Chưa xemBởi Duyên Ngộ
Chương 11 – Tai biến lại bắt đầu

Vừa xong cuộc tĩnh tâm, là nhà tập và nhà mẹ bị lây bệnh. Hai ngày sau khi những chị bị quỷ quấy phá mạnh thuộc nhóm một như Agnes và My ra đi thì những chị khác lại bị quỷ ám nặng hơn. Hơn nữa, cả nhóm đều bị câm. Tôi không thích thú gì khi thấy biến cố xảy ra như thế. Tôi xin các cha bạn thế tôi, trong việc trừ quỷ. Một trong những thừa sai có tiếng là cha Deux, rất thánh thiện, đã từ chối. Vậy là tôi lại phải bắt đầu lại. Chính một người bị quỷ ám xin tôi trừ quỷ. Thực là khôi hài! Trong khi trừ quỷ, họ tỏ ra ghê sợ vô cùng. Nhưng thôi không trừ quỷ nữa, thì họ lại xin tôi tiếp tục. Sau đây là vài trường hợp.

Nhóm câm nói ra những tiếng nghe không rõ, gần giống như tiếng ngựa hí. Khi nghe tiếng kinh khủng đó, tôi rất ngạc nhiên vì do miệng một người phát ra. Agnes vừa hò la xong lại câm trở lại, và làm dấu cho tôi hay, là nếu tôi tiếp tục cô sẽ khỏi. Tôi đành thử xem. Trong khi cử hành nghi lễ cô cũng có giãy giụa nhưng ít mạnh mẽ. Cuối cùng Agnes quỳ gối rất đạo đức, nhưng cô không thể trả lời một câu hỏi tôi đặt ra cho cô, khi rời nhà nguyện. Tôi vừa đi ra thì người ta cho hay là cô muốn nói chuyện với tôi. Cô đã nói được. Trong thời gian này Lucie khạc nhổ vào thánh giá mà tôi trao cho cô hôn kính. Sau đây là những hình thức mới.

Treo lơ lửng. Trong nhóm mấy chị câm có nhiều chị co lưng và ngực lại gần như nghẹt thở. Nhiều cô muốn treo cổ và vài cô đã làm được. May thay, người ta luôn khám phá ra kịp thời, cứu các cô khỏi chết. Đây là những cảnh khó coi, khi các nữ tu thấy bạn bè mình treo cổ hay bị bóp cổ và họ rất khó chịu. Cảnh đó làm xao xuyến tâm hồn và làm cho cộng đoàn sợ hãi.

Nước thánh. Chị giáo tập được đề cử làm bề trên cả. Chị thay thế chị rất coi trọng nước thánh. Khi có quỷ ám là chị rảy nước thánh trên người bị, và nhiều khi quỷ ra. Hay là khi nạn nhân nhìn những người giúp họ với đôi mắt dữ tợn, mi mắt cứng và căng ra như thép thì nước phép làm cho mềm lại. Hay khi lưỡi nạn nhân thè ra một nửa và hai hàm răng cắn chặt như muốn cắt đứt lưỡi thì nước thánh làm cho lưỡi thụt lại và hàm mềm đi. Đôi khi tay co lại hình thước thợ. Nhiều khi năm người cũng không làm cho nó trở lại bình thường. Nước thánh làm cho nó mềm lại. Đôi khi sự cứng đơ di chuyển từ tay này sang tay khác hay sang chân. Người ta tiếp tục rảy nước thánh, nên nhiều khi nạn nhân ướt như chuột lột. Tuy nhiên nhiều khi nước thánh cũng không đem lại hiệu quả gì. Trong trường hợp này, chị giáo tập đưa nạn nhân đến bên tượng thánh Giuse và thường là nạn nhân khỏi bệnh. Dù sao thì những kiểu cách đó, không phải là hoàn toàn có hiệu quả. Quỷ còn nói là:
- Nước phép hay cầu nguyện với thánh Giuse đâu có làm cho chúng ta sợ.

Run rẩy lạ lùng. Chị giáo tập chứng kiến một việc làm cho chị cũng sợ. Chị phải rời nhà nguyện, sau khi chịu lễ, để coi một chị đang bị ám, thay cho chị khác, để chị này đi rước lễ. Vì chị khô miệng nên Mình Thánh còn dính vào Chúa, khi chị cúi xuống với chị bị quỷ ám. Chị này mắt đang nhắm, nhưng bỗng như bị dính xuống sàn không thể kéo lên được. Đồng thời chị ta run rẩy lạ lùng. Thấy vậy chị giáo liền đi cám ơn chịu lễ vào khoảng 15 phút, và sau khi đọc xong kinh thì chị kia hết run và rời khỏi sàn nhà.

Bùa chú. Một hôm, những người bị quỷ ám đào xuống đất hay lặn xuống ao của tu viện và lấy lên nhiều loại bùa chú khác nhau: hoặc những chai đựng tóc, hay sợi chỉ hay những vật khác hay những hình nhân bằng đất có xỏ