kiện trên, Munesh quả là hiện thân của Bhajan Singh, đã từ trần vào năm 1960, lúc 21 tuổi tại Itarni.
-ooOoo-

NECATI
Tác Giả: H.N. Banerjee
Necati Unlustaskiran là một gia đình Ả Rập nghèo tại Thành Phố Adana, Thổ Nhĩ Kỳ. Khi mới chào đời em được đặt tên là Malik. Nhưng hai ngày sau, trong một cơn mộng, người mẹ đã thấy đứa con của mình yêu cầu được đổi tên là Necip.

Vì trong gia đình đã có người mang tên Necip rồi, nên theo tục lệ không thể hai người cùng một dòng họ cùng mang một tên nên gia đình đã quyết định đổi Necip thành Necati.

Khi bắt đầu biết nói, Necati thường kể những chuyện lạ lùng. Em nói những tên và những điều rất lạ mà gia đình em chưa hề thấy bao giờ cả. Em nói đến kiếp trước của em, em kể tên những người em quen biết và tên của những người em đã từng sống chung. Em mô tả em lớn lên như thế nào, và ở tiền kiếp em đã bị một người bạn thân giết.

Em bảo ở tiền kiếp tên em là Necip Budak và em sống ở Mersin, Thổ Nhĩ Kỳ, vợ em tên là Zehara và có ba đứa con. Em nhớ lại là em rất sung sướng khi bồng bế đứa con trai tên Najak đi thăm người bạn thân Ahmed Renkli. Necip và Renkli là đôi bạn chí thiết.

Một việc bất hạnh đã xảy ra với đôi bạn này. Một hôm Ahmed Renkli báo cho Necip biết là Renkli sẽ qua thăm Necip và mang biếu anh một ít trà, nhưng khi Renkli đến lại quên mất trà. Necip phàn nàn và hai người to tiếng cãi nhau..., đi đến ẩu đả. Cuối cùng Renkli đã quá giận rút con dao nhíp sẵn có trong người và đâm túi bụi vào Necip. Necip đã chết thê thảm trên vũng máu.

Những người ở trong thị trấn thấy Necati quả là hiện thân của Necip Budak bị giết trước đây nên đều gọi Necati bằng tên Necip.

Những dữ kiện sau đây do Necati cho biết đã được kiểm chứng và xác nhận:
1. Zehara, vợ của Necip còn đang sống, chồng của Zehara tức Necip bị thảm sát. Zehara cùng Necip có ba người con.

2. Khi mang Necati đến nhà người chồng đã chết, Necati đã nhận được ngay ra được người vợ Zehara, nói được cả tên những đứa con, ngoại trừ đứa con thứ ba sanh sau khi Necip chết.

3. Một sự việc Necati nói là trong một cuộc cãi vã Necip đã lấy dao đâm vào đùi vợ. Ðúng như Necati đã nói, khi khám nghiệm Zehara có thấy một vết sẹo khá lớn trên đùi Zehara do Necip đâm.

4. Adana là nơi sanh của Necati. Adana cách xa Mersin là nơi trú ngụ bị đâm chết khoảng chừng 75 cây số. Gia đình Necati hiện tại và Necip-Zehara đều không có liên hệ và không hề quen biết nhau.

Phải chăng Necati chính là Necip Budak đã luân hồi nên mới có thể nhận được nào là vợ, nào là con và nhất là chỉ được vết sẹo trên đùi vợ mà chính Necip đã đâm trong khi nóng giận?
Đã xemBởi Tây Đô đạo sĩ
Khám phá chu kỳ luân hồi: Con gái đỡ đầu của bạn tôi.
Tác giả: Hàng Minh.
(Nguồn: Chanhkien).

Mùa hè năm 2004, tôi nhận được điện thoại từ một người bạn. Bà nhờ tôi giúp con gái đỡ đầu của bà tìm một công việc, và đây là lần đầu tiên tôi gặp con gái bà. Cô gái trẻ này đã tốt nghiệp một trường học danh tiếng ở Trung Quốc, nhưng cô lại gặp rất nhiều khó khăn khi tìm một công việc ở Mỹ mà phù hợp với trình độ học vấn của cô (cô học văn khoa tại cao đẳng). Sự trắc trở trong sự nghiệp đã khiến lòng tự hào của cô bị tổn thương. Ban đầu, tôi cố gắng an ủi và khích lệ cô: “Bạn đang ở Mỹ quốc mà”, tôi nói. “Phải có lý do gì khiến bạn có mặt ở đây chứ. Ông Trời chắc hẳn đã có an bài cho bạn khi để bạn ở đây. Nếu bạn khó tìm việc, có lẽ đó là do cơ duyên chưa đến thôi. Khi thời điểm tới, không ai có thể ngăn bạn kiếm được một việc làm”. Sau đó cô trở nên an tâm hơn.

Rồi cô bắt đầu tập trung vào việc tìm kiếm một mối quan hệ lãng mạn và sớm có bạn trai. Cô và bạn trai rất yêu nhau và họ đã quyết định thành hôn. Tuy nhiên một ngày nọ, cô bỗng nhiên tới nhà tôi, khóc lóc và kể với tôi rằng bạn trai cô đã quyết định chia tay cô. Cô rất đau khổ, nhưng không dám khóc ở nhà mẹ đỡ đầu nên đã đến nhà tôi để giải tỏa. Nhưng lúc ấy tôi không biết phải làm sao để an ủi cô. Những chuyện tình cảm ân oán trên thế gian này thật là phức tạp. Tôi không phải là Thần tiên, nên tôi không thể giải thích rõ ràng nguyên nhân sâu xa cho cô. Để giúp cô khám phá sự thật, tôi khuyên cô để tôi thôi miên. Cô đã đồng ý. Trong trạng thái thôi miên, cô đã biết được quan hệ nhân duyên giữa cô và bạn trai trong một tiền kiếp, và lý do tại sao anh lại đột nhiên chia tay cô.

