Đã xemBởi tamtan
(Trích trong Thần linh xứ Việt).
...
Vị hòa thượng trụ trì trên núi Tây Ninh đang niệm Phật, bỗng thấy một người con gái mặt đen hiện ra mà bảo:
- Ta đây là Lý Thị Thiên Hương. Năm 18 tuổi, chẳng may gặp bọn gia nô của quan trấn ở Trảng Bàng đuổi bắt, ta nhào xuống hố thẳm tử tiết mà bỏ xác phàm. Nhờ căn cứ tu mấy kiếp đã trải qua, nên linh hồn siêu thoát, đắc quả vị thần thông. Xác ta dù đã ba ngày vẫn còn nguyên vẹn. Hòa thượng nên xuống triền núi phía đông nam tìm thi hài mà chôn cất giùm.
Hoà thượng theo lời tìm gặp xác, đem chôn cất.

Chuyện lạ đồn thấu tai Thượng quốc công Lê Văn Duyệt, ngài thân hành lên núi xem xét hư thực. Ngài tuyên ngôn cho người khuất mặt biết:
- Hồn trinh nữ Thiên Hương quả có hiển linh, hãy xuất hiện cho bổn chức xem thử.
Một cô gái chạy đến ứng tiếng: Tôi chính là Lý Thị Thiên Hương đây.

Thì ra Lý Thị Thiên Hương nhập xác vào cô gái, và nói tiếp:
- Tôi xin mách bảo trước cho thượng quan được biết. Hồn của thượng quan sau này sẽ được phong thần vinh hiển, nhưng xác của thượng quan sẽ bị hành hạ, mả bị xiềng xích tên tuổi bị đục khoét, sau này mới được minh oan.
Ngài thượng công Lê Văn Duyệt nói:
- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình, mà muốn biết rõ căn do của nàng.

Hồn Lý Thị Thiên Hương nói:
- Thượng Đế chứng lòng đoan trinh của thiếp, nên đã cho được chết đoạn luân hồi. Nay được ơn trên cho xuống trần cứu nhơn độ thế.

Nhớ lúc quốc biến, chúa tôi Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam lạc hưởng tại vùng núi Điện Bà, được bà mách bảo phải tá binh Xiêm, sau này thống nhất được giang san. Dứt lời xác cô gái ngả ra lâu mới tỉnh dậy.

Ngài Thượng Công dâng sớ về triều tâu mọi việc. Vua Gia Long nhớ lại chuyện năm xưa bèn sắc phong Lý Thị Thiên Hương là “Linh Sơn Thánh Mẫu" chủ trì Linh Sơn tiên thạch động, ngự ở Núi Một, tức là núi Bà Đen ở Tây Ninh ngày nay.
Sửa lần cuối bởi LinhChauTu vào ngày Chủ nhật Tháng 7 25, 2010 1:15 pm với 3 lần sửa trong tổng số.
Đã xemBởi haibanhtrang
THIÊN HẬU THÁNH MẪU < Thiên Hậu Nương Nương >

Bà Thiên Hậu là vị Phúc Thần của Trung Quốc, tên là Mị Châu sinh ngày 23 tháng 03 năm 1044 < Giáp Thân, niên hiệu Bảo Nguyên thứ 6, đời vua Tống Nhân Tông> tại Phúc Kiến.

Ngay từ nhỏ, bà đã tỏ ra khác người, không khóc, chỉ mỉm cười và có tư chất rất thông minh. Năm lên 8 tuổi, bà bắt đầu đi học và nhớ ngay mặt chữ. Năm 11 tuổi, bà quy y đạo Phật, nhanh chóng làu thông kinh sách. Đến năm 13, bà được thần Võ Y truyền sách < Nguyên Vị bí quyết >. Sau bà luyện phép < Linh Cảm >, có thể đoán được quá khứ, vị lai.

