- Thứ 7 Tháng 2 10, 2024 1:08 am
Đây là câu chuyện có thật xảy ra vào năm 1692 -1693 tại Salem, nằm ở phía đông bắc tiểu bang Massachusetts, trong vùng New England, Hoa Kỳ mà Vanessa tổng hợp và lược dịch:
Các vụ án phù thuỷ xảy ra trong thời điểm nền chính trị ở đây không ổn định, người dân thường xuyên sống trong nỗi lo sợ trước những cuộc tấn công bất ngờ của người Pháp và người Mỹ da đỏ bản địa. Hơn nữa, hầu hết các khu định cư đều cách bờ biển chưa đầy 50 dặm và ở gần những khu rừng sâu nơi họ tin rằng có những linh hồn bóng tối sinh sống. Người dân thị trấn Salem hầu hết là người Thanh giáo*. Họ rất sùng đạo và tin nhiều vào ân điển và sự tốt lành của Đức Chúa Trời cũng như họ tin vào sự gian ác và thủ đoạn của ma quỷ.
Khởi nguồn câu chuyện bắt đầu vào đầu năm 1692, Elizabeth (Betty) Parris, 9 tuổi và Abigail Williams, 11 tuổi (con gái và cháu gái của Samuel Parris, mục sư của Làng Salem) bắt đầu lên cơn, bao gồm cả những cơn co giật dữ dội và những cơn la hét bộc phát không thể kiểm soát. William Griggs, một bác sĩ địa phương chẩn đoán hai bé gái này bị bỏ bùa. Kể từ thời điểm đó, các cô gái bắt đầu đổ lỗi các triệu chứng của mình cho nỗi sợ hãi, ám ảnh về ma quỷ từ những người sống ở Salem.
Một cuộc điều tra đã diễn ra. Có ba phụ nữ bị bắt. Ba phù thủy bị buộc tội đã được đưa ra cho thẩm phán thẩm vấn. Cuối ngày hôm đó, Tituba, một trong ba phụ nữ bị bắt có thể do quá sợ hãi nên đã nhận tội. Thế nhưng, các cơn động kinh vẫn không có dấu hiệu kết thúc. Các cô gái không phải là những người duy nhất chứng kiến những hiện tượng kỳ lạ. Nhiều người, bao gồm cả đàn ông và phụ nữ, bắt đầu báo cáo rằng họ đã nhìn thấy những con vật kỳ lạ và những hoạt động huyền bí. Vì vậy, số nạn nhân ngày càng nhiều và dân chúng bị gán tội là phù thủy bị bắt bỏ vào tù tăng lên không ngừng.
Hầu hết mọi người đều tin tưởng vào bằng chứng liên quan đến ma quỷ, dựa trên khả năng nhìn thấy và giấc mơ, trong đó người bệnh khẳng định họ có thể nhìn thấy những linh hồn vô hình bay quanh phòng và khiến họ đau đớn. Chỉ cần ai đó tố cáo một người làm trò phù thủy, hay gặp ai trong giấc mơ cưỡi chổi bay, thì họ sẽ bị mang ra tòa kết án và bị bắt giam.
Theo Luật Phù thủy năm 1604 và Cơ quan Tự do Massachusetts năm 1641, tội phù thủy có thể bị trừng phạt bằng cái chết.
Tầm 150 - 200 người bị bắt, 19 người (chủ yếu là phụ nữ) bị xử tử bằng biện pháp treo cổ, 1 người bị tra tấn bằng cách cho đá đè cho đến chết vì không chịu nhận mình là phù thủy và tầm 5 người chết trong ngục giam.
Các mục sư đã vận động tòa án ngưng xử án, lời khai của các nạn nhân cần được kiểm tra một cách rõ ràng. Chẳng hạn như mục sư Mather đã thuyết giảng trong đó ông khẳng định: “Thà mười phù thủy bị nghi ngờ trốn thoát còn hơn một người vô tội phải bị kết án”.
