Hai bài thơ viết dưới thời Lê Đại Hành:1. NAM QUỐC SƠN HÀ:Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.Bản dịch thơ:Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời
Bản dịch khác:Sông núi nước Nam vua Nam ở
Sách trời phân bờ cõi rõ ràng
Cớ nào giặc đến chiếm ngang?
Chờ xem bay sẽ tan hàng bại vong.
Bản dịch khác: Bản dịch SGK Ngữ văn lớp 7, tập 1, trang 62 (Lê Thước và Nam Trân dịch):
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Nam quốc sơn hà (Hán tự: 南國山河) là một bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam. Chương Nhân Tông hoàng đế nhà Lý, năm Bính Thân (1076), vua sai Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt, sử gia viết rằng: “Tục truyền rằng, Thường Kiệt đắp luỹ làm rào ở dọc sông để cố giữ. Một đêm các quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân, có tiếng ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà nam đế cư… Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến, đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Đại Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã hơn quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hòa, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giữ vững bờ cõi nước Đại Việt (Việt Nam). Về tác giả và xuất xứ, có nhiều luồng ý kiến, trước đây SGK Ngữ Văn đăng bài thơ với tác giả là Lý Thường Kiệt, sau này đã được sửa lại là vô danh.
Nguồn Wiki
- Bài xem thêm:
Thần khải về Nam Quốc Sơn Hà2. BÀI QUỐC TỘ- Quốc sư Pháp Thuận
Nguyên văn bài Quốc Tộ như sau:Quốc tộ như đằng lạc
Nam Thiên Lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binhII. Nội dung bài thơ:1. Câu thứ nhất: "Quốc tộ như đằng lạc."Quốc tộ là khái niệm chỉ vận mệnh đất nước do vua nắm quyền và chi phối toàn bộ cuộc sống con người. Cho nên, người ta cũng gọi là quốc tộ là quốc vận nước nhà, là ngôi vua.
Lại nữa, các vua anh minh thường vời những bậc tiên tri làm cố vấn và thường hỏi họ Quốc tộ như thế nào? Nghĩa là, vua rất muốn biết, đất nước này, ngôi vị này tốt hay xấu, có biến cố hay không có biến cố, thế tạm thời hay cố định, nước vận suy hay thịnh, yên hay nguy,…? Một lần, vua Lê Đại Hành hỏi Pháp sư: Quốc tộ trường đoản. Pháp sư trả lời: Quốc tộ như đằng lạc!
Vậy, như đằng lạc có ý nghĩa gì?
Trước hết, nói về cây đằng lạc. Cây này do thiên nhiên sinh ra và từ lâu vẫn được gọi là đằng lạc hoặc như dằng lạc. Về hình thức, chúng bám vào cây cao và to, vươn tới 20 mét, thậm chí còn bao trùm toàn bộ một cây cổ thụ lớn. Đặc biệt, lá và ngọn đằng lạc vươn lên như ở thế đang xông thẳng trời.
Vì thế, người xưa lấy cây đằng lạc làm biểu tượng văn chương và thư pháp. Nhiều sách cổ đã miêu tả cây đằng lạc tung hoành, vươn cao và bò xa, tựa như con người đang ở thế thịnh vượng bao trùm. Bởi thế, quốc tộ sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng thú vị hơn, đằng lạc lại là cây thuộc y dược quan trọng mà người xưa đã phát hiện ra tính chất đặc quý của chúng, là thọ trường, vạn bệnh hồi xuân cho nên câu trả lời Quốc tộ như đằng lạc của Pháp sư vừa chỉ ra sự thực vận mệnh đất nước ta, ngôi vị vua ta, đồng thời cũng là câu chúc tụng Hoàng đế Lê Đại Hành: Thượng thọ vĩnh hằng.
2. Câu thứ hai: "Nam Thiên lý thái bình"Nam Thiên là Trời Nam, chỉ Thiên tử nước Nam. Đúng như Nguyễn Giác đã viết: Thiên ngoại hữu Thiên. Nếu câu đầu, chủ ngữ là Quốc tộ thì câu 2 có chủ ngữ là Nam Thiên và có động từ lí, thuộc bộ y, bao quát toàn bộ đất nước; nghĩa là đất nước ta hoàn toàn thái bình.
Ta cứ xem, bắt đầu lên ngôi năm 980, Lê Đại Hành đã dẹp yên nội nạn (giết Đỗ Thích ở Hoa Lư, chém Đinh Điền tại Ái Châu, bắt Nguyễn Bặc đem chém, bắt sống Phạm Hạp tại Bắc Giang, Ngô Nhật Khánh bị chết chìm ở cửa biển,…). Rồi cùng một lúc, Ngài đánh Tống 2 năm (Canh Thìn 980 – Tân Tị 981), dẹp tan Chiêm Thành năm Quý Mùi 983. Quả đúng như Ngô Sĩ Liên nhận xét: Vua Đại Hành “Đẩy lùi ngoại khấu để an dân, trong nước thì yên vui, Bắc Nam vô sự”[8].
3. Câu thứ ba: "Vô vi cư điện các"Trước hết là điện các. Đây là cơ quan Chính phủ, nơi vua và triều đình điều hành đất nước. Còn động từ cư chỉ hành xử, cư xử của bậc Hoàng đế; nghĩa là, vua Lê Đại Hành điều hành đất nước ta: Cư điện các.
Riêng vô vi thuộc khái niệm triết học. Vả chăng, đã là thuật ngữ khoa học thì chúng chỉ có một nghĩa, không thể có nghĩa đen và nghĩa bóng như soạn giả ngữ văn 10 tập một đã viết trong phần Tiểu dẫn[9]. Về cơ bản, ở Việt Nam thời trung đại có ba học thuyết Nho, Phật, Lão và chúng đều có thuật ngữ vô vi. Song mỗi học thuyết đều dùng nghĩa vô vi khác nhau.
Nhưng, rõ ràng Pháp sư nói với vua Lê Đại Hành rất đàng hoàng: Vô vi cư điện các. Điện các là cơ quan hành pháp. Cho nên, đây không phải là khái niệm vô vi của nhà Phật, cũng không phải thuộc vô vi của Đạo gia. Nho gia chủ trương chọn người hiền, giao chức tước cho người tài đức. Bởi vậy, vô vi của nhà nho lấy đức để giáo hóa con người. Việc lấy đức để giáo hóa con người, chọn và giao chức tước cho người tài đức sẽ đưa đất nước tới đích.
4. Câu cuối cùng: "Xứ xứ tức đao binh"Đây cũng là điều pháp sư mong mỏi khắp nơi sẽ chấm dứt việc đao binh, cũng có nghĩa là, toàn quốc thái bình. Toàn quốc thái bình thì “quốc tộ” sẽ “như đằng lạc” mãi mãi dài lâu.
Lời nói của Đỗ Pháp sư dung dị như những lời nói thường ngày, ý tứ rõ ràng, hình ảnh dễ hiểu và dễ nhớ. Đấy cũng là đặc điểm của văn học chức năng hành chính được dưới hình thức thơ ngũ ngôn.
- Bài xem thêm:
Thần khải về Quốc TộNguồn internet