Cô tiến nhập vào tiền kiếp khi cô là con gái của một tài chủ giàu có ở ngoại thành Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc vào thời nhà Thanh (1616 - 1911 SCN). Một ngày trong tiết Thanh Minh (ngày tảo mộ ở Trung Quốc), cô cùng người vú nuôi đến thăm chùa Linh Ẩn để thắp hương lễ Phật. Khi cô đốt hương bái Phật, một tiểu hòa thượng trong chùa đã bị dung mạo và cử chỉ của cô cuốn hút và động phàm tâm. Lúc cô đốt hương trong miếu thờ, tiểu hòa thượng đã ngầm đi theo và ngắm cô từ xa. Trực giác nhạy cảm của phụ nữ đã khiến cô nhận ra rằng ai đó đang ngắm cô từ đằng sau. Cô cảm thấy rất xấu hổ và tò mò. Vì sự hiếu kỳ, cô đã quay đầu lại và thấy một hòa thượng trẻ mày thanh mục tú đang dán cặp mắt vào cô. Cô cũng đã động tâm ngay từ cái nhìn đầu tiên. Trên đường trở về nhà từ chùa Linh Ẩn, cô luôn có cảm giác là ai đó đang đi theo và băn khoăn không biết đó có phải là vị hòa thượng kia không. Cô đã cố tình đi chậm lại, nhưng người vú nuôi liên tục giục cô đi về nhà sớm trước khi trời tối. Vài ngày sau, trong thôn có tin đồn rằng một vị sư trẻ đã lảng vảng ở đây. Khi nghe tin, cô biết ngay đó là nhà sư trẻ ở chùa Linh Ẩn, nên cô đã nhờ vú nuôi đi tìm anh ta. Nhà sư trẻ tuổi nhận ngay ra người vú nuôi vì họ đã trông thấy nhau tại chùa. Anh tiếp cận bà và thú nhận rằng anh đã phải lòng tiểu thư và muốn gặp cô để thỏa tâm nguyện. Người vú nuôi trở về và kể lại mọi chuyện. Cô gái rất xúc động và muốn gặp anh, nên cô đã nhờ người vú nuôi sắp xếp cho họ gặp nhau tại sân sau. Sau lần hẹn đầu tiên, họ lại gặp nhau lần thứ hai và thứ ba… Cuối cùng, cha cô khám phá ra mối quan hệ này. Để tránh vũ nhục gia môn, ông đã gả vội cô cho một người đàn ông khác. Nhà sư trẻ sau đó không bao giờ gặp lại cô nữa. Vì không biết điều gì xảy ra nên anh nghĩ rằng cô đã lừa gạt anh, đã đùa giỡn với tình cảm của anh và khiến anh phá giới. Vô cùng đau khổ và thất vọng, anh đã bỏ dở việc tu hành, đi lưu lạc và không bao giờ quay lại chùa Linh Ẩn nữa. Cuối cùng, anh qua đời vì đau khổ.

Nhà sư trẻ hiện tại đã chuyển sinh thành bạn trai của cô, người vừa chia tay cô ngay trước khi cưới. Hiện giờ cô gần như cũng trải qua sự đau khổ tương tự, chỉ có điều vai trò của họ đã đảo lại trong kiếp sống hiện tại. Nhà sư trẻ đã chết trong đau khổ, nhưng đó hoàn toàn không phải là lỗi của cô. Do đó, cô không phải hoàn trả lại anh trong kiếp sống này. Một trái tim tan vỡ và những dòng nước mắt đã là đủ. Sau khi biết được nhân duyên giữa họ, cô đã nguôi ngoai và bắt đầu một tình yêu mới.

Không lâu sau, cô tìm được một người bạn trai mới qua chat trên Internet. Anh đã từng có điểm cao nhất trên toàn tỉnh trong kỳ thi đại học và rồi theo học một trường đại học danh tiếng ở Trung Quốc. Sau đó anh sang Mỹ du học. Sau khi tốt nghiệp, anh làm việc cho một đại công ty với mức lương rất cao. Ngoài ra, anh có rất nhiều phát minh và đã có hơn 20 bằng sáng chế. Cô đã nói chuyện với anh rất nhiều và họ sớm kết hôn.

Khi tôi thôi miên cho cô, cô đã biết được nhân duyên giữa cô và cha mẹ đỡ đầu của cô trong một tiền kiếp. Mẹ đỡ đầu cô cực kỳ yêu thương cô, nhưng cha đỡ đầu cô lại rất sợ cô vì lý do nào đó. Cha đỡ đầu cô làm theo mọi thứ mà cô bảo nhưng không nghe tất cả những người phụ nữ khác trong nhà. Lấy ví dụ, ông không làm theo những gì mà con dâu ông yêu cầu. Ngoài ra, cô gái trẻ này còn rất hòa hợp với người con trai ruột của cha mẹ đỡ đầu. Kết quả là, con dâu cha mẹ đỡ đầu của cô đã ghen với cô và thường gây chuyện trong gia đình vì cô. Cuối cùng, con trai và con dâu cha mẹ đỡ đầu cô đã ly hôn. Cha đỡ đầu cô thường nói: “Chúng ta đã mất đi đứa con dâu một cách lạ kỳ”. Chỉ sau khi được thôi miên, cô mới biết được quan hệ nhân duyên giữa cha mẹ đỡ đầu cô và cô.

Ở một trong những tiền kiếp, cô sinh ra là con trai của một gia đình nghèo túng. Một ngày nọ, cậu bé rất đói và đã ăn cắp đồ ăn từ một nhà nọ. Vì gia đình này cũng rất khó khăn để kiếm miếng ăn, nên chủ nhà đã rất giận dữ. Ông đã treo cậu bé lên cây và để cậu bé nhịn đói ba ngày ba đêm. Sau đó, một bà lão ăn xin đi ngang qua và thấy cậu bé đang đau khổ vì bị tra tấn. Bà không thể làm ngơ nên đã cho cậu bé một bát nước để uống cho đỡ khát. Tuy nhiên, bà không thể giúp cậu bé thoát khỏi sự tra tấn và cứu mạng cậu. Không lâu sau, cậu bé chết.

Người chủ nhà nay đã trở thành cha đỡ đầu của cậu bé (hiện là cô gái) trong kiếp sống hiện tại. Bà lão ăn xin trở thành mẹ đỡ đầu của cô gái trong kiếp sống hiện tại. Có lẽ cha đỡ đầu cô gái sợ và nghe lời cô là vì ông phải trả nợ những gì ông đã làm ở tiền kiếp. Mặt khác, cô gái phải trả ơn cho mẹ đỡ đầu cô, người đã giúp đỡ cô trong tiền kiếp. Vậy thì tại sao có vẻ là cô đang gây rắc rối cho bà? Lúc ấy, tôi đã không thể giải thích mối nhân duyên giữa họ.

Sau đó, câu trả lời đã đến với tôi. Cô ấy đã sớm tìm được một công việc tốt. Đây không phải là một công việc vất vả, nhưng được trả lương rất cao. Sau khi lấy chồng, cô rời khỏi vùng này. Trước khi đi, cô đã để lại công việc cho người mẹ đỡ đầu của cô. Bà ấy từng nói với tôi: “Rất khó để kiếm được một công việc nhàn nhã với mức lương tốt như vậy”. Cô đã giới thiệu mẹ đỡ đầu cô cho người chủ, và ông đã đồng ý thuê mẹ cô thay cho cô. Tôi nghĩ rằng đây là cách mà cô trả lại bà “bát nước” trong tiền kiếp.

Những sự tình ân oán trên thế gian thật khó mà giải thích hay thay đổi được, bởi vì chúng là kết quả của những điều chúng ta đã làm trong tiền kiếp.

Chẳng phải sẽ là tốt hơn nếu chúng ta biết lùi lại trước mâu thuẫn, sau khi biết được Đạo Trời rằng chúng ta gặt cái mà chúng ta đã gieo?
Đã xemBởi Tây Đô đạo sĩ
Thi Sĩ HOÀNG SƠN CỐC.
(nguồn: phongthuyquan)

Triều Tống, Hoàng Đình Kiên tự Sơn Cốc, người tỉnh Giang Tây, huyện Tu Thủy. Trong huyện chỉ có ghi chép truyện về ông. Ông có tài về thi, thư họa, nổi danh ngang với Tô Đông Pha, nên người ta thường nêu danh Tô Hoàng.

