Chưa xemBởi lilac
Đây là câu chuyện trong sách của P.Vigne. Nguồn http://www.outre-vie.forumactif.com
lilac tạm dịch.

‘Là một người thợ không được dạy nghề, sanh tại Pas de Calais (Pháp) vào năm 1876 trong một gia đình thợ mỏ cha truyền con nối, nên vào năm 14 tuổi Augustin Lesage đã xuống hầm mỏ làm việc. Trong suốt 20 năm Lesage cả ngày chỉ biết những khúc đường hầm chật hẹp lù mù, và sống trong sự sợ hãi roi đòn, cộng thêm khí độc silicon gây chết người. Một ngày kia, cuộc đời của Lesage bỗng thay đổi một cách bất ngờ.

Lời của Lesage: “Tôi đang làm việc trong một khu của hầm mỏ, nơi đó hoàn toàn im lặng, bỗng nhiên tôi nghe tiếng nói của ai đó rất rõ nói với tôi: sẽ có ngày, con sẽ là họa sĩ. Tôi nhìn khắp nơi chung quanh mà không thấy ai ở đó, đúng là chỉ có mỗi một mình tôi nên tôi cảm thấy rất kinh ngạc sợ hãi. Khi trở lên, tôi không nói gì với ai hết vì tôi sợ người ta sẽ cho tôi là thằng điên! Vài ngày sau đó, vào lúc tôi đang làm việc một mình, tôi lại nghe tiếng nói đó. Tôi tiếp tục giữ im lặng về chuyện này, vào lúc đó tôi không hề biết rằng trên đời này có những chuyện không thể giải nghĩa được…”

Cuối cùng Lesage cũng tâm sự với những người bạn có biết một chút về khoa huyền bí và họ tổ chức một buổi để liên lạc với thế giới vô hình; một linh điển đến và nhấn mạnh rằng Lesage phải vẽ tranh. Điều này làm cho Lesage rất ngạc nhiên vì học vấn của anh đã ngừng lại ở cái bằng tiểu học và lối vẽ của anh cũng không có gì là nổi bật. Cuối cùng Lesage cũng nghe lời và bắt đầu vẽ tranh; khi vẽ anh để bàn tay tự động di chuyển và kết quả nhìn cũng khá đẹp mắt. Bức tranh đầu tiên anh hoàn thành là vào năm 1912 và anh cho biết anh được sự hướng dẫn của nhà họa sĩ cổ có tên là Marius de Tyane mà trước nay không có tài liệu nào nói đến. Dần dà, anh bắt đầu vẽ những biểu tượng của Ai Cập cổ đại. Có một vị khách giàu có và đam mê khoa huyền bí lấy làm lạ khi nhìn thấy những biểu tượng đó nên ông ta đã mời Lesage đi một chuyến với ông đến Ai Cập. Khi đến đây, Lesage có những cảm giác quen thuộc, như là gặp lại một xứ sở đã mất. Trong "Thung lũng các Vua” (vallée des Rois), Lesage đã thấy một ngôi mộ trên đó được trang hoàng bằng những hình ảnh giống hệt với bức tranh mà Lesage đã vẽ vào năm 1912!

Rõ ràng, Lesage đã vẽ bức tranh của anh rất lâu trước khi anh đến xứ Ai Cập, và cũng rất lâu trước khi người ta tìm ra ngôi mộ của Méra. Bức tranh trên mộ đó hoàn toàn không có bản thứ hai nào được lưu giữ. Ta có thể đến viện Hình nhi thượng học tại Paris để so sánh hai bức họa trên.

Câu chuyện này khiến người ta nghĩ có lẽ Lesage chính là họa sĩ Marius de Tyane ngày xưa đầu thai trở lại, các bạn nghĩ sao?
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi tieutanghinh
"Câu chuyện này khiến người ta nghĩ có lẽ Lesage chính là họa sĩ Marius de Tyane ngày xưa đầu thai trở lại, các bạn nghĩ sao?"

Theo câu chuyện thì TTH nghĩ Lesage được phần vô hình độ trì mà biết vẽ, chứ không phải là họa sĩ Marius đầu thai.

