- Thứ 5 Tháng 2 11, 2010 2:04 pm
Ông Ba Mươi và Tục Thờ Thần Hổ
Nguồn: Viettems.com
Tác giả: Nguyễn Man Nhiên
Đệ tử thành kính lễ Tổ Thầy.
Xin chào huynh đệ tỷ muội. Năm Dần, Nhulong sưu tầm bài về con Hổ đọc cho vui ba ngày Tết.
Trong tiếng Việt, từ vựng chỉ hổ thật phong phú. Ngoài hổ (Vào hang hổ; Thả hổ về rừng) còn có cọp (Cọp tha ma bắt), hùm (Vuốt râu hùm; Miệng hùm nọc rắn), dần (Tuổi Dần con cọp gớm ghê…), khái (Chưa qua truông đã trật lọ cho khái), kễnh (Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn thì nào thấy chi), mun, vằn…
Tại sao người ta phải gọi hổ bằng nhiều tên khác nhau như vậy? Chắc là vì sợ, nên kiêng. Trong buổi đầu khai hoang mở đất, hổ là một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã mà lưu dân phải đối chọi hàng ngày. Hổ không những khoẻ mạnh, hung dữ mà còn tinh khôn, nhanh nhẹn vô cùng, cứ thoắt hiện thoắt biến, rất khó đối phó. Người xưa sợ hổ, tôn thờ hổ, ví hổ như thần, không dám gọi đích danh vì sợ “phạm húy”. Lúc nào cũng gọi hổ bằng “Ông” hoặc “Ngài” một cách kính cẩn: Ông Dần, Ông Thầy, Ông Cả…
Theo truyền thuyết, lúc chúa Nguyễn bị nhà Tây Sơn truy lùng, đuổi giết, gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, hết cả lương thực. May nhờ có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế mỗi ngày. Về sau, khi lên ngôi vua, Gia Long đã ban lệnh lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn, dân gian thường gọi là Miếu Ông Hổ. Tục truyền, vua ban lệnh cấm giết hổ. Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ thì bị phạt ba mươi trượng. Còn nếu bắt sống thì được thưởng ba mươi quan tiền. Cũng vì lệ này mà hổ còn được gọi là Ông Ba Mươi.
Theo quan niệm dân gian, hổ là vị “Chúa Sơn Lâm”, cai quản vùng rừng núi. Hầu hết ở các đình, đền, am, miếu trên khắp nước ta đều có bàn thờ hoặc miếu thờ Thần Hổ, với bài vị trang trọng “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân mãnh hổ”, “Sơn lâm chúa xứ”, “Sơn lâm đại tướng quân”... Trên các án phong trấn cửa đình thường trang trí bằng hình mãnh hổ trông rất oai vệ. Miếu của Thần Hổ nằm bên phải nền thờ Thần Nông. Xem vậy Thần Hổ còn trên Thần Nông một bậc, vì bên hữu có nghĩa là bên trên, bên tả có nghĩa là bên dưới. Cúng Thần Nông một con heo trắng (heo giết, cạo sạch lông, để nguyên con không quay) thì Thần Hổ, là Ông Cả (trong mười hai hương chức hội tề, ông Cả là đứng đầu), cũng phải cúng một con heo trắng.