Hoàng Sơn Cốc sau khi đậu tiến sĩ rồi được triều đình bổ nhiệm làm tri châu ở Vu Hồ, Hoàng Châu. Khi ông nhậm chức mới 26 tuổi. Một hôm ông đang ngủ trưa, nằm mộng đi ra phố chơi tới một thôn, thấy có một bà cụ đầu tóc bạc phơ đứng trước hương án, trên có để một bát canh miến nấu với rau tần. Miệng không ngớt gọi tên người. Sơn Cốc đến gần xem, thấy bát miến tần tỏa ra mùi thơm ngon, không cưỡng lại được, bèn cầm lên ăn. Ăn xong trở về nhà, bất giác tỉnh dậy. Trong miệng mùi rau tần hãy còn.

Mộng cảnh rất rõ ràng nhưng Sơn Cốc cho là nằm mộng nên cũng không để ý. Ngày hôm sau, lại nằm mộng tương tự, tỉnh mộng, miệng vẫn còn thơm mùi rau tần. Do đó cảm thấy kỳ dị, Sơn Cốc bèn trở dậy lững thững đi ra ngoài tản bộ, tới một chỗ giống như trong mộng. Bèn gõ cửa thì một bà cụ tóc bạc phơ ra mở cửa mời vào. Sơn Cốc ngạc nhiên thấy chính là bà cụ trong mộng. Sơn Cốc hỏi:

- Hôm qua có phải là bà cụ ở trước cửa kêu người đến ăn miến tần không?
- Dạ phải, hôm qua là ngày giỗ con gái tôi. Lúc sinh thời nó rất thích ăn miến tần, nên ngày giỗ nào tôi cũng nấu miến tần gọi nó về ăn.
- Con gái bà cụ mất bao lâu rồi?
- Đã 26 năm rồi! Sơn Cốc nghĩ bụng năm nay mình 26 tuổi, hôm qua là ngày sinh nhật của mình, lại hỏi:
- Ngoài con gái ra, cụ còn ai nữa không?
- Tôi chỉ có một gái, lúc sanh tiền nó thích đọc sách, tin Phật, ăn chay, rất có hiếu, không chịu lấy chồng. Năm 26 tuổi bị bệnh mà mất, lúc sắp mất có nói nó còn muốn trở lại.
- Tôi có thể vào xem phòng cô ấy không? Bà lão bèn chỉ phòng con gái:
- Ông cứ tự tiện vào xem, để tôi đi rót trà. Sơn Cốc vào phòng xem thì ngoài cái giường và bàn ghế ra, ở góc tường có một cái rương lớn. Sơn Cốc hỏi:
- Trong này đựng gì?
- Toàn là sách của cháu.
- Có thể mở xem được không?
- Không biết nó để chìa khóa ở đâu nên không mở được.

Sơn Cốc bỗng nhớ ra chỗ để chìa khóa, bảo bà cụ đi tìm, quả nhiên tìm được. Mở rương ra trong đó toàn là vở chép văn thơ. Sơn Cốc giở ra đọc thì toàn là văn thơ của mình. Sơn Cốc lúc đó mới rõ mình đã tìm lại nhà mẹ kiếp trước. Sơn Cốc bèn quỳ xuống kêu mẹ, rồi rước bà lão về nhà phụng dưỡng suốt đời.

Ở vườn trúc sau nhà, Sơn Cốc có xây một cái đình trong đó có để bia, khắc một bài tán:
    Giống tăng có tóc
    Giống tục thoát trần
    Trong mộng nằm mộng
    Ngộ thân ngoài thân.

Do bài tán này chúng ta có thể thấy chuyển thế là thật, không dối.
Đã xemBởi Tây Đô đạo sĩ
Người chết đi sống lại kể chuyện bên kia cửa tử
(Nguồn:http://vietmymagazine.net/cms/view/3489)

Hiện nay, luân hồi tái sinh là một đề tài nóng bỏng ở xã hội phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng. Chương trình "60 minutes" cách đây vài năm có đề cập đến vấn đề luân hồi tái sinh và báo cáo hiện có đến 78% người Mỹ (vào khoảng 195,000,000) tin có kiếp trước kiếp sau. Raymond Moody, giáo sư triết học, bác sĩ y khoa, là một nhà nghiên cứu người Mỹ tiền phong về vấn đề luân hồi tái sinh, nói rằng, sự hiểu biết về hiện tượng có đời sống khác sau đời sống này (life after life) đã được giấu nhẹm rất kỹ cho đến bây giờ. Nếu ai muốn tìm hiểu xem người Mỹ nghĩ thế nào về luân hồi chỉ việc vào thăm Google, gõ chữ "book on reincarnation" thì sẽ thấy một con số khổng lồ, hơn 2,000,000 tài liệu gồm sách và các bài luận giải về nhân quả và luân hồi.

Cách đây 31 năm, khi cho in cuốn sách đầu tiên "Life After Life" sau nhiều năm tiếp xúc với những bệnh nhân chết đi sống lại, bác sĩ Moody nói, ông chỉ ghi lại trung thực những câu chuyện này mà không cố ý chứng minh là có một đời sống khác sau khi chết. Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay chưa có ai có thể đưa ra một bằng chứng cụ thể để chứng minh có một cảnh giới bên kia cửa tử, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận kinh nghiệm của hơn 8 triệu người lớn ở Mỹ và mấy triệu trẻ con nữa, những người sống lại sau cái chết lâm sàng đã kể những gì họ thấy được sau khi rời khỏi xác thân vật lý.
Bác sĩ Moody kể, lần đầu tiên ông được nghe tả về cảnh giới bên kia cửa tử do người chết hồi dương kể lại (kinh nghiệm cận tử) là khi ông còn là một sinh viên y khoa triết học ở đại học Virginia. Một giáo sư dạy môn tâm thần học kể lại cho sinh viên nghe chính ông đã "chết" đi rồi sống lại 2 lần, cách nhau 10 phút. Ông kể lại những chuyện ly kỳ ông được chứng kiến trong thời gian ông "chết". Thoạt nghe thì anh sinh viên Moody cũng lấy làm lạ nhưng không có ý kiến gì. Anh chỉ giữ cái băng thu âm câu chuyện này để làm tài liệu thôi. Mấy năm sau, ông Moody bây giờ là giáo sư triết ở một trường đại học ở Bắc Carolina. Trong buổi giảng dạy về thuyết bất tử (Phaedo) của Plato, nhà hiền triết nổi tiếng của Hy Lạp thời cổ đại, một sinh viên xin gặp riêng để hỏi thêm về vấn đề sống chết, vì bà của chàng ta đã "chết" trên bàn mổ, sau đó hồi sinh và kể những câu chuyện bà đã chứng kiến rất hấp dẫn. Giáo sư Moody yêu cầu anh sinh viên này kể lại từng chi tiết và ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những chuyện xảy ra cho bà già này gần giống với những mẩu chuyện ông được nghe từ thầy của ông mấy năm về trước. Từ đó, ông cố ý thu thập tài liệu về hiện tượng chết đi sống lại. Ông cũng đưa vấn đề này vào trong các bài giảng của ông, nhưng không đề cập gì đến 2 trường hợp ông được nghe. Ông nghĩ rằng, nếu có nhiều người chết đi sống lại thì thế nào sinh viên cũng sẽ nói ra trong các giờ triết.