Không ai biết sự thật đằng sau chuyện gì đã xảy ra ở Salem. Chỉ biết rằng các cuộc hành hình chấm dứt vào năm 1693 và những người bị giam trong tù được tha bổng. Tòa viết thư xin lỗi các gia đình có người bị xử tử. Bồi thẩm đoàn thừa nhận rằng, vì họ “không có khả năng hiểu cũng như không thể chịu đựng được những ảo tưởng bí ẩn về quyền lực của bóng tối”, họ đã “bị lừa dối và nhầm lẫn một cách đáng buồn” khi tin vào những bằng chứng yếu kém và đã gây ra cái chết cho những người vô tội.
Một số học giả đổ lỗi cho sự tưởng tượng và cuồng loạn của trẻ em, và thậm chí có thể là ảo giác (một dạng ngộ độc từ một loại nấm có khả năng gây ảo giác mọc trên lúa mạch đen) và dịch viêm não. Giới tính dường như cũng có ý nghĩa quan trọng vì phụ nữ bị buộc tội nhiều hơn nam giới. Người có tính cách bị nhiều người không thích hoặc có nhiều tài sản sẽ chiếm phần lớn trong nhóm người bị buộc tội là phù thuỷ. Những người Thanh giáo tin vào sự tồn tại của quỷ dữ, những kẻ mà họ cho rằng có thể can thiệp vào công việc của con người, lừa một số người đi theo chúng bằng cách thực hành phép thuật phù thủy.
Ghi chú: Thuật ngữ “Thanh giáo” dùng để chỉ một phong trào tôn giáo trong đạo Tin lành diễn ra ở Anh vào những năm 1500 và tiếp tục kéo dài đến những năm 1700. Nhiều người Thanh giáo đã chuyển đến Mỹ, đặc biệt là thuộc địa vịnh Massachusetts, để có cơ hội thành lập xã hội của riêng họ, tách biệt khỏi ảnh hưởng của Công giáo. Họ sống trong trạng thái thường xuyên lo lắng về tinh thần, hay tìm kiếm những dấu hiệu về sự ưu ái hay giận dữ của Chúa. Đối với họ, sức khỏe tinh thần và phúc lợi của toàn thể cộng đồng là điều quan trọng nhất.
Các vụ án phù thuỷ xảy ra trong thời điểm nền chính trị ở đây không ổn định, người dân thường xuyên sống trong nỗi lo sợ trước những cuộc tấn công bất ngờ của người Pháp và người Mỹ da đỏ bản địa. Hơn nữa, hầu hết các khu định cư đều cách bờ biển chưa đầy 50 dặm và ở gần những khu rừng sâu nơi họ tin rằng có những linh hồn bóng tối sinh sống. Người dân thị trấn Salem hầu hết là người Thanh giáo*. Họ rất sùng đạo và tin nhiều vào ân điển và sự tốt lành của Đức Chúa Trời cũng như họ tin vào sự gian ác và thủ đoạn của ma quỷ.
Khởi nguồn câu chuyện bắt đầu vào đầu năm 1692, Elizabeth (Betty) Parris, 9 tuổi và Abigail Williams, 11 tuổi (con gái và cháu gái của Samuel Parris, mục sư của Làng Salem) bắt đầu lên cơn, bao gồm cả những cơn co giật dữ dội và những cơn la hét bộc phát không thể kiểm soát. William Griggs, một bác sĩ địa phương chẩn đoán hai bé gái này bị bỏ bùa. Kể từ thời điểm đó, các cô gái bắt đầu đổ lỗi các triệu chứng của mình cho nỗi sợ hãi, ám ảnh về ma quỷ từ những người sống ở Salem.
