- Chủ nhật Tháng 11 17, 2024 12:12 pm
Con kính đảnh lễ Tổ, Thầy,
Em kính chào chị Ngọc Lam.
Đây là câu chuyện có thật về 7 người bị quỷ nhập trong 1 căn nhà ở Lancashire, nước Anh vào thế kỷ 16, trích từ cuốn sách “Trừ tà và quỷ nhập đầu thời kì hiện đại nước Anh”.
Ông Nicholas Starkie sống cùng vợ tại vùng Lancashire. Gia đình người vợ là quý tộc và theo Công giáo vì không muốn đàn ông ngoại tộc thừa kế tài sản của vợ nên đã thề độc và trù cho con cái vợ chồng họ chết. Bốn đứa con của họ lần lượt bị bịnh chết hết. Sau đó có người trong họ tiết lộ cho bà biết về lời nguyền của họ. Bà liền giao quyền thừa kế tài sản cho chồng. Về sau họ cũng có được 1 trai, 1 gái, cả hai khỏe mạnh đến khi chúng 10-12 tuổi.
Đầu tiên, con gái của họ là Anne bắt đầu có biểu hiện trầm cảm và hay đột ngột co rúm người lại như sợ hãi. Sau đó con trai, John, trên đường tới trường thì gào thét lên điên dại. Ông Nicholas tìm đến 1 linh mục Công giáo xin giúp đỡ nhưng linh mục nói mình không có đủ sách vở cần thiết cho chuyện nầy. Nicholas mời một phù thủy Edmund Harley đến nhà. Edmund dùng bùa chú và dược thảo trị liệu và giúp cho hai đứa con ông giảm bớt các triệu chứng. Gia đình yên ổn được một năm rưỡi khi có Edmond ở chung với họ. Khi Edmund chuẩn bị di cư qua nước khác thì John bắt đầu bị chảy máu mũi nghiêm trọng. Hartley nói chỉ cần John cách xa ông ta 40 bước thì nó sẽ chảy máu mũi không cầm được. Nicholas dùng tiền để giữ chân Edmund, nhưng một thời gian sau hắn lại đòi thêm nhà và đất đai.
Trong một lần Nicholas đi cùng Edmund tới nhà bố ruột, Nicholas bị bịnh suốt đêm. Để trị bịnh cho Nicholas, Edmund đi vào khu rừng gần nhà, vẽ 1 vòng tròn và thực hiện một nghi lễ với các cây thánh giá, và kêu Nicholas xóa vòng tròn đó. Nicholas sợ đó là ma thuật của Edmond nên không làm theo. Thời gian qua Nicholas mệt mỏi với Edmund và tình trạng hai đứa con cũng tệ hơn nên Nicholas tìm đến những mục sư, cầu nguyện và ăn chay. Hai đứa trẻ được trở lại bình thường trong 3 tuần, nhưng một ngày đó, John đang đọc sách thì bị vật gì đó đập mạnh vào gáy, ngã lăn ra sàn và nằm đó kêu rên đau đớn suốt 2 tiếng. John cho rằng Satan đã đánh vào gáy mình. Đêm đó đang ngủ John bật dậy, lăn lộn, và trở nên rất mạnh mẽ. Ai cố giữ cậu ta lại đều bị cắn, kể cả bà mẹ, và còn quăng những thanh chắn giường vào đầu họ.
Thời điểm này tại nhà của Nicholas còn có 3 cô gái khác là hai chị em Margaret Hurdman (14 tuổi), và Ellinor (10 tuổi) và còn Ellen Holland (12 tuổi). Ba cô gái này được bố mẹ họ trả tiền nhờ Nicholas dạy kèm cho họ. Hôm đó 3 cô gái nầy và hai chị em Anne và John đều kêu rên gào rú, rồi ngã lăn ra sàn nhà nằm bất động. Một người họ hàng bên vợ của Nicholas là Margaret, và cô hầu gái Jane cũng bị như vậy.