Quả vậy, trong mỗi một lớp học chừng 30 sinh viên, khi nào cũng có một anh xin gặp riêng sau giờ học để kể cho ông nghe một câu chuyện chết đi sống lại. Có điều lạ là, những mẩu chuyện này có nhiều tình tiết giống nhau, tuy người có kinh nghiệm chết đi sống lại gồm nhiều thành phần khác nhau, khác về tôn giáo, về học vấn, và địa vị xã hội.

Khi Moody theo học y khoa năm 1972 thì ông đã có một hồ sơ dày cộm về những trường hợp chết đi sống lại. Ông bắt đầu nói đến công cuộc nghiên cứu của ông với những người ông gặp ở trường y. Sau đó, theo lời yêu cầu của một người bạn, ông nhận lời thuyết trình về hiện tượng chết đi sống lại tại một Hiệp hội Y sĩ và nhiều hội đoàn khác. Và sau mỗi buổi thuyết trình, thế nào cũng có người đứng lên kể lại kinh nghiệm chết đi sống lại của chính mình. Dần dà ai cũng biết tiếng ông, nên nhiều bác sĩ đã giới thiệu những bệnh nhân họ cứu sống được mà có những kinh nghiệm lạ lùng trong thời gian họ "chết".
Sau khi vài tờ báo đăng tải tin tức về công cuộc nghiên cứu của ông thì nhiều người tự động gửi những mẩu chuyện tương tự xảy ra với họ. Ông quyết định chỉ chú ý đến trường hợp những người do bác sĩ chứng thực là đã chết lâm sàng (tim ngừng đập, thần kinh não ngưng hoạt động) rồi được cứu sống lại, và trường hợp những người bị tai nạn, hồn lìa khỏi xác ngay nhưng sau đó lại hoàn hồn, đã kể những sự việc họ chứng kiến.

Trong mấy trăm câu chuyện chết đi sống lại, mà tác giả trực tiếp được nghe, Moody nhận thấy, tuy kinh nghiệm của mỗi người có điểm khác nhau nhưng tựu trung thì có thể nói có chừng 15 điểm mà ông thấy người ta hay nhắc nhở:

1. Ngôn ngữ bất đồng
Người nào cũng tỏ vẻ bực bội rằng, ngôn ngữ ở cõi trần không thể diễn tả đúng những sự việc xảy ra ở cõi giới bên kia. Một người trong số đó nói: "Tôi biết, thế giới mà tôi được thấy là một thế giới có hơn 3 chiều, nên không thể nào diễn tả được hết những điều tôi muốn nói với thứ ngôn ngữ 3 chiều của chúng ta".

2. Nghe tin mình đã chết
Nhiều người kể rằng, họ được nghe chính bác sĩ hay những người ở bên cạnh nói rằng họ đã chết. Bà Martin kể: "Tôi vào bệnh viện nhưng họ không tìm ra bệnh. Bác sĩ James đưa tôi sang phòng X quang để chụp ảnh gan tìm bệnh. Vì tôi bị dị ứng với nhiều thứ thuốc nên họ thử trên cánh tay tôi trước. Thấy tôi không có phản ứng gì, họ liền tiêm cho tôi thứ thuốc ấy. Nhưng lần này tôi bị phát dị ứng liền và chết ngay sau đó. Tôi thấy bác sĩ ở phòng X quang vừa chích thuốc cho tôi, bước đến nhấc máy điện thoại. Tôi nghe rõ ông quay từng con số và giọng nói của ông: "Thưa bác sĩ James, tôi đã giết bệnh nhân của ông. Bà Martin chết rồi". Nhưng tôi biết tôi không chết. Tôi cố cử động, cố tìm cách nói cho họ biết là tôi chưa chết nhưng tôi không thể làm gì được. Rồi thấy họ làm thủ tục cấp cứu. Tôi nghe họ nói cần bao nhiêu "cc" thuốc chích cho tôi, nhưng tôi không có cảm giác gì khi mũi kim chích vào da. Tôi cũng không có cảm giác gì khi họ chạm vào người".

3. Tâm an bình và thanh tịnh
Số đông kể rằng, họ tận hưởng được một cảm giác rất an lạc, thật khoan khoái khi mới thoát ra khỏi cái xác của mình. Một người bị bất tỉnh ngay sau khi bị thương nặng ở đầu kể rằng, khi mới bị chấn thương thì anh cảm thấy đau nhói, nhưng chỉ một thoáng thôi, rồi sau đó anh có cảm tưởng như mình đang bềnh bồng trôi trong một phòng tối. Mặc dù hôm ấy trời lạnh lắm mà anh cảm thấy rất ấm áp trong khoảng không gian âm u này. Anh thấy tâm thần mình bình an thoải mái lạ lùng và anh chợt nghĩ "chắc là mình đã chết rồi".

Một bà vật vã, đau đớn và ngất đi sau một cơn đau tim. Khi được cứu tỉnh bà kể: "Tôi bắt đầu thấy sung sướng lạ, mọi lo âu buồn phiền biến mất, chỉ còn lại một cảm giác bình an, thoải mái, thanh tịnh. Tôi không còn cảm thấy đau đớn nữa".

4. Âm thanh
Nhiều âm thanh lạ được tả lại, hoặc khi sắp chết hoặc khi vừa tắt thở. Một người đàn ông "chết" trong vòng 20 phút trên bàn mổ kể lại, rằng ông đã nghe một tiếng kêu ù ù rất khó chịu. Tiếng kêu như phát ra từ trong đầu mình chứ không phải từ bên ngoài. Một người đàn bà kể, khi vừa ngất đi thì bà nghe một tiếng rì rì lớn và bà cảm thấy đang chơi vơi bay lộn lòng vòng trong không gian. Bà còn nghe một thứ tiếng khác cũng khó chịu lắm, như tiếng động lạch cạch, tiếng va chạm hay tiếng rống mà cũng như tiếng gió hú. Những người khác thì nghe một âm thanh dễ chịu như âm nhạc, như trường hợp một bệnh nhân "chết" trên đường đi đến bệnh viện, khi được cứu tỉnh lại ông kể: Ông đã nghe một âm thanh như âm ba của nhiều cái chuông nhỏ từ đằng xa theo gió vọng lại, làm ông nghĩ đến mấy cái chuông gió của Nhật, và ông chỉ nghe mỗi một âm thanh này thôi.