Một lần, cha và anh bà đi biển gặp sóng gió. Biết chuyện, bà nhắm nghiền mắt, cắn chặt hàm răng, đôi tay vươn về phía trước, như cố níu vật gì đó, miệng bà ú ớ, phát ra vài tiếng, như vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, rồi mở mắt, bật khóc, nói với mẹ: cha và anh con gặp giông bão, thuyền đắm, đang chới với. Con cắn dây lưng áo cha, tính lôi vào bờ, mẹ kêu giựt vội, con phải trả lời, nên há miệng, cha chìm mất, còn anh con dùng tay níu vào được. Vài bữa sau, người anh về thuật lại, giống như câu chuyện xảy ra tại nhà. Chuyện này đồn đại ra khắp nơi. Sau đó bà thăng thiên và hiển linh, cứu nhân độ thế người dân đi biển.

Hầu hết các ngôi Chùa, Miếu của người Hoa và một số ngôi chùa của người Việt đều thờ hoặc phối thờ bà THIÊN HẬU THÁNH MẪU. < theo di tích lịch sử THIÊN HẬU NƯƠNG NƯƠNG >.
Đã xemBởi haibanhtrang
QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

THƠ ẤU Quan Vũ (160-219) tên tự là Vân Trường (còn có tên tự khác là Trường Sinh). Ông là người huyện Giải, quận Hà Đông. Một buổi sáng của năm Kiến Ninh thời vua Linh Đế nhà Đông Hán, lão phương trượng chùa Phổ Cứu của phủ Bồ Châu đang ngồi trong thiền phòng của mình thì có một bé trai gương mặt hồng hào, cặp mắt to chạy đến xin lão phương trượng được ở lại chùa. Lão phương trượng rất thích chú bé nhanh nhẹn, hoạt bát này nhưng chỉ hiềm nỗi nhà chùa không đủ sức nuôi chú. Nhìn em bé có tướng mạo phi phàm, lão phương trượng dự đoán tương lai của chú bé không phải tầm thường. Ông bèn đem chú bé gửi gắm cho đôi vợ chồng thợ đá họ Thường vẫn đến làm các công việc về đá trong chùa và dặn dò họ nhớ phải nuôi nấng chú bé thành người.

Vợ chồng người thợ đá họ Thường năm ấy tuổi đã trung niên mà không có con, vì vậy họ rất thương yêu và nuôi dưỡng chú bé cẩn thận. Lại sợ nếu để xảy ra điều gì thì phụ lòng phương trượng nên họ đặt tên cho em là Trường Sinh, với mong muốn mọi sự tốt lành cho đứa bé. Vài năm sau, khi Trường Sinh đến tuổi đi học võ, vợ chồng họ Thường đem hết vốn liếng tích luỹ được để gửi em đến trường tư. Trường Sinh vốn thông minh, ham học, thường trông đèn học đến khuya. Không bao lâu sau, Trường Sinh học thuộc lòng cả bộ sách "Lã thị Xuân Thu".

Khi lớn lên, Trường Sinh không những có tướng mạo phi phàm, uy phong lẫm liệt mà còn có sức khoẻ hơn người. Ngoài thời gian học tập, cậu thường xuyên luyện tập võ nghệ, bài binh bố trận, trẻ con trong làng thường đi theo cậu chơi bời luyện tập. Khi nghe tin vợ chưa cưới của bạn mình Lý Sinh bị con trai của thái thú Bồ Châu là Hùng Dương cướp mất, Trường Sinh nổi giận, cùng bạn đến công phủ kiện Hùng Dương. Hùng Dương cậy thế bố là thái thú hùng hổ nên khinh người vu vạ lại cho bọn Trường Sinh. Trong cơn tức giận Trường Sinh ra tay đánh chết Hùng Dương. Sau khi đánh chết Hùng Dương, Trường Sinh không dám lưu lại quê nhà phải tìm đường chạy trốn. Chạy chưa được bao xa thì thái thú Hùng Hổ đem quân đuổi kịp định bắt giữ Trường Sinh. Không kịp suy tính trước sau Trường Sinh giết sạch cả thái thú lẫn quân lính.