Mọi chuyện được cho rằng chính gã phù thủy Edmund Hartley đã gây ra, vì trước đó hắn đã có hôn các nạn nhân và qua đó thổi linh hồn quỷ dữ vào cơ thể họ. Cô bé Ellinor trong một lần bị lên cơn đã nói rằng chính Hartley đã hôn cô. Khi bị nhập, Ellinor khoẻ đến mức 3 người đàn ông không thể giữ nổi cô. Một cô hầu gái khác là Joan Smith cũng bị hắn hôn nhưng cô ta đẩy hắn ra, và chỉ có cô ta là không bị nhập.
Margaret, bà con bên vợ Nicholas kể rằng, vào 1 đêm, khi Edmund đang lên cơn đau đớn vì bệnh, Margaret đến an ủi hắn và ngồi trước giường nói chuyện với hắn, và sau đó không thể đứng lên, và cũng không nói được. Khi người khác đến đỡ cô dậy, cô ngã xuống sàn và trở nên vô ý thức, còn gã bỏ mặc cô đi sang phòng khác. Điều đáng chú ý là trong khi ở nhà Nicholas, hắn không còn bị các cơn bệnh hành hạ, mặc dù trước đó hắn thường xuyên gặp phải.
Cô hầu gái Jane và Margaret đều nói Edmund thể hiện tình cảm với họ, hôn họ và đề nghị cưới họ.
Một số chi tiết cụ thể của các nạn nhân:
Ngoài những lúc hung bạo gào rú ra, cũng có những lúc John bộc lộ kiến thức phi thường. Cậu lên án tội lỗi của loài người và cảnh báo mọi người về sự phán xét của Chúa, khuyên răn con người trên cả nước Anh hãy biết ăn năn hối cải để tránh được những tai ương. Sau đó cậu cầu nguyện 1 cách rất “chuyên nghiệp” trong suốt 2 giờ mà ngay cả 1 nhà truyền giáo cũng khó mà làm được, và còn hát 1 bài thánh ca với giọng hát rất ngọt ngào và thánh thiện. Tất cả những việc này đều được thực hiện khi cậu trong trạng thái mê sảng, mắt nhắm chặt. Cậu ta có thể biết chính xác có bao nhiêu người trong căn phòng (cả hàng xóm) và kể tên họ ra. Trước khi tỉnh lại, John bảo bố rằng có “một người” mới dọn vào phòng này ở, hãy để “người đó” vào. Sau khi tỉnh lại, John không nhớ bất cứ điều gì.
Margaret Hurdman thì rơi vào trạng thái vô hồn suốt 3 tiếng, cô bị nhập bởi 1 linh hồn kiêu ngạo thể hiện rõ qua cử chỉ, lời nói. Không vừa lòng với những bộ trang phục giản dị mà thích quần áo thời thượng. Cô còn nói chuyện 1 cách kiêu kỳ với 1 linh hồn nam giới vô hình khác nào đó trước mặt, phàn nàn về quần áo thời trang. Có lúc nói: "Ta thách thức ngươi, Satan, và niềm tự hào của ngươi, vì đây là ảo giác và sự lừa dối của ngươi. Ta không cần nó", rồi nói: "Chúa Jesus phù hộ cho con". Sau đó Margaret cũng không nhớ gì hết. Trong một lần khác, cô đi đến chỗ những người giúp việc đang giặt quần áo và bắt đầu giặt cùng họ. Dù họ là 2 phụ nữ khỏe mạnh còn cô chỉ là một cô bé, cô lại giặt nhanh và sạch hơn họ trong suốt 1 giờ đồng hồ.
Ellen và Ellinor, cả 2 đều rơi vào trạng thái mê man, không ăn uống gì. Đến đêm thứ 3, Ellen yêu cầu mang 1 chiếc đồng hồ cát đến, và nói cô sẽ lên cơn trong 4 giờ đồng hồ. Cô yêu cầu mang tới cho cô một con quay sợi và một cuộn chỉ, đồng thời dặn họ lật đồng hồ cát, nói rằng cô sẽ quay sợi trong 1 tiếng rưỡi. Dù chỉ là một đứa trẻ, nhưng cô làm nhanh nhẹn và khéo léo hơn một người lành nghề, và đúng một tiếng rưỡi thì dừng lại. Sau đó thì cô bị lên cơn và tỉnh lại thì đúng 4 tiếng sau.