5. Đường hầm tối
Ngay vừa khi nghe tiếng động thì người ta cảm thấy như bị hút mạnh vào một khoảng không gian tối. Người thì nói giống như một hang động; người thì bảo sâu hút như một cái giếng; người khác thì mô tả như một khoảng không, một đường hầm, một ống xoắn, một cái chuồng, thung lũng, ống cống, hoặc khoảng không của một hình vật thể hình trụ. Tuy được diễn tả khác nhau nhưng điều này cho thấy, người nào cũng trải qua kinh nghiệm này. Một bệnh nhân kể: Khi tim anh ngừng đập vì bị dị ứng với thuốc mê thì anh thấy mình như bay qua một khoảng không tối tăm như một đường hầm, với tốc độ cực nhanh như một con tàu đang lao đầu bay xuống ở một công trường giải trí.

6. Giây phút bước ra khỏi xác
Tuy ai cũng biết rằng, cái "Ta" gồm 2 phần: thân và thức, nhưng ít ai hiểu biết được phần Thức vì cho rằng, có thân xác vật lý thì trí óc mới hoạt động được, nào có một đời sống nào khác ngoài đời sống với tấm thân vật lý này. Cho nên, trong quá trình chết đi sống lại, ai cũng bị ngạc nhiên quá mức khi họ được ngắm nghía thân xác bất động của họ. Thực khó tưởng tượng được tâm trạng của những người này, khi họ thấy mình đứng đây mà sao lại còn có thân hình mình nằm bất động ở đằng kia!

Khi hồn vừa lìa khỏi xác, họ chưa ý thức được mình đã chết nên ngẩn ngơ không hiểu được hiện tượng này. Nhiều người muốn nhập vào xác mình lại nhưng không biết làm sao. Có người rất hoảng sợ nhưng cũng có người không sợ hãi. Một bệnh nhân nói: "Bệnh tôi trở nặng, bác sĩ buộc phải vào nhà thương. Sáng hôm ấy tôi thấy một lớp như sương mù bao phủ quanh tôi và cùng lúc ấy tôi thấy mình bước ra khỏi xác. Tôi thấy mình bềnh bồng bay lên phía trên và nhìn xuống cái xác mình nằm ở giường. Tôi không thấy sợ hãi chút nào, chỉ thấy một cảm giác bình yên trong một khung cảnh êm ả thanh bình. Và tôi nghĩ, có lẽ tôi đang đi về cõi chết. Tôi tự nhủ, rằng nếu tôi không nhập trở lại được vào cái xác kia thì tôi chết thật rồi, và như vậy cũng không sao".

Nhiều người nói rằng sau giây phút hoang mang lúc đầu, dần dà họ thấy giác quan mới của thể hồn bén nhạy hơn. Họ có thể nhìn thật xa, nghe thật rõ, đọc được ý nghĩ của người khác, và chỉ cần nghĩ đến chỗ nào họ muốn đi thì đã thấy mình ở đó rồi. Nhưng vì họ không trao đổi gì được với những người xung quanh nên họ thấy cô đơn buồn tủi.

7. Gặp những thể hồn khác
Nhiều người kể lại, họ chỉ cảm thấy cô đơn trong chốc lát thôi, sau đó họ được gặp gỡ và chuyện trò với những người thân, bạn bè quá cố. Một người phụ nữ kể lại cuộc vượt cạn khó khăn, bà bị mất máu rất nhiều trong khi sinh. Lúc đó bà nghe bác sĩ nói là bà không sống được nhưng bà thấy mình vẫn tỉnh táo và ngay khi ấy bà thấy nhiều người vây quanh bà nhưng chỉ thấy mặt thôi. Họ đông người lắm, lơ lửng ở trên trần nhà. Bà nhận ra đó là những người thân và quen đã qua đời, bà thấy bà ngoại của mình và một cô bé bạn học hồi nhỏ cùng nhiều người bà con quen biết khác. Ai cũng có vẻ tươi cười như chào đón bà ở xa về.

Một người khác kể rằng sau khi người bạn thân tên Bob chết vài tuần thì ông cũng suýt chết. Ông thấy mình bước ra khỏi thể xác vật chất và có cảm tưởng như Bob đang đứng cạnh mình. Ông biết đó là Bob nhưng lại trông không giống như hồi còn sống. Tuy nhìn thấy Bob, nhưng không phải nhìn bằng mắt vì chính ông cũng không có mắt! Nhưng lúc ấy ông không nghĩ đến điều này là lạ vì ông không cần có mắt mà vẫn thấy. Ông hỏi Bob: "Bây giờ tôi phải đi đâu, chuyện gì đang xảy ra? Có phải tôi chết rồi không? Nhưng Bob không nói gì cả. Suốt mấy ngày tôi ở bệnh viện, Bob luôn ở bên cạnh tôi nhưng vẫn không trả lời những câu hỏi của tôi cho đến ngày bác sĩ tuyên bố là tôi đã thoát chết thì Bob bỏ đi".

8. Đối diện với người ánh sáng
Tuy tình tiết về kinh nghiệm "chết" của mọi người khác nhau nhưng ai cũng nói đến cuộc gặp gỡ một vị thân toàn ánh sáng. Đây có lẽ một chi tiết lạ lùng nhất đã làm thay đổi cuộc đời của những người chết đi sống lại. Lúc đầu, vị này hiện ra trong thứ ánh sáng lờ mờ, rồi ánh sáng trở nên rõ dần và sau cùng thì hiện toàn thân trong một thứ ánh sáng rực rỡ. Có điều lạ là, tuy rực rỡ nhưng không làm chói mắt. Tuy vị này hiện ra như một tòa ánh sáng mà ai cũng hiểu đây là một người với đầy đủ cá tính nhân phẩm của một cá nhân. Vị này đã ban phát cho họ một tình thương yêu không thể dùng lời nói mà diễn tả được và ai cũng quyến luyến muốn kề cận vị này. Có một điều lý thú là hầu hết mọi người đều tả dung mạo, phong cách của người ánh sáng này giống nhau nhưng khi được hỏi người ấy là ai thì mỗi người nói một cách khác, tùy theo niềm tin tôn giáo của họ.

9. Nhìn lui quãng đời mình
"Người ánh sáng" nhắc nhở người chết tự kiểm thảo đời mình, và cho người chết xem lại quãng đời của mình rõ ràng như được chiếu trên màn ảnh lớn, từ lúc còn nhỏ ở với cha mẹ, lớn lên đi học, đỗ đạt, công danh sự nghiệp...đều hiện lên rất rõ. "Người ánh sáng" nhắc nhở rằng, ở trên đời không có gì quan trọng ngoài tình thương. Một người kể rằng, khi ông được xem quãng đời niên thiếu của ông với cô em gái, người mà ông rất thương yêu; "người ánh sáng" cho ông xem những lúc ông hành động một cách ích kỷ hay tỏ lòng trìu mến săn sóc em mình. "Người ánh sáng" nhấn mạnh đến việc nên giúp đỡ người khác. Dường như vị này rất chú tâm đến sự học hỏi, cứ nhắc nhở ông phải lo trau dồi sự hiểu biết của mình và nói rằng, sau khi thật sự giã từ thế gian để sang cõi này ông cũng vẫn phải tiếp tục học hỏi, vì đó là một quy trình không gián đoạn.