Vụ việc đó chấn động cả quan quân, Trường Sinh bị truy nã gắt gao. Một lần trong cơn nguy khốn, Trường Sinh gặp một bà lão đang giặt đồ bên sông bèn xin giúp đỡ. Chưa kịp dứt lời thấy hình mình phản chiếu trên mặt nước, cậu vô cùng ngạc nhiên khi mặt mình đỏ hơn trước nhiều, hai bên mép và dưới cằm mọc ra 5 chòm râu dài. Quay lại không thấy bà lão giặt đồ đâu nữa. Trường Sinh không cần suy nghĩ gì thêm nữa, cứ nhằm cổng thành Bồ Châu mà đi thẳng. Một tên lính gác ngăn Trường Sinh lại, hỏi họ tên. Lúc ấy đúng vào cuối mùa xuân, bầu trời trên cổng thành trong sáng, từng đám mây xốp bay nhẹ, một đàn chim én bay qua làm một chiếc lông vũ xuống đất. Trường Sinh lập tức trả lời: "Tôi họ Quan, tên Vũ, tự là Vân Trường". Từ đấy suốt cuộc đời chinh chiến cái tên Quan Vũ đã gắn liền với cuộc đời của ông

Quan Công bị tướng Ngô là Lã Mông dùng kế "bạch y độ giang" lừa lấy Kinh Châu, không được tiếp viện và bị bắt sống ở phía bắc Mạch Thành (ở phía đông nam của Đương Dương, Hồ Bắc ngày nay). Tôn Quyền dụ hàng ông không được nên đã giết Quan Vũ. Khi chết ông 58 tuổi.

Hiển thánh ở núi Ngọc Toàn
Khi ấy linh hồn Quan Công chưa tan. Ðến một nơi tên Kinh Môn Châu, Hướng Dương huyện có hòn núi tên Ngọc Toàn. Ở trên có nhà sư Phổ Tịnh. Ðêm ấy bỗng có tiếng la lớn: - Trả đầu cho ta . Phổ Tịnh nhìn lên thấy có người cưỡi con Xích Thố , tay cầm thanh long đao, tả hữu hai tướng. Ba người ở trên không sa xuống núi Ngọc Toàn. Phổ Tịnh hỏi ở đâu? Hồn Vân Trường bèn thưa: - Bạch sư cụ, đây là đâu? Xin cho biết pháp danh? Phổ Tịnh nói: - Lão tăng tên Phổ Tịnh, khi trước tại ải Dịch Thủy đã gặp Quan Hầu nay quên rồi sao? Quan Công nói: - Trước kia nhờ ngài cứu, tôi vẫn ghi ơn, nay tôi đã chết. Xin ngài chỉ dẫn đường mê muội cho tôi. Phổ Tịnh nói: - Xưa trái nay phải, nhất thiết không bàn, nhân trước quả sau. Nay tướng công bị Lã Mông làm hại đòi trả đầu ra đây, thế thì trước kia Nhan Lương, Văn Xú và sáu tướng trong 5 ải và biết bao đầu quân lính, thì đòi vào đâu? Quan Công tỉnh ra, biến mất. Phổ Tịnh biết Quan Công đã hiển thánh.

Tôn Quyền giết được Quan Công, lấy được Kinh Châu bèn khao thưởng ba quân và nói: - Ý ta muốn đoạt Kinh Châu đã lâu, nhưng chưa làm được nay Tử Minh bàn kế giết được Vân Trường, lấy được Kinh Châu, công ấy rất lớn. Nói xong, rót rượu thưởng cho Lã Mông. Lã Mông tiếp chén rượu, vừa định uống bỗng quăng chén xuống đất, nhảy tới thộp ngực Tôn Quyền, mắng lớn: - Thằng mặt xanh râu đỏ, và bọn chuột kia mi biết ta chăng? Ai nấy đều thất kinh. Lã Mông bèn xô Tôn Quyền xuống đất, nhảy lên chỗ của Quyền mà hét lớn: - Hán Thọ Ðình Hầu Vân Trường là ta đây. Tôn Quyền cả kinh, quì lạy. Lã Mông liền té xuống đất, hộc máu mà chết. < Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa >.
Đã xemBởi Vạn An
Người ta thờ ông Quan Công vì lòng trung can nghĩa khí của ông, dù cho Tào tháo mang vinh hoa phú quý để mua chuộc ông, muốn ông bán đứng đại ca của mình hay bày kế để ông phạm vào nữ sắc... ông đều không chịu làm theo.
Những lục lâm thảo khấu thời xưa và những tay giang hồ ngày nay, cho tới những cảnh sát nhất là ở Đài Loan, Hồng Kông thường là thờ Quan Thánh. Ông là người chỉ có phục vụ cho đất nước và làm chuyện công nghĩa, có đức độ nên sau khi ông chết đi thì hiển thánh và được dân gian tôn sùng. Có nhiều người trong giới giang hồ thích niệm Quan Thánh để được điểm đạo và cũng có được ấn chứng...
Đã xemBởi haibanhtrang
BÀ CHÚA XỨ < Châu Đốc, An Giang >