Ellinor cũng báo trước mình sẽ lên cơn trong 3 tiếng đồng hồ và cũng yêu cầu mang cái đồng hồ cát tới. Liền sau đó thì cô nhắm mắt như rơi vào trạng thái mơ hồ. Tuy vậy, cô vẫn báo thời gian trôi qua một cách chính xác mỗi 15 phút, 30 phút v.v. Sau khi nói: "Chúa Giê-su phù hộ con" thì trở lại bình thường trước sự chứng kiến của nhiều người.
Hơn nữa, 4 đứa trẻ này: John và Anne Starkie, Ellen và Ellinor dùng tay và đầu gối di chuyển từng phòng này sang phòng khác không ngừng nghỉ, chúng nhảy từ sàn nhà lên giường và từ giường xuống sàn nhẹ nhàng như những con ếch. Sau 7 tiếng đồng hồ chúng mới đi lại được bình thường, nhưng vẫn trong tình trạng vô thức và á khẩu. Sau đó cả 4 đứa bé đi ra vườn. Mỗi người hái 1 chiếc lá của mỗi loại thảo mộc trong vườn không sót 1 loại nào, kể cả cỏ. Mỗi đứa bé đều đặt một chiếc lá của từng loại thảo mộc đã hái vào cửa sổ các phòng. Vì nhà Nicholas là căn nhà quý tộc nên rất là to, rộng nhưng chúng lại làm rất nhanh và chính xác. Khi tỉnh lại, chúng không nhớ gì hết.
Trong 1 lần rơi vào trạng thái vô thức khác, chúng khiêu vũ uyển chuyển như thể vừa từ trường dạy múa ra, và 1 trong những đứa nhỏ nhất còn chơi nhạc bằng miệng rất thành thạo như 1 nhạc công chuyên nghiệp.
Mọi người quan sát thấy rằng, những lúc chúng lên cơn thì đều bị hành hạ và tra tấn dữ dội, nhưng nếu chúng đi chơi bài hay các trò chơi khác thì không hề bị hành hạ trong suốt thời gian chơi. Khi chúng được mời đến nhà 1 quý tộc để xem kịch, chúng cũng không bị hành chút nào. Ngược lại, nếu chúng nghe đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, hoặc được khuyên răn, thì chúng thường lên cơn và bị hành hạ khủng khiếp.
Trong suốt 2 năm, cho đến khi được bình phục, chúng không dám đến nhà thờ. Khi bị nhập, chúng có sức mạnh phi thường. Dù đều là trẻ con nhưng cả 2 hoặc 3 người đàn ông khỏe mạnh cũng khó giữ nổi 1 đứa. Hơn nữa, 2 đứa nhỏ nhất và vài đứa khác, dù không biết chữ và chưa từng đi học, nhưng chúng có thể trả lời các câu hỏi bằng tiếng Latin một cách nhanh và chính xác như rất thành thạo. Khi tỉnh lại, chúng không thể hiểu một từ nào. Một thời gian bình thường và sau đó chúng tiếp tục lên cơn, kêu rên, sủa và gào rú.
Margaret Byrom, họ hàng của vợ Nicholas là người bị hành nặng nhất. Trong chặng đường về nhà cha mẹ ruột, Margaret đi cùng với Edmund. Trong khoảng 11 km cô bị nhập 10 lần. Edmund nói phải có 2,3 người cầu nguyện mới giúp được cô. Tới nhà Margaret nằm trên giường thấy nửa khuôn mặt của 1 quỷ lùn, đen, xấu xí, tóc dài bù xù chân tay to đen xì. Cô cầu nguyện thì hắn doạ nếu cô cầu nguyện sẽ mang cô đi ngay lập tức. Cô vẫn gắng cầu nguyện thì hắn biến mất. Trong vòng 6 tuần có 6 lần ác quỷ không cho cô ăn uống. Nếu ăn thì bị quật té xuống đất. Cũng có những lúc cô ăn uống ngấu nghiến như con chó đói, mà vẫn liên tục kêu đói. Tuy ăn nhiều nhưng bụng cô vẫn phẳng lì, không ai hiểu thức ăn đó đã đi đâu.