10. Ranh giới giữa hai cõi
Nhiều người nhớ rằng, họ đi dần đến một chỗ giống như một bờ ranh, một bờ sông, một cánh cửa, một vùng sương mù màu xám, một hàng rào, hay chỉ như một đường vẽ dưới đất. Một người bệnh tim kể: "Sau khi lìa khỏi xác, tôi thấy mình đang đi trên một cánh đồng thật đẹp, toàn một màu lục, nhưng khác hẳn màu lục của thế gian và chung quanh tôi tràn ngập một thứ ánh sáng kỳ diệu. Xa xa đằng trước là một cái hàng rào, tôi vội rảo bước sang về phía đó thì thấy một người phía bên kia đang tiến về hàng rào như để gặp tôi, nhưng bỗng nhiên tôi có cảm tưởng bị kéo thụt lùi, và người phía bên kia thì ngoảnh lưng lại đi về hướng xa hàng rào".

11. Trở lại cõi trần
Dĩ nhiên, tất cả những người có kinh nghiệm chết này đều sống lại. Và điều đáng nói là tất cả đều đổi khác sau khi nhìn thấy thế giới bên kia. Phần đông nói rằng, khi vừa tắt thở, họ tiếc nuối thân vật lý lắm, và cố tìm cách trở lại. Nhưng dần dà khi thấy nhiều điều mới lạ ở cảnh giới bên kia thì họ không muốn trở về nữa, nhất là những người đã được gặp gỡ "người ánh sáng" và được vị này ban cho một thứ tình thương bao la vô điều kiện. Nhưng có người thì muốn trở về để tiếp nối một công việc đang dở dang, hay vì các con đang còn nhỏ. Có người nghĩ rằng vì người thân của họ níu kéo, cầu nguyện nên họ không "đi" được như câu chuyện sau đây: "Tôi săn sóc một người cô già. Cô bệnh lần này khá lâu. Đã mấy lần cô tắt thở, nhưng lại được cứu sống, có lẽ vì mọi người trong gia đình ai cũng thương cô và cầu nguyện cho cô bình an. Một hôm cô nhìn tôi và bảo: "Joan, cô đã thấy cõi giới bên kia đẹp lắm. Cô muốn ở lại bên đó nhưng con và mọi người cứ cầu nguyện cố giữ cô lại bên này nên cô không đi được. Thôi, con nói mọi người đừng cầu nguyện cho cô nữa". Và chúng tôi ngưng cầu nguyện thì cô mất một cách bình yên sau đó".

Phần đông nói rằng, họ không nhớ đã "trở về" như thế nào. Họ nói, họ chỉ thấy buồn ngủ, rồi mê đi và khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên giường bệnh như trước khi được sang thế giới bên kia. Nhưng cũng có người nhớ rõ chi tiết khi được trở về. Một người kể, khi hồn vừa lìa khỏi xác, ông thấy mình bị cuốn đi nhanh qua con đường hầm tối. Khi sắp sửa ra khỏi đường hầm thì ông nghe ai gọi giật tên mình ở phía sau, và bất thần ông bị lôi tuột trở lại.

Một ông khác kể là, hồn ông bay lên trần nhà nhìn xuống thấy bác sĩ, y tá đang cuống quýt cứu chữa. Khi bàn sốc đặt vào ngực, toàn thân ông giật nẩy lên và đúng lúc đó ông bị rớt xuống thẳng đứng như một tảng đá và chui tuột vào thân thể trên giường.
Một người khác thì thấy hồn thoát ra từ đỉnh đầu, như được tả trong cuốn "Tử Thư Tây Tạng".

12. Kể lại kinh nghiệm "chết"
Những người đã trải qua kinh nghiệm này nhớ rất rõ là, họ đã ngạc nhiên sửng sốt khi chứng kiến những sự việc đang xảy ra cho họ. Họ bảo chúng đã thật sự xảy ra chứ không phải do trí tưởng tượng hay ảo giác. Tuy thế, nhiều người không dám kể hoặc chỉ kể cho một vài người thân mà thôi, vì họ biết ở xã hội này không ai tin những chuyện như thế, và còn cho là họ bị bệnh tâm thần.

Một cậu bé kể cho mẹ nghe, nhưng vì em còn nhỏ nên bà mẹ không để ý đến những lời em kể, từ đó em không kể cho ai nghe nữa. Người thì cố kể cho mục sư của mình nghe nhưng bị vị này phê bình là mình bị ảo giác. Một cô học trò trung học muốn kể cho bạn nghe kinh nghiệm lạ lùng của mình nhưng bị cho là tâm thần nên đành nín lặng. Vì vậy, ai cũng cứ tưởng chuyện này chỉ xảy ra cho một mình mình thôi.

Khi bác sĩ Moody nói với họ rằng, có nhiều người đã có kinh nghiệm tương tự thì họ có vẻ mừng, vì thấy không phải mình "điên", không phải chỉ một mình mình thấy những chuyện lạ lùng của cõi giới bên kia.

13. Thay đổi tâm tư
Như đã trình bày trên, những người trải qua kinh nghiệm này thường thường không muốn kể với ai, nhưng họ cảm thấy những gì họ kinh nghiệm đã để lại một dấu ấn sâu xa trong đời họ, đã mở rộng tầm mắt của họ, đã thay đổi hẳn lối nhìn của họ về cuộc đời. Một ông tâm sự: "Kể từ ngày ấy, tôi thường tự hỏi, tôi đã làm gì với cuộc đời của tôi, và khoảng đời còn lại này tôi sẽ phải sống như thế nào. Ngày trước muốn gì là tôi làm liền, không suy nghĩ đắn đo. Nay thì tôi thận trọng lắm. Trước khi hành động tôi thường tự hỏi lòng mình xem việc này có đáng làm hay không hay chỉ có lợi cho bản thân thôi? Nó có ý nghĩa gì, có ích lợi gì cho đời sống tâm linh không? Tôi không phê phán người khác, không thành kiến, không tranh cãi. Và tôi thấy hình như mình hiểu rõ mọi sự việc chung quanh một cách đúng đắn hơn, dễ dàng hơn".

Nói chung, những người chết hồi sinh đều thấy đời mình có một mục đích rõ ràng hơn, tâm tư thoải mái hơn, đầu óc rộng rãi cởi mở hơn, tình thương yêu nhiều hơn, và nhấn mạnh đến đời sống tâm linh, cũng như một đời sống khác sau khi chết. Họ như sực tỉnh khi thấy xưa nay mình chỉ "mãi sống", và lúc nào tâm tư cũng lo lắng, mưu cầu, sắp đặt cho ngày mai, hay luyến tiếc quá khứ mà quên sống với giây phút hiện tại. Họ khám phá rằng, đời sống tinh thần thật sự quý báu hơn đời sống vật chất nhiều; rằng thân xác vật lý chỉ là nơi tạm trú cho phần tâm linh. Và họ đều nói đến bài học từ "người ánh sáng": Ở trên đời, tiền tài, danh vọng hay bằng cấp cao cũng không đáng gì, chỉ có tình thương, ý tưởng phụng sự người khác mới đáng kể. Thông điệp thứ hai từ "người ánh sáng" là: Mọi người nên trau dồi trí tuệ và tình thương, vì sống và chết là một quá trình được tiếp nối không ngừng.