Ngọn núi có nhiều thắng cảnh ở vùng Bảy Núi (Thất Sơn), tỉnh An Giang. Núi Sam cao 284 m, cách thị xã Châu Đốc 5 km. Chân núi có đường rộng bao quanh, trên núi có gần 300 chùa, lăng, am miếu. Nổi tiếng nhất là miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu. Miếu Bà Chúa Xứ có tượng Bà Chúa Xứ.

Tương truyền, tượng Bà trước ở trên đỉnh núi, dân muốn rước Bà xuống núi để thờ, nhưng khiêng không nổi. Sau dân làng tuyển 9 cô gái đồng trinh, trai giới lên núi thì chuyển được ngay. Dần dần miếu Bà Chúa Xứ được tôn tạo khang trang. Tượng Bà nay được đội mũ, mặc áo thêu rồng phượng để thờ phụng. Lăng mộ, bia Vĩnh Tế Sơn bi ký và đền thờ Thoại Ngọc Hầu được dựng trên khu đất rộng, phía sau là vách núi, phía trước là đồng ruộng xanh tốt và kênh Vĩnh Tế. Chung quanh lăng trồng nhiều cây điệp cổ thụ, hè đến nở hoa đỏ rực rỡ.

Hàng năm, từ 24 đến 27 tháng tư Âm lịch nhân dân khắp nơi hành hương về núi Sam dự lễ tế tượng Bà Chúa Xứ và tưởng niệm Thoại Ngọc Hầu. < theo lịch sử, lễ hội miếu Bà Chúa Xứ >.
Đã xemBởi buoioibh
Cửu Thiên Huyền Nữ - Cửu Thiên Nương Nương:
Cửu: Chín, thứ chín. Thiên: từng Trời. Huyền: sâu kín, huyền diệu, mầu nhiệm. Nữ: người phụ nữ.

Nương Nương: tiếng gọi bà Hoàng Hậu ở thế gian; còn nơi cõi thiêng liêng, Nương Nương là tiếng gọi người phụ nữ cao trọng nhứt, đó là Ðức Thiên Hậu, Ðức Mẫu Hậu mà Ðạo Cao Ðài thường gọi là Ðức Phật Mẫu.

Cửu Thiên là từng Trời thứ 9, từng Trời cao nhất trong Cửu Trùng Thiên, có tên là Tạo Hóa Thiên.

■ Cửu Thiên Huyền Nữ, nghĩa đen là người phụ nữ huyền diệu nơi từng Trời thứ 9. Ðây là một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu.

■ Cửu Thiên Nương Nương, nghĩa đen là Ðấng Thiên Hậu ở từng Trời thứ 9. Ðây cũng là một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu.

Nhơn loại được biết Ðức Phật Mẫu qua danh hiệu Cửu Thiên Huyền Nữ vào thời thượng cổ, đời vua Hiên Viên Huỳnh Ðế bên Tàu. Sử ký chép như sau:

Sau đời vua Thần Nông, các bộ lạc đều tự tách ra hùng cứ mỗi nơi. Có một bộ lạc hùng mạnh mà vị thủ lãnh là Xuy Vưu muốn thôn tính các bộ lạc khác để lên làm bá chủ, nhưng Xuy Vưu lại quá độc ác, ai không thuận theo thì bị giết chết rất tàn nhẫn. Các bộ lạc liền liên kết nhau, tôn vị thủ lãnh Hữu Hùng Thị (nay ở huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam) lên chỉ huy chống lại Xuy Vưu. Trận đánh dữ dội quyết định sự thắng bại với Xuy Vưu xảy ra ở Trác Lộc.