Đôi khi, cô nói ác quỷ hiện ra là một con chó đen lớn với cái miệng há to và một sợi xích rất là dày, dài và to. Hắn quấn lấy chân cô, làm cô ngã sóng soài.
Trong 6 tuần cô không hề được nghỉ ngơi. Nhiều khi có cả người ở xung quanh cô, cô vẫn bất ngờ bị hắn quật mạnh, hay bị ném xuống gầm giường, có lúc bị quăng vào lò sưởi; đang ngồi trên ghế thì bất ngờ bị đẩy ngã ngửa ra sau. Ác quỷ còn xuất hiện là 1 con mèo đen to lớn, hai con mắt to nhìn cô chằm chằm, nó chạy vòng quanh cô và hất cô ngã nhào bất tỉnh. Khoảng nửa giờ sau, ác quỷ lại xuất hiện là con chuột to nhảy lên đầu gối cô, khiến cô ngã ngửa tiếp. Cô bất tỉnh, lưỡi co rút vào cổ họng, miệng há ra, hàm cứng đơ, và toàn thân co cứng như sắt. Việc này diễn ra nhiều lần, mỗi lần kéo dài cả tiếng đồng hồ, làm ai nấy kinh hãi.
Ban đêm khi cô chuẩn bị lên giường thì cô thấy một người đàn ông đen lộ nửa mặt hất cô ngã ngửa ra sau. Khi cô tỉnh lại và lên giường, nó lại đến và ngồi trên đầu cô, đặt bốn ngón tay lên trán cô với sức nặng rất lớn. Nó giữ cô rất chặt, khiến cô không thể nhìn hay cử động. Khăn, mũ trùm đầu và tóc của cô dù đã buộc chúng thật chặt, nhưng chỉ trong tích tắc, mọi thứ đều bị xé toạc. Chuyện này xảy ra 2-3 lần mỗi đêm. Mỗi khi rời đi, ác quỷ luôn đánh mạnh vào phần sau đầu cô đến mức khiến đầu cô đau nhức một thời gian dài sau đó. Có ngày cô cảm thấy như có một thứ gì đó như một con bê đang lăn lộn và chọc móng vuốt vào bụng mình khiến cô đau đớn hét lên. Bụng bị sưng to lên.
Cuối cùng là Jane. Trước sự chứng kiến của 50 người, các mục sư tiếp tục cầu nguyện cho cô. Sau 1 buổi cầu nguyện dài, cuối cùng Jane được giải thoát. Tuy nhiên, sau khi chuyển đến sống với người chú của cô rồi cải đạo sang Công giáo, cô bị các linh mục mê tín dùng phù phép, khiến cô bị nhập xác trở lại.
Tất cả 7 người này, ngoại trừ Jane, đã không còn bị các triệu chứng quỷ ám nào trong suốt 2 năm rưỡi sau đó. Họ sống bình yên, đi nhà thờ, cầu nguyện và tôn kính Chúa, cuộc sống của họ thay đổi rõ rệt và trở nên tốt đẹp hơn.
John và Anne đều kết hôn lập gia đình. John giữ chức vụ Cảnh sát trưởng Lancashire và chức thẩm phán hoà giải (Justice of the Peace). Trong cuộc Nội chiến Anh, John được phong làm Đại tá.
Cuộc sống của 4 người còn lại thì không được nói rõ nhưng tiếng tăm của vụ việc đã lan đến London. Và được diễn trong vở kịch: The Devil is an Ass.