Một cuộc điều tra đã diễn ra. Có ba phụ nữ bị bắt. Ba phù thủy bị buộc tội đã được đưa ra cho thẩm phán thẩm vấn. Cuối ngày hôm đó, Tituba, một trong ba phụ nữ bị bắt có thể do quá sợ hãi nên đã nhận tội. Thế nhưng, các cơn động kinh vẫn không có dấu hiệu kết thúc. Các cô gái không phải là những người duy nhất chứng kiến những hiện tượng kỳ lạ. Nhiều người, bao gồm cả đàn ông và phụ nữ, bắt đầu báo cáo rằng họ đã nhìn thấy những con vật kỳ lạ và những hoạt động huyền bí. Vì vậy, số nạn nhân ngày càng nhiều và dân chúng bị gán tội là phù thủy bị bắt bỏ vào tù tăng lên không ngừng.
Hầu hết mọi người đều tin tưởng vào bằng chứng liên quan đến ma quỷ, dựa trên khả năng nhìn thấy và giấc mơ, trong đó người bệnh khẳng định họ có thể nhìn thấy những linh hồn vô hình bay quanh phòng và khiến họ đau đớn. Chỉ cần ai đó tố cáo một người làm trò phù thủy, hay gặp ai trong giấc mơ cưỡi chổi bay, thì họ sẽ bị mang ra tòa kết án và bị bắt giam.
Theo Luật Phù thủy năm 1604 và Cơ quan Tự do Massachusetts năm 1641, tội phù thủy có thể bị trừng phạt bằng cái chết.
Tầm 150 - 200 người bị bắt, 19 người (chủ yếu là phụ nữ) bị xử tử bằng biện pháp treo cổ, 1 người bị tra tấn bằng cách cho đá đè cho đến chết vì không chịu nhận mình là phù thủy và tầm 5 người chết trong ngục giam.
Các mục sư đã vận động tòa án ngưng xử án, lời khai của các nạn nhân cần được kiểm tra một cách rõ ràng. Chẳng hạn như mục sư Mather đã thuyết giảng trong đó ông khẳng định: “Thà mười phù thủy bị nghi ngờ trốn thoát còn hơn một người vô tội phải bị kết án”.
Không ai biết sự thật đằng sau chuyện gì đã xảy ra ở Salem. Chỉ biết rằng các cuộc hành hình chấm dứt vào năm 1693 và những người bị giam trong tù được tha bổng. Tòa viết thư xin lỗi các gia đình có người bị xử tử. Bồi thẩm đoàn thừa nhận rằng, vì họ “không có khả năng hiểu cũng như không thể chịu đựng được những ảo tưởng bí ẩn về quyền lực của bóng tối”, họ đã “bị lừa dối và nhầm lẫn một cách đáng buồn” khi tin vào những bằng chứng yếu kém và đã gây ra cái chết cho những người vô tội.
Một số học giả đổ lỗi cho sự tưởng tượng và cuồng loạn của trẻ em, và thậm chí có thể là ảo giác (một dạng ngộ độc từ một loại nấm có khả năng gây ảo giác mọc trên lúa mạch đen) và dịch viêm não. Giới tính dường như cũng có ý nghĩa quan trọng vì phụ nữ bị buộc tội nhiều hơn nam giới. Người có tính cách bị nhiều người không thích hoặc có nhiều tài sản sẽ chiếm phần lớn trong nhóm người bị buộc tội là phù thuỷ. Những người Thanh giáo tin vào sự tồn tại của quỷ dữ, những kẻ mà họ cho rằng có thể can thiệp vào công việc của con người, lừa một số người đi theo chúng bằng cách thực hành phép thuật phù thủy.
Ghi chú: Thuật ngữ “Thanh giáo” dùng để chỉ một phong trào tôn giáo trong đạo Tin lành diễn ra ở Anh vào những năm 1500 và tiếp tục kéo dài đến những năm 1700. Nhiều người Thanh giáo đã chuyển đến Mỹ, đặc biệt là thuộc địa vịnh Massachusetts, để có cơ hội thành lập xã hội của riêng họ, tách biệt khỏi ảnh hưởng của Công giáo. Họ sống trong trạng thái thường xuyên lo lắng về tinh thần, hay tìm kiếm những dấu hiệu về sự ưu ái hay giận dữ của Chúa. Đối với họ, sức khỏe tinh thần và phúc lợi của toàn thể cộng đồng là điều quan trọng nhất.