Sương mù dày đặc, quân Hữu Hùng Thị bị Xuy Vưu vây chặt, không nhận định được phương hướng đánh ra giải vây, nên thường bị Xuy Vưu đánh bại phải tháo lui. Sự thảm bại của Hữu Hùng Thị thấy rõ trước mắt.

Trong lúc nguy cấp như thế, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe hai bánh chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam, để phân định phương hướng và vị trí tiến quân, lại dạy cho binh pháp. Nhờ vậy, Hữu Hùng Thị củng cố binh mã, từ trong đánh ra bất ngờ, làm cho binh đội Xuy Vưu thảm bại, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu đem giết chết.

Thế là yên giặc, tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghinh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế hay Huỳnh Ðế. Nguyên Hữu Hùng Thị được sanh ra tại gò Hiên Viên, nên về sau gọi là Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Sau đó, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ cũng thường ứng hiện giúp vua Huỳnh Ðế và những người hiền tài trong nước, như giúp Hoàng Hậu Nguyên Phi chế ra nghề nuôi tằm lấy tơ dệt lụa, giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem Thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc.

Ngoài ra, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp, và phép bói 64 quẻ Dịch mà đoán kiết hung.

Trong buổi Lễ Hội Yến DTC lần đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư ở số 134 đường Bourdais Sài Gòn vào Trung Thu năm Ất Sửu (1925), Ðức Phật Mẫu cùng Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ, mỗi vị cho một bài thi, mà bài thi của Ðức Phật Mẫu khoán thủ bốn chữ: Cửu Thiên Huyền Nữ, chép ra như sau:
CỬU kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,
THIÊN Thiên cửu phẩm đắc cao huyền.
HUYỀN hư tác thế Thần Tiên Nữ,
NỮ hảo thiện căn đoạt cửu Thiên.

(Theo Cao Đài Tứ Điện).
Đã xemBởi buoioibh
ĐỨC THÁNH TRẦN <Trần Hưng Đạo>.

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG (1230-1300) là danh tướng thời nhà Trần và cũng là danh tướng trong lịch sử Việt Nam, có công lớn trong hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Ông là tác giả của bộ Binh thư yếu lược (hay Binh gia diệu lý yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (đã thất lạc). Ông còn được người dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi là Đức Thánh Trần.

Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn, là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, sinh ra tại Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nguyên quán ở làng Tức Mặc, ­­­­­­­­huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm sinh của ông không rõ ràng, có tài liệu cho là năm 1228, có tài liệu thì cho là năm 1230, hay 1232.

Ông vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên - Mông ra khỏi nước.

Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách.

Ông mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm Canh Tý (tức ngày 5 tháng 9 năm 1300), thọ khoảng 70 tuổi. Nhân dân đương thời lập đền thờ ông gọi là Đền Kiếp Bạc. Ông được tặng tước Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.

NHÂN DÂN SÙNG KÍNH PHONG THÁNH

Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lể hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ của ông . Ông được người dân nhiều đời sùng kính phong Thánh, tức là Đức Thánh Trần. Đây là điều hiếm hoi trong lịch sử, chỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần. Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày ông mất (20/8 âm lịch hàng năm). Người dân không gọi trực tiếp tên của ông, mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh Trần hoặc gọi là Cha (tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ).

Các đền thờ Hưng Đạo Đại Vương có thể thấy ở khắp nước Việt Nam. (Theo Thánh Thần Việt Nam).

HẾT.
Đã xemBởi buoioibh
THÁNH MẪU LIỄU HẠNH < Liễu Hạnh Công Chúa >.

Liễu Hạnh Công chúa là một trong những vị thần quan trọng nhất của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Thờ cúng:
Liễu Hạnh Công chúa được thờ ở rất nhiều nơi như phủ Giày (Nam Định), phủ Tây Hồ và đền Sùng Sơn (phố Hàng Bột) ở (Hà Nội), đền Sòng và đền Phú Cát (Thanh Hóa), đền Phủ Giày (Thành phố Hồ Chí Minh)... Trong đó, phủ Giày ở Vụ Bản, Nam Định là nơi quan trọng nhất. Hàng năm, đến ngày húy của bà, dân chúng đi trẩy hội rất đông, đặc biệt là ở hội Phủ Giày vào tháng 3 âm lịch. Thành ngữ có câu: "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ", nói về ngày giỗ của hai vị được dân gian thờ cúng: "Cha" là Trần Hưng Đạo, còn "Mẹ" chính là bà Chúa Liễu.