Xem thêm bài: Sáu người bị quỷ nhập ở Đài Loan (2005) - kiemmadocco
Em kính chào chị Ngọc Lam.
Đây là câu chuyện có thật về 7 người bị quỷ nhập trong 1 căn nhà ở Lancashire, nước Anh vào thế kỷ 16, trích từ cuốn sách “Trừ tà và quỷ nhập đầu thời kì hiện đại nước Anh”.
Ông Nicholas Starkie sống cùng vợ tại vùng Lancashire. Gia đình người vợ là quý tộc và theo Công giáo vì không muốn đàn ông ngoại tộc thừa kế tài sản của vợ nên đã thề độc và trù cho con cái vợ chồng họ chết. Bốn đứa con của họ lần lượt bị bịnh chết hết. Sau đó có người trong họ tiết lộ cho bà biết về lời nguyền của họ. Bà liền giao quyền thừa kế tài sản cho chồng. Về sau họ cũng có được 1 trai, 1 gái, cả hai khỏe mạnh đến khi chúng 10-12 tuổi.
Đầu tiên, con gái của họ là Anne bắt đầu có biểu hiện trầm cảm và hay đột ngột co rúm người lại như sợ hãi. Sau đó con trai, John, trên đường tới trường thì gào thét lên điên dại. Ông Nicholas tìm đến 1 linh mục Công giáo xin giúp đỡ nhưng linh mục nói mình không có đủ sách vở cần thiết cho chuyện nầy. Nicholas mời một phù thủy Edmund Harley đến nhà. Edmund dùng bùa chú và dược thảo trị liệu và giúp cho hai đứa con ông giảm bớt các triệu chứng. Gia đình yên ổn được một năm rưỡi khi có Edmond ở chung với họ. Khi Edmund chuẩn bị di cư qua nước khác thì John bắt đầu bị chảy máu mũi nghiêm trọng. Hartley nói chỉ cần John cách xa ông ta 40 bước thì nó sẽ chảy máu mũi không cầm được. Nicholas dùng tiền để giữ chân Edmund, nhưng một thời gian sau hắn lại đòi thêm nhà và đất đai.
Trong một lần Nicholas đi cùng Edmund tới nhà bố ruột, Nicholas bị bịnh suốt đêm. Để trị bịnh cho Nicholas, Edmund đi vào khu rừng gần nhà, vẽ 1 vòng tròn và thực hiện một nghi lễ với các cây thánh giá, và kêu Nicholas xóa vòng tròn đó. Nicholas sợ đó là ma thuật của Edmond nên không làm theo. Thời gian qua Nicholas mệt mỏi với Edmund và tình trạng hai đứa con cũng tệ hơn nên Nicholas tìm đến những mục sư, cầu nguyện và ăn chay. Hai đứa trẻ được trở lại bình thường trong 3 tuần, nhưng một ngày đó, John đang đọc sách thì bị vật gì đó đập mạnh vào gáy, ngã lăn ra sàn và nằm đó kêu rên đau đớn suốt 2 tiếng. John cho rằng Satan đã đánh vào gáy mình. Đêm đó đang ngủ John bật dậy, lăn lộn, và trở nên rất mạnh mẽ. Ai cố giữ cậu ta lại đều bị cắn, kể cả bà mẹ, và còn quăng những thanh chắn giường vào đầu họ.
Thời điểm này tại nhà của Nicholas còn có 3 cô gái khác là hai chị em Margaret Hurdman (14 tuổi), và Ellinor (10 tuổi) và còn Ellen Holland (12 tuổi). Ba cô gái này được bố mẹ họ trả tiền nhờ Nicholas dạy kèm cho họ. Hôm đó 3 cô gái nầy và hai chị em Anne và John đều kêu rên gào rú, rồi ngã lăn ra sàn nhà nằm bất động. Một người họ hàng bên vợ của Nicholas là Margaret, và cô hầu gái Jane cũng bị như vậy.