Trong điện thờ Mẫu, bàn thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía trên có hình tượng đôi Bạch Xà vắt ngang. Theo tín ngưỡng đạo Mẫu, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, còn Rắn (Ông Lốt) là thần ở nơi sông nước. Hình tượng Hổ là biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể trừ diệt ma tà, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa ở các ngôi đền. Trong các bàn thờ gia đình thì tầng trên thờ Phật, tầng dưới thờ Ngũ Hổ. Có gia đình thờ năm ông, có gia đình chỉ thờ một ông (tùy theo mạng vận của gia chủ thuộc hành nào trong Ngũ Hành mà thờ Ông Ba Mươi có màu sắc của hành đó, hoặc hành tương sinh với bản mệnh của gia chủ). Vào những ngày Rằm, mùng Một, ngoài hương hoa, oản chuối, các cụ còn cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ Ông Ba Mươi một cách tôn kính. Lại có tục lệ là vào ngày mùng ba Tết, sau khi cúng đưa ông bà xong, người ta thường dán trước cửa nhà mảnh giấy hồng điều có hình cọp với lòng tin là Ông Ba Mươi sẽ trấn giữ không cho những thứ xui xẻo vào nhà, phù hộ cho gia trạch bình an…
Các cụ cao tuổi còn kể rằng, xưa có xã ở lẫn bên rừng, hàng năm cứ đến chiều Ba mươi Tết là họp kỳ lão trong làng, lập giấy cử cho cọp làm lý trưởng. Họ biện xôi, rượu, làm thịt một con lợn đặt trên mâm, trên để tờ giấy ghi rõ là nhất trí cử cọp làm lý trưởng của làng. Thế là trong cả năm ấy, dân làng ai vào rừng kiếm củi, đào khoai mài, lấy củ nâu hễ nghe tiếng cây cối rung động, đều kêu to lên: “Ông lý trưởng ơi ông lý, tôi là người trong làng đây, đừng có lầm”. Hoặc có khi họ kiếm được lâm sản chất đống trong rừng, không kịp đưa về, cũng hô lớn: “Đây là của người làng, nhờ ông lý canh hộ đừng cho ai lấy trộm”. Vậy mà kết quả rất kỳ lạ. Cả năm, dân làng không ai bị cọp vồ. Có lần, có người khác đến lấy trộm củi, cọp đuổi cho bỏ chạy. Lại có lúc, ruộng nương ven núi bị khỉ phá phách, chức dịch trong làng trèo lên cây cao nói to: “Bọn khỉ ra ngắt lúa, làm hại ruộng nương của dân, ông lý không biết hay sao mà để chúng tác quái như vậy?”. Thế là ngày hôm sau, thế nào dân làng cũng thấy vài ba con khỉ chết ở bờ ruộng. Tai họa mùa màng nhờ thế mà cũng tránh khỏi.
Ở thôn Phú Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xưa có Văn Miếu trấn Bình Hòa thờ đức Khổng Tử. Miếu khởi lập vào năm Gia Long thứ hai (1803). Bên cạnh miếu, dưới gốc một cây cổ thụ, có bàn thờ Chúa Sơn Lâm, tức là Cọp. Mỗi lần tế miếu, dân làng đều đem một tợ thịt heo ba sườn ra đặt nơi bàn thờ. Truyền rằng hễ tế xong thì cọp đến tha thịt đi. Lại có lắm đêm cọp về nằm ngủ nơi bàn thờ. Ngủ đã giấc rồi đi chớ không bao giờ làm hại đến người hoặc súc vật. Từ ngày bỏ cúng tế theo cổ tục, cọp không về nữa.
(còn tiếp)
Nguồn: Viettems.com
Tác giả: Nguyễn Man Nhiên
Đệ tử thành kính lễ Tổ Thầy.
Xin chào huynh đệ tỷ muội. Năm Dần, Nhulong sưu tầm bài về con Hổ đọc cho vui ba ngày Tết.
Trong tiếng Việt, từ vựng chỉ hổ thật phong phú. Ngoài hổ (Vào hang hổ; Thả hổ về rừng) còn có cọp (Cọp tha ma bắt), hùm (Vuốt râu hùm; Miệng hùm nọc rắn), dần (Tuổi Dần con cọp gớm ghê…), khái (Chưa qua truông đã trật lọ cho khái), kễnh (Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn thì nào thấy chi), mun, vằn…
Tại sao người ta phải gọi hổ bằng nhiều tên khác nhau như vậy? Chắc là vì sợ, nên kiêng. Trong buổi đầu khai hoang mở đất, hổ là một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã mà lưu dân phải đối chọi hàng ngày. Hổ không những khoẻ mạnh, hung dữ mà còn tinh khôn, nhanh nhẹn vô cùng, cứ thoắt hiện thoắt biến, rất khó đối phó. Người xưa sợ hổ, tôn thờ hổ, ví hổ như thần, không dám gọi đích danh vì sợ “phạm húy”. Lúc nào cũng gọi hổ bằng “Ông” hoặc “Ngài” một cách kính cẩn: Ông Dần, Ông Thầy, Ông Cả…
Theo truyền thuyết, lúc chúa Nguyễn bị nhà Tây Sơn truy lùng, đuổi giết, gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, hết cả lương thực. May nhờ có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế mỗi ngày. Về sau, khi lên ngôi vua, Gia Long đã ban lệnh lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn, dân gian thường gọi là Miếu Ông Hổ. Tục truyền, vua ban lệnh cấm giết hổ. Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ thì bị phạt ba mươi trượng. Còn nếu bắt sống thì được thưởng ba mươi quan tiền. Cũng vì lệ này mà hổ còn được gọi là Ông Ba Mươi.