Vì nếu là đầu thai lại thì chủng tử sẽ có sẵn và tự nhiên vẽ đẹp, nhưng đằng này, bước đầu L. hoàn toàn không biết vẽ gì hết, và sau khi được 1 giọng nói vô hình khuyến khích thì đã mạnh dạn vẽ, và cũng chính ông ta cho rằng mình được 1 họa sĩ cổ Marius de Tyane đã hướng dẫn vẽ.
Chưa xemBởi nhulong
Suốt thời thơ ấu, Pearl L. Pollard (tên hồi con gái của Pearl Curran, 1883-1937) chỉ là cô bé có trí thông minh ở mức trung bình, không có năng khiếu hay sở thích nào đặc biệt và khá thờ ơ với chuyện học hành.
Năm 14 tuổi, ngượng với bạn bè vì phải học lại một lớp nên Pearl Curran bỏ dở chương trình trung học và xin đi làm.
10 năm sau, bà kết hôn và bắt đầu một cuộc sống khép kín, buồn tẻ của người nội trợ trong một gia đình nghèo thuộc tầng lớp lao động.

Những người quen biết với Curran không bao giờ thấy bà nói chuyện văn chương cũng chưa hề thấy người phụ nữ này có lấy một cuốn sách trong nhà. Mọi thứ cứ thế bình lặng trôi đi trong nhiều năm.

Cho đến một ngày tháng 7/1913, mấy người hàng xóm ghé chơi mang theo một chiếc bảng cầu cơ (loại bảng gồm các chữ cái, các ký tự khác và một mũi tên được cho là có thể chuyển tải thông tin từ thế giới bên kia).

Pearl Curran vừa đặt tay vào thì mũi tên bắt đầu dịch chuyển giữa các con chữ trên bảng và một thông điệp dần hiện ra. Đó là tên một phụ nữ: Patience Worth.

Tò mò, Pearl Curran và những người hàng xóm tiếp tục đặt các câu hỏi cho Patience Worth qua bảng cầu cơ.

Patience Worth cho biết, bà là một phụ nữ đã sống ở Dorsetshire, Anh, năm 1649 hoặc 1694 sau đó di cư sang Mỹ và bị thổ dân da đỏ ở đó sát hại.

Từ sau buổi cầu cơ, Pearl Curran bỗng nhiên trở thành một con người khác.
Trong vòng 9 năm tiếp theo, bà bước hẳn vào lĩnh vực văn chương và liên tiếp cho ra đời nhiều bộ tiểu thuyết, một số truyện ngắn và hàng trăm bài thơ.

Nhiều tác phẩm trong số này được giới phê bình đánh giá khá cao và thu hút được sự chú ý của độc giả vì giá trị nghệ thuật và tư tưởng.

Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên hơn cả là Pearl Curran khẳng định mình không phải là người viết nên những tác phẩm này.

Tất cả những gì bà làm chỉ là chép lại từng câu chữ được Patience Worth "đọc" cho nghe trong đầu hay qua bảng cầu cơ. Khá nhiều học giả hồi đó tin vào giải thích này vì theo họ, với trình độ học vấn và hiểu biết của Pearl Curran thì sáng tác là điều không tưởng.

Hơn nữa, phân tích ngôn ngữ dùng trong các tác phẩm của bà, khoảng 90% là thuộc hệ Anglo-Saxon và 10% là tiếng Pháp cổ được dùng từ thế kỷ 17 trở về trước. Làm sao một bà nội trợ chưa học hết trung học, suốt ngày chỉ ru rú trong nhà và chẳng bao giờ sờ đến sách vở như Pearl Curran lại có thể sử dụng thứ ngôn ngữ này.

Từ sau năm 1922, số lượng các tác phẩm mà Pearl Curran cho ra đời ngày càng ít đi. Theo lời bà thì, Patience Worth cũng không còn đọc tiếp cho bà chép nữa. Patience Worth cũng không xuất hiện nữa, dù cũng có người thử dùng bảng cầu cơ để liên lạc. Nhiều thập kỷ sau đó, người ta vẫn còn tranh cãi về tính trung thực trong câu chuyện về Patience Worth. Một số người vẫn tin rằng thực sự có một linh hồn như vậy tồn tại và nó đã liên hệ với Pearl Curran bằng sợi dây tâm linh để thực hiện giấc mơ văn chương còn dang dở lúc sinh thời. Ngược lại, nhiều người khác cho đó chỉ là một màn kịch để tiếp thị sách.