Một anh chàng trẻ tuổi đang học làm tu sĩ Tin Lành kể, trước kia anh nghĩ chỉ có những người theo giáo phái của anh mới được cứu rỗi, còn ngoài ra tất cả đều là tà đạo và sẽ phải xuống hỏa ngục hết. Sau khi gặp "người ánh sáng" thì anh thay đổi hoàn toàn. Anh thấy vị này hiền hòa, nhân từ chứ không như niềm tin về sự trừng phạt những người không tin mình như Thánh Kinh miêu tả. Vị này không hề hỏi han gì về giáo phái của anh đang theo mà chỉ hỏi anh có biết yêu thương người khác không.

14. Quan niệm mới về cái chết
Sau khi được thấy cảnh giới đẹp đẽ bên kia, không còn ai sợ chết nữa. Nói như thế không phải là họ chán sống và muốn đi tìm cái chết. Trái lại, họ thấy quý đời sống hơn và hiểu rằng đời sống này là một môi trường tốt cho họ học hỏi. Họ cho rằng, vì còn nhiều việc cần phải làm nên họ mới "bị" trả về và làm cho xong, để sau này được ra đi 1 cách nhẹ nhàng.

Một người kể: "Kinh nghiệm này đã thay đổi hẳn cả cuộc đời của tôi mặc dù chuyện này đã xảy ra lúc tôi mới 10 tuổi. Từ đấy tôi tin tưởng hoàn toàn rằng, có một đời khác sau đời sống này và tôi không hề sợ chết. Tôi thường tự cười thầm mỗi khi nghe có người cho rằng chết là hết".

Có người thì ví cái chết như là một sự di chuyển từ một nơi này sang một nơi khác, hay từ một con người vật chất sang một thể tâm linh cao hơn. Có một bà, sau khi thấy có nhiều người thân đến chào, có cảm tưởng như mình được đón tiếp về nhà sau một thời gian đi chơi xa. Người khác thì nói rằng, dùng từ "chết" để tả lại cảnh tượng này là không đúng, vì đây giống như một sự thay đổi chỗ ở. Một người khác nữa thì ví thân thể mình như là nhà tù, và khi chết thì được thoát ra khỏi cái ngục tù đó!

15. Chứng cớ cụ thể
Dĩ nhiên, có nhiều người đặt câu hỏi, những chuyện do người chết hồi sinh kể lại có thể tin được không, có chứng cớ gì không? Câu trả lời là có. Thứ nhất, các bác sĩ thấy các bệnh nhân đã tắt thở, tim đã ngừng đập, nên họ mới dùng phương pháp cấp cứu, vậy mà sau khi hồi sinh, bệnh nhân đã dùng danh từ y khoa kể lại đầy đủ chi tiết những gì xảy ra trong khi họ nằm bất động trên giường!

Một cô gái sau khi lìa khỏi xác đã đi qua phòng bên cạnh và thấy chị mình đang ngồi khóc và kêu thầm: "Kathy, đừng chết! Em ơi đừng chết!". Sau khi hồi tỉnh, cô kể lại chi tiết này và chị cô không hiểu sao cô lại biết rõ như vậy. Một nạn nhân kể lại đầy đủ tình tiết về những người chung quanh, họ đã nói những gì, ăn mặc ra sao v.v... Một bà kể, khi hồn lơ lửng trên trần nhà, bà thấy một chùm chìa khóa trên một nóc tủ. Chùm chìa khóa này của một bác sĩ, trong lúc vội vàng đã vứt lên đó đã mấy ngày trước và quên bẵng đi...

Đó là toàn bộ những câu chuyện được bác sĩ Raymond Moody viết lại.
...
Đã xemBởi Tây Đô đạo sĩ
Ly kỳ về tiền kiếp của vua Minh Thần Tông ở nước Việt

Minh Thần Tông (1572-1620) tên thật là Chu Dực Quân, hoàng đế thứ 13 của triều Minh (Trung Quốc). Trong sử sách hiện lưu truyền một câu chuyện kỳ lạ về tiền kiếp của ông tại một ngôi chùa ở làng Bóng, xứ Đông của nước Đại Việt.

Thời vua Lê Kính Tông (1599-1619) và chúa Trịnh Tùng (1570-1623), năm ấy, triều đình cử một đoàn sứ bộ sang nước Minh; Nguyễn Tự Cường (1570-?), tiến sĩ khoa thi Giáp Thìn (1604) được bổ làm chánh sứ. Khi ở phương Bắc, vị sứ thần nước Việt đã vô cùng kinh ngạc khi được biết một câu chuyện ly kỳ do chính vua Minh Thần Tông kể.

Bấy giờ, sau khi thực hiện các nghi thức và công việc ngoại giao, lúc vào cung bái yết Hoàng đế, Minh Thần Tông bỗng hỏi sứ thần Nguyễn Tự Cường rằng: “Người ở nước Nam, vậy có biết chùa Quang Minh của nước Nam ở đâu hay không?”. Nguyễn Tự Cường đáp là không biết, ông băn khoăn tự hỏi không rõ vua Minh muốn biết đến ngôi chùa đó làm gì.

Thấy vẻ mặt đăm chiêu của viên Chánh sứ, Minh Thần Tông nhân đó mới nói với Nguyễn Tự Cường rằng: “Lúc mới sinh ra, trên vai ta đã có hàng chữ son, nói rõ kiếp trước của ta chính là vị thiền sư ở chùa Quang Minh. Nay, ta muốn xóa dòng chữ ấy đi mà chưa biết phải làm như thế nào”. Nguyễn Tự Cường thưa: “Thần nghe nói nhà Phật có nước công đức để tẩy trần. Nếu Bệ hạ là kiếp sau của thiền sư trụ trì chùa Quang Minh thì phải lấy nước giếng của chính chùa Quang Minh mới có thể rửa được”.

Về nước, Nguyễn Tự Cường đem việc này tâu với triều đình. Triều đình bèn cử người đi tìm ngôi chùa mà Minh Thần Tông đã nói tới.

Ngôi chùa đó chính là chùa Bóng tên chữ là Quang Minh Tự, vì xây dựng trên đất làng Bóng nên có tên dân gian như vậy; nơi đây thuộc địa phận xã Hậu Bổng, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay). Chùa Bóng không chỉ nổi tiếng về vẻ đẹp mà còn được biết đến bởi có nhiều vị cao tăng đạo hạnh, có công lao hoằng dương Phật pháp, trong đó, có thiền sư Huyền Chân (còn gọi là thiền sư Bật Sô). Theo Quang Minh tự sự tích cho hay, thiền sư Huyền Chân người làng Hàm Nghi, xã Danh Hương, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Kiến Xương, Thái Bình) thế danh là Đức, sinh và mất năm nào chưa rõ.