Bà còn được tôn vinh trong hệ thống tứ bất tử. Bà thường được thờ cùng với hệ thống tam phủ, nên tạo thành tứ phủ. Mẫu Liễu Hạnh còn được thờ trong một tín ngưỡng riêng gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu.

Truyền thuyết:
Tục truyền rằng Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng, tên là Quỳnh Nương.

Vào thời Hậu Lê, năm 1557, vì lỡ tay làm rơi vỡ chén ngọc ở Thiên đình, nên công chúa bị đày xuống trần gian, đầu thai làm con gái ông Lê Thái Công, đất Vụ Bản, Nam Định. Họ Lê đặt tên con gái là Giáng Tiên, lớn lên lấy chồng là Đào Lang. Sau 3 năm vợ chồng chung sống, đến ngày mồng 3 tháng 3 thì Giáng Tiên bay về trời.

Nhưng vì chưa hết nợ duyên ở hạ giới nên nàng lại xin Ngọc Hoàng cho nàng xuống trần gian một lần nữa, và lần này là với danh hiệu là Liễu Hạnh Công Chúa. Nàng công chúa thượng giới đi cùng với 2 tiên nữ nữa là Quế Nương và Thụy Nương xuống ở miền Phố Cát, đất Thanh Hóa. Bà thường hiển linh giúp đỡ nhân dân, và được triều đình phong sắc là công chúa Liễu Hạnh và là Thượng đẳng Phúc thần.

Bà thường ngao du sơn thuỷ, đến các thắng cảnh của nhiều vùng. Có lần bà đã giả dạng làm một cô hàng bán rượu ở Hồ Tây (Hà Nội), để họa thơ với danh sĩ Phùng Khắc Khoan cùng hai người bạn của ông họ Ngô và Lý.< trích trong Thần Thánh Việt Nam >.

HẾT.
Đã xemBởi buoioibh
LÂM CUNG THÁNH MẪU.

Lâm Cung Thánh Mẫu hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong ba vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Bà được tạc thành hình một phụ nữ đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp và mang trang phục màu xanh khi được đặt cùng hai vị mẫu kia là Mẫu Liễu Hạnh <Mẫu Thượng Thiên, Bà Chúa Thượng Thiên> và Thuỷ Cung Thánh Mẫu <Mẫu Thoải, Bà Chúa Lạch> hoặc được thờ riêng trong một điện. Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là một nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng tam phủ hay tứ phủ.

Truyền thuyết:

Bà là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và công chúa Mị Nương (trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh cả hai cùng cầu hôn Mị Nương, con gái vua Hùng). Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình.

La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng. Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh cai quản, ông đã dạy dân không thiếu điều gì, từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước v.v. hay dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh. Ông cũng thường cùng các vị sơn thần, tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc. Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc.

Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. Còn bản thân nàng, chẳng những hòa hợp, ân cần với mọi người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc ...

Khi Tản Viên và Mị Nương theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau, dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét.

Bà dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều. Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi.

Bà cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha bà mới chỉ là bắt đầu. Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết chạm trổ cho thật đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình hai đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn, chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới. Rồi công việc đồng áng, bà dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống. Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm. Trong các con vật nuôi trong nhà, bà đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về.

Ngọc Hoàng Thượng Đế còn ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ. Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của công chúa Thượng Ngàn.

Cùng với nhiều vị thần thánh khác, công chúa Thượng Ngàn vẫn ngày đêm lặng lẽ âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Nhiều người gọi bà là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.

Người ta cho rằng các chiến công quân sự của nhiều triều đại Việt Nam đều có sự phù hộ của bà. Vì thế, các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là công chúa.

Một truyền thuyết cho rằng hồi đầu thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì quân Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm tối, công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy.

Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóa. Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hòa bình cho nước Việt.