Mọi chuyện được cho rằng chính gã phù thủy Edmund Hartley đã gây ra, vì trước đó hắn đã có hôn các nạn nhân và qua đó thổi linh hồn quỷ dữ vào cơ thể họ. Cô bé Ellinor trong một lần bị lên cơn đã nói rằng chính Hartley đã hôn cô. Khi bị nhập, Ellinor khoẻ đến mức 3 người đàn ông không thể giữ nổi cô. Một cô hầu gái khác là Joan Smith cũng bị hắn hôn nhưng cô ta đẩy hắn ra, và chỉ có cô ta là không bị nhập.
Margaret, bà con bên vợ Nicholas kể rằng, vào 1 đêm, khi Edmund đang lên cơn đau đớn vì bệnh, Margaret đến an ủi hắn và ngồi trước giường nói chuyện với hắn, và sau đó không thể đứng lên, và cũng không nói được. Khi người khác đến đỡ cô dậy, cô ngã xuống sàn và trở nên vô ý thức, còn gã bỏ mặc cô đi sang phòng khác. Điều đáng chú ý là trong khi ở nhà Nicholas, hắn không còn bị các cơn bệnh hành hạ, mặc dù trước đó hắn thường xuyên gặp phải.
Cô hầu gái Jane và Margaret đều nói Edmund thể hiện tình cảm với họ, hôn họ và đề nghị cưới họ.
Một số chi tiết cụ thể của các nạn nhân:
Ngoài những lúc hung bạo gào rú ra, cũng có những lúc John bộc lộ kiến thức phi thường. Cậu lên án tội lỗi của loài người và cảnh báo mọi người về sự phán xét của Chúa, khuyên răn con người trên cả nước Anh hãy biết ăn năn hối cải để tránh được những tai ương. Sau đó cậu cầu nguyện 1 cách rất “chuyên nghiệp” trong suốt 2 giờ mà ngay cả 1 nhà truyền giáo cũng khó mà làm được, và còn hát 1 bài thánh ca với giọng hát rất ngọt ngào và thánh thiện. Tất cả những việc này đều được thực hiện khi cậu trong trạng thái mê sảng, mắt nhắm chặt. Cậu ta có thể biết chính xác có bao nhiêu người trong căn phòng (cả hàng xóm) và kể tên họ ra. Trước khi tỉnh lại, John bảo bố rằng có “một người” mới dọn vào phòng này ở, hãy để “người đó” vào. Sau khi tỉnh lại, John không nhớ bất cứ điều gì.
Margaret Hurdman thì rơi vào trạng thái vô hồn suốt 3 tiếng, cô bị nhập bởi 1 linh hồn kiêu ngạo thể hiện rõ qua cử chỉ, lời nói. Không vừa lòng với những bộ trang phục giản dị mà thích quần áo thời thượng. Cô còn nói chuyện 1 cách kiêu kỳ với 1 linh hồn nam giới vô hình khác nào đó trước mặt, phàn nàn về quần áo thời trang. Có lúc nói: "Ta thách thức ngươi, Satan, và niềm tự hào của ngươi, vì đây là ảo giác và sự lừa dối của ngươi. Ta không cần nó", rồi nói: "Chúa Jesus phù hộ cho con". Sau đó Margaret cũng không nhớ gì hết. Trong một lần khác, cô đi đến chỗ những người giúp việc đang giặt quần áo và bắt đầu giặt cùng họ. Dù họ là 2 phụ nữ khỏe mạnh còn cô chỉ là một cô bé, cô lại giặt nhanh và sạch hơn họ trong suốt 1 giờ đồng hồ.
Ellen và Ellinor, cả 2 đều rơi vào trạng thái mê man, không ăn uống gì. Đến đêm thứ 3, Ellen yêu cầu mang 1 chiếc đồng hồ cát đến, và nói cô sẽ lên cơn trong 4 giờ đồng hồ. Cô yêu cầu mang tới cho cô một con quay sợi và một cuộn chỉ, đồng thời dặn họ lật đồng hồ cát, nói rằng cô sẽ quay sợi trong 1 tiếng rưỡi. Dù chỉ là một đứa trẻ, nhưng cô làm nhanh nhẹn và khéo léo hơn một người lành nghề, và đúng một tiếng rưỡi thì dừng lại. Sau đó thì cô bị lên cơn và tỉnh lại thì đúng 4 tiếng sau.