Tương truyền rằng khi đã về già, một hôm, thiền sư Huyền Chân nằm mơ thấy Phật A Di Đà đến nói cho biết rằng: “Ngươi dày công với Phật sự đã lâu, lòng từ bi của ngươi đã được Phật Tổ thấu hiểu, vì thế, đến kiếp sau, ngươi sẽ được làm Đại đế ở phương Bắc”.

Tỉnh dậy, thiền sư Huyền Chân liền kể lại giấc mơ với đệ tử của mình và dặn: “Sau này, lúc ta viên tịch, các con hãy lấy son viết lên vai ta mấy chữ sau: An Nam quốc, Quang Minh tự, Sa Việt Tì khưu sau đó mới đem nhục thân của ta đi hỏa thiêu”. Các đệ tử đều lắng nghe, ghi nhớ và về sau làm theo đúng ý của thiền sư Huyền Chân.

Vậy là qua tìm kiếm, triều đình nhà Lê không chỉ biết được ngôi chùa Quang Minh mà còn khám phá ra một câu chuyện lạ về tiền kiếp của ông vua nước láng giềng phương Bắc. Sau đó, nhà Lê cho lấy nước giếng của chùa Quang Minh đem sang biếu Minh Thần Tông. Minh Thần Tông liền dùng nước ấy để rửa thì quả là rất hiệu nghiệm, lấy làm vui mừng vì thế đã sai gửi 300 lạng vàng thưởng cho Nguyễn Tự Cường. Tự Cường liền đem toàn bộ số vàng này cúng cho chùa Quang Minh để lo việc trùng tu.

(nguồn: baodatviet).
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi khachtrangian
Bộ phim tài liệu "Thí nghiệm về sự tái sinh" của con người.
Thứ Bảy, 16/03/2013, 08:52 AM (GMT+7).

(TTVN) - Gwen McDonald là nhân chứng sống trong một bộ phim tài liệu nổi tiếng cho thấy câu chuyện bí ẩn về sự tái sinh của con người là có thật.

Sự tái sinh của con người vẫn là một câu chuyện bí ẩn. Trong số nhiều nghiên cứu về vấn đề này, nhà tâm lý học người Australia, Peter Ramster đã thực hiện một bộ phim tài liệu nổi tiếng được gọi là “Thí nghiệm về sự tái sinh” vào năm 1981.

Để giải đáp câu chuyện bí ẩn về sự tái sinh của con người, trong các thí nghiệm của mình, Peter Ramster đã đưa ra các bằng chứng thuyết phục về cuộc sống trong quá khứ của những người mà ông điều tra nghiên cứu. Một trong những nhân vật nổi bật trong bộ phim tài liệu của ông là Gwen McDonald. Gwen McDonald vốn không tin vào sự tái sinh thế nhưng người phụ nữ này đã nhớ lại cuộc sống của mình ở Somerset, nước Anh từ những năm 1765 đến 1782.

Ngoài Gwen McDonald còn có nhiều nhân chứng khác, từ trẻ em cho đến người trưởng thành đều nhớ được cuộc sống trước đây của mình. Một phụ nữ khác cũng nhớ được cuộc sống của mình trong thời kỳ cách mạng Pháp. Dù không hề biết thứ tiếng này, trong trạng thái mơ màng, chị có thể nói tiếng Pháp một cách lưu loát, hơn nữa giọng điệu hoàn toàn là của người Pháp. Chị sử dụng thứ tiếng này để trả lời các câu hỏi và kể được tên các con phố ở Pháp đã bị thay đổi và chỉ có thể tìm thấy trên các bản đồ cũ.

Thí nghiệm của Peter Ramster đã thu hút sự chú ý của dư luận tuy nhiên để giải đáp câu chuyện bí ẩn về sự tái sinh của con người đòi hỏi những bằng chứng thuyết phục hơn, vì vậy cần có sự tham gia của nhiều nhà khoa học.

Các tài liệu sau đây bằng chứng khoa học tìm hiểu về luân hồi.

Đối tượng bình thường, sống cuộc sống bình thường được thôi miên sâu và hỏi về cuộc sống trước đó của họ. Những gì bạn sẽ nghe thấy có thể gây sốc cho bạn.

Người nói tiếng Anh, người không được học tiếng nước ngoài tất cả đều đột ngột nói thông thạo loại ngôn ngữ giao tiếp tiếng Pháp hoặc tiếng Đức từ vị trí và thời đại mà trong lúc bị thôi miên đã tiết lộ kiếp sống quá khứ của họ. Không chỉ những người này xác định tên và địa điểm nơi họ đã sống, mà còn mô tả các chi tiết phức tạp mà một người nếu không sống ở đó vào thời điểm đó trong lịch sử lại có thể cho biết được. Bị thôi miên một phụ nữ thậm chí có thể đọc bản đồ mà không cần kính điều không thể nếu cô ấy không bị thôi miên.

Một phụ nữ khác đã bị thu hút một hình vẽ phức tạp trên sàn của một ngôi nhà ở Anh trong một cuộc sống quá khứ. Đưa cô đến vị trí trên một lục địa cô chưa bao giờ đặt chân lên trong cuộc sống này, trong trạng thái thôi miên, cô dẫn các nhà nghiên cứu đến một khu nhà cũ đã được chuyển đổi thành một chuồng gà. Đào xuống qua nhiều lớp bụi bẩn đến sàn nhà bằng đá sau khi dọn sạch để lộ ra rất nhiều ký hiệu đã thu hút cô trong trạng thái thôi miên.

Chúng ta chỉ còn lại hai kết luận có thể. Trước hết chúng ta thực sự tái sinh và có vẻ như chúng ta trở lại trái đất trong nhiều cuộc sống hoặc thứ hai mà qua thôi miên các đối tượng này bị sở hữu bởi linh hồn những người biết về các chi tiết phức tạp của đời sống quá khứ của người khác.

Quan sát cách những ký ức hồi tưởng nhanh chóng của những người được thôi miên này dường như họ đã được đưa trở lại nơi họ đã sống trước đây trong cuộc sống khác, có thể cho rằng luân hồi là một thực tế của cuộc sống và không chỉ đơn giản nghi ngờ là những thủ đoạn gian trá.

Chứng kiến những chuyện này nhiều khi khiến chúng ta hiểu được những cấu trúc đáng ngạc nhiên của luân hồi. Tại sao trên trái đất vẫn lưu giữ tất cả quá khứ huyền bí trong bóng tối hằng bao nhiêu năm mà chúng ta không biết. Tuy nhiên, tất cả như đang được bắt đầu bộc lộ để nhìn nhận, tận mắt chứng kiến tất cả.

Tiến sĩ Michael Newton của Viện Newton, một trong những người cung cấp ghi nhận các tiết lộ của cuộc sống trong lúc thôi miên nói với chúng ta rằng: "Một trong những điều chính hướng dẫn và dạy cho chúng ta là xem lại cách chúng ta đối xử với những người khác trong cuộc sống. Những gì chúng ta đã làm cho những người khác dường như trái ngược với mong muốn cho chính mình ".

Được lược dịch và xem thêm chi tiết rất nhiều trường hợp khác tại:
http://libertyforlife.com/religion/reincarnation.html