Công chúa Thượng Ngàn, cũng như nhiều vị thần thánh khác, được nhiều người tôn thờ, và được coi là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay dẫn dắt con cháu vững bước đi lên. Bà có mặt ở khắp nơi, theo bước chân của dân chúng, khi ở miền rừng núi rồi xuống miền đồng bằng. Vì vậy, ở nhiều nơi người dân lập điện thờ, thờ phụng bà. Tuy nhiên, đại bản doanh của bà vẫn là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn được bình yên, vạn sự tai qua nạn khỏi, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ của bà. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được bà chấp thuận.

<Trích trong Tín Ngưỡng Việt Nam>.
HẾT.
Đã xemBởi buoioibh
THỦY CUNG THÁNH MẪU.

Thủy cung Thánh Mẫu (còn gọi là Bà Chúa Lạch, Mẫu Thoải, chữ thoải là đọc trệch từ chữ thủy) là vị nữ thần dân gian Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý các miền sông nước.

Theo quan niệm dân gian Việt Nam, Mẫu Thoải có mặt ở khắp mọi nơi để âm phù.

Mẫu Thoải giúp đỡ mọi người mỗi khi đi qua các vùng sông nước. Do vậy, mỗi khi bước xuống đò, qua một khúc sông rộng, người ta thường lẩm nhẩm cầu khấn, xin Mẫu phù hộ độ trì.

Mỗi khi có hạn, Mẫu phái tướng sĩ đi lo việc làm mưa. Còn khi bão lụt, Mẫu lại hóa phép để gió yên, mưa tạnh. Các loài thủy quái, thủy tặc, do có các thần tướng của Mẫu canh chừng, nên cũng không thể tùy tiện tác oai, tác quái.

Trong dân gian, Mẫu Thoải là hình ảnh của bà mẹ hiền lành, đảm đang, suốt đời lo lắng cho con cho cháu.

Mẫu Thoải được thờ tại hầu hết các đền chùa có bàn thờ Mẫu. Mẫu còn được thờ làm thành hoàng ở một số vùng thời xưa chuyên nghề sông nước. Giỗ là ngày 12 tháng Sáu âm lịch khi các con hương đệ tử làm lễ cúng tế rất lớn. Ở điện thờ Mẫu, nếu có đặt ba pho tượng nữ, giống nhau ở gương mặt, tư thế ngồi, và chỉ khác ở trang phục, thì ở bên phải là Mẫu Thượng Ngàn, ở giữa là Mẫu Liễu, còn bên trái là Mẫu Thoải. Tại các tượng hoặc ảnh thờ, Mẫu Thoải thường có trang phục màu trắng.

Đồng bằng Bắc Bộ thường xuyên có nạn lũ lụt. Khi Lý Thái Tổ, vua đầu tiên của nhà Lý, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, ông bắt tay ngay vào công việc trị thủy. Công việc tiến hành phải đến đời vua sau, đời Lý Thái Tông, mới căn bản xong, các đoạn đê đã được nối vào nhau và có quy mô gần như ngày nay. Trong những năm xây dựng hệ thống đê, nạn lụt vẫn thường xảy ra. Khi đó, Mẫu Thoải đã phái các thủy thần, tướng lĩnh của mình đến các làng ven kinh thành Thăng Long để âm phù, giúp dân đắp đê chống lụt. Tại các làng Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Yên Phụ... nay vẫn còn ghi lại các thần tích.

Vào thời Lê, niên đại Vĩnh Thọ, có lần nước sông Hồng dâng lên rất cao, tràn cả vào Yên Phụ. Nhà vua phải thân hành làm lễ Nam Giao (lễ tế cáo trời đất). Mẫu Thoải đã lập tức ứng hiệu và âm phù giúp dân chống lụt và xua đuổi thủy quái.

Đời Lê Thánh Tông, nhà vua đem quân đi đánh Chiêm Thành. Khi thuyền đi qua vùng Phú Xuyên, Kim Bảng, thì một trận cuồng phong nổi lên. Vua sai lập đàn tràng để cầu xin các vị thần thánh. Mẫu Thoải hay tin, phái một tướng đến dẹp yên gió. Khi thắng trận trở về, nhà vua nhớ công ơn, phong tặng cho tướng ấy là thượng đẳng thần, lấy hiệu là Nguyệt Nga công chúa. < Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam >.

HẾT.