Ellinor cũng báo trước mình sẽ lên cơn trong 3 tiếng đồng hồ và cũng yêu cầu mang cái đồng hồ cát tới. Liền sau đó thì cô nhắm mắt như rơi vào trạng thái mơ hồ. Tuy vậy, cô vẫn báo thời gian trôi qua một cách chính xác mỗi 15 phút, 30 phút v.v. Sau khi nói: "Chúa Giê-su phù hộ con" thì trở lại bình thường trước sự chứng kiến của nhiều người.
Hơn nữa, 4 đứa trẻ này: John và Anne Starkie, Ellen và Ellinor dùng tay và đầu gối di chuyển từng phòng này sang phòng khác không ngừng nghỉ, chúng nhảy từ sàn nhà lên giường và từ giường xuống sàn nhẹ nhàng như những con ếch. Sau 7 tiếng đồng hồ chúng mới đi lại được bình thường, nhưng vẫn trong tình trạng vô thức và á khẩu. Sau đó cả 4 đứa bé đi ra vườn. Mỗi người hái 1 chiếc lá của mỗi loại thảo mộc trong vườn không sót 1 loại nào, kể cả cỏ. Mỗi đứa bé đều đặt một chiếc lá của từng loại thảo mộc đã hái vào cửa sổ các phòng. Vì nhà Nicholas là căn nhà quý tộc nên rất là to, rộng nhưng chúng lại làm rất nhanh và chính xác. Khi tỉnh lại, chúng không nhớ gì hết.
Trong 1 lần rơi vào trạng thái vô thức khác, chúng khiêu vũ uyển chuyển như thể vừa từ trường dạy múa ra, và 1 trong những đứa nhỏ nhất còn chơi nhạc bằng miệng rất thành thạo như 1 nhạc công chuyên nghiệp.
Mọi người quan sát thấy rằng, những lúc chúng lên cơn thì đều bị hành hạ và tra tấn dữ dội, nhưng nếu chúng đi chơi bài hay các trò chơi khác thì không hề bị hành hạ trong suốt thời gian chơi. Khi chúng được mời đến nhà 1 quý tộc để xem kịch, chúng cũng không bị hành chút nào. Ngược lại, nếu chúng nghe đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, hoặc được khuyên răn, thì chúng thường lên cơn và bị hành hạ khủng khiếp.
Trong suốt 2 năm, cho đến khi được bình phục, chúng không dám đến nhà thờ. Khi bị nhập, chúng có sức mạnh phi thường. Dù đều là trẻ con nhưng cả 2 hoặc 3 người đàn ông khỏe mạnh cũng khó giữ nổi 1 đứa. Hơn nữa, 2 đứa nhỏ nhất và vài đứa khác, dù không biết chữ và chưa từng đi học, nhưng chúng có thể trả lời các câu hỏi bằng tiếng Latin một cách nhanh và chính xác như rất thành thạo. Khi tỉnh lại, chúng không thể hiểu một từ nào. Một thời gian bình thường và sau đó chúng tiếp tục lên cơn, kêu rên, sủa và gào rú.
Margaret Byrom, họ hàng của vợ Nicholas là người bị hành nặng nhất. Trong chặng đường về nhà cha mẹ ruột, Margaret đi cùng với Edmund. Trong khoảng 11 km cô bị nhập 10 lần. Edmund nói phải có 2,3 người cầu nguyện mới giúp được cô. Tới nhà Margaret nằm trên giường thấy nửa khuôn mặt của 1 quỷ lùn, đen, xấu xí, tóc dài bù xù chân tay to đen xì. Cô cầu nguyện thì hắn doạ nếu cô cầu nguyện sẽ mang cô đi ngay lập tức. Cô vẫn gắng cầu nguyện thì hắn biến mất. Trong vòng 6 tuần có 6 lần ác quỷ không cho cô ăn uống. Nếu ăn thì bị quật té xuống đất. Cũng có những lúc cô ăn uống ngấu nghiến như con chó đói, mà vẫn liên tục kêu đói. Tuy ăn nhiều nhưng bụng cô vẫn phẳng lì, không ai hiểu thức ăn đó đã đi đâu.