Theo quan niệm dân gian, hổ là vị “Chúa Sơn Lâm”, cai quản vùng rừng núi. Hầu hết ở các đình, đền, am, miếu trên khắp nước ta đều có bàn thờ hoặc miếu thờ Thần Hổ, với bài vị trang trọng “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân mãnh hổ”, “Sơn lâm chúa xứ”, “Sơn lâm đại tướng quân”... Trên các án phong trấn cửa đình thường trang trí bằng hình mãnh hổ trông rất oai vệ. Miếu của Thần Hổ nằm bên phải nền thờ Thần Nông. Xem vậy Thần Hổ còn trên Thần Nông một bậc, vì bên hữu có nghĩa là bên trên, bên tả có nghĩa là bên dưới. Cúng Thần Nông một con heo trắng (heo giết, cạo sạch lông, để nguyên con không quay) thì Thần Hổ, là Ông Cả (trong mười hai hương chức hội tề, ông Cả là đứng đầu), cũng phải cúng một con heo trắng.
Trong điện thờ Mẫu, bàn thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía trên có hình tượng đôi Bạch Xà vắt ngang. Theo tín ngưỡng đạo Mẫu, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, còn Rắn (Ông Lốt) là thần ở nơi sông nước. Hình tượng Hổ là biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể trừ diệt ma tà, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa ở các ngôi đền. Trong các bàn thờ gia đình thì tầng trên thờ Phật, tầng dưới thờ Ngũ Hổ. Có gia đình thờ năm ông, có gia đình chỉ thờ một ông (tùy theo mạng vận của gia chủ thuộc hành nào trong Ngũ Hành mà thờ Ông Ba Mươi có màu sắc của hành đó, hoặc hành tương sinh với bản mệnh của gia chủ). Vào những ngày Rằm, mùng Một, ngoài hương hoa, oản chuối, các cụ còn cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ Ông Ba Mươi một cách tôn kính. Lại có tục lệ là vào ngày mùng ba Tết, sau khi cúng đưa ông bà xong, người ta thường dán trước cửa nhà mảnh giấy hồng điều có hình cọp với lòng tin là Ông Ba Mươi sẽ trấn giữ không cho những thứ xui xẻo vào nhà, phù hộ cho gia trạch bình an…
Các cụ cao tuổi còn kể rằng, xưa có xã ở lẫn bên rừng, hàng năm cứ đến chiều Ba mươi Tết là họp kỳ lão trong làng, lập giấy cử cho cọp làm lý trưởng. Họ biện xôi, rượu, làm thịt một con lợn đặt trên mâm, trên để tờ giấy ghi rõ là nhất trí cử cọp làm lý trưởng của làng. Thế là trong cả năm ấy, dân làng ai vào rừng kiếm củi, đào khoai mài, lấy củ nâu hễ nghe tiếng cây cối rung động, đều kêu to lên: “Ông lý trưởng ơi ông lý, tôi là người trong làng đây, đừng có lầm”. Hoặc có khi họ kiếm được lâm sản chất đống trong rừng, không kịp đưa về, cũng hô lớn: “Đây là của người làng, nhờ ông lý canh hộ đừng cho ai lấy trộm”. Vậy mà kết quả rất kỳ lạ. Cả năm, dân làng không ai bị cọp vồ. Có lần, có người khác đến lấy trộm củi, cọp đuổi cho bỏ chạy. Lại có lúc, ruộng nương ven núi bị khỉ phá phách, chức dịch trong làng trèo lên cây cao nói to: “Bọn khỉ ra ngắt lúa, làm hại ruộng nương của dân, ông lý không biết hay sao mà để chúng tác quái như vậy?”. Thế là ngày hôm sau, thế nào dân làng cũng thấy vài ba con khỉ chết ở bờ ruộng. Tai họa mùa màng nhờ thế mà cũng tránh khỏi.
Ở thôn Phú Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xưa có Văn Miếu trấn Bình Hòa thờ đức Khổng Tử. Miếu khởi lập vào năm Gia Long thứ hai (1803). Bên cạnh miếu, dưới gốc một cây cổ thụ, có bàn thờ Chúa Sơn Lâm, tức là Cọp. Mỗi lần tế miếu, dân làng đều đem một tợ thịt heo ba sườn ra đặt nơi bàn thờ. Truyền rằng hễ tế xong thì cọp đến tha thịt đi. Lại có lắm đêm cọp về nằm ngủ nơi bàn thờ. Ngủ đã giấc rồi đi chớ không bao giờ làm hại đến người hoặc súc vật. Từ ngày bỏ cúng tế theo cổ tục, cọp không về nữa.
(còn tiếp)