Đôi khi, cô nói ác quỷ hiện ra là một con chó đen lớn với cái miệng há to và một sợi xích rất là dày, dài và to. Hắn quấn lấy chân cô, làm cô ngã sóng soài.
Trong 6 tuần cô không hề được nghỉ ngơi. Nhiều khi có cả người ở xung quanh cô, cô vẫn bất ngờ bị hắn quật mạnh, hay bị ném xuống gầm giường, có lúc bị quăng vào lò sưởi; đang ngồi trên ghế thì bất ngờ bị đẩy ngã ngửa ra sau. Ác quỷ còn xuất hiện là 1 con mèo đen to lớn, hai con mắt to nhìn cô chằm chằm, nó chạy vòng quanh cô và hất cô ngã nhào bất tỉnh. Khoảng nửa giờ sau, ác quỷ lại xuất hiện là con chuột to nhảy lên đầu gối cô, khiến cô ngã ngửa tiếp. Cô bất tỉnh, lưỡi co rút vào cổ họng, miệng há ra, hàm cứng đơ, và toàn thân co cứng như sắt. Việc này diễn ra nhiều lần, mỗi lần kéo dài cả tiếng đồng hồ, làm ai nấy kinh hãi.
Ban đêm khi cô chuẩn bị lên giường thì cô thấy một người đàn ông đen lộ nửa mặt hất cô ngã ngửa ra sau. Khi cô tỉnh lại và lên giường, nó lại đến và ngồi trên đầu cô, đặt bốn ngón tay lên trán cô với sức nặng rất lớn. Nó giữ cô rất chặt, khiến cô không thể nhìn hay cử động. Khăn, mũ trùm đầu và tóc của cô dù đã buộc chúng thật chặt, nhưng chỉ trong tích tắc, mọi thứ đều bị xé toạc. Chuyện này xảy ra 2-3 lần mỗi đêm. Mỗi khi rời đi, ác quỷ luôn đánh mạnh vào phần sau đầu cô đến mức khiến đầu cô đau nhức một thời gian dài sau đó. Có ngày cô cảm thấy như có một thứ gì đó như một con bê đang lăn lộn và chọc móng vuốt vào bụng mình khiến cô đau đớn hét lên. Bụng bị sưng to lên.
Cuối cùng là Jane. Trước sự chứng kiến của 50 người, các mục sư tiếp tục cầu nguyện cho cô. Sau 1 buổi cầu nguyện dài, cuối cùng Jane được giải thoát. Tuy nhiên, sau khi chuyển đến sống với người chú của cô rồi cải đạo sang Công giáo, cô bị các linh mục mê tín dùng phù phép, khiến cô bị nhập xác trở lại.
Tất cả 7 người này, ngoại trừ Jane, đã không còn bị các triệu chứng quỷ ám nào trong suốt 2 năm rưỡi sau đó. Họ sống bình yên, đi nhà thờ, cầu nguyện và tôn kính Chúa, cuộc sống của họ thay đổi rõ rệt và trở nên tốt đẹp hơn.
John và Anne đều kết hôn lập gia đình. John giữ chức vụ Cảnh sát trưởng Lancashire và chức thẩm phán hoà giải (Justice of the Peace). Trong cuộc Nội chiến Anh, John được phong làm Đại tá.
Cuộc sống của 4 người còn lại thì không được nói rõ nhưng tiếng tăm của vụ việc đã lan đến London. Và được diễn trong vở kịch: The Devil is an Ass.
Xem thêm bài: Sáu người bị quỷ nhập ở Đài Loan (2005) - kiemmadocco
Lưu ý: Vui lòng đăng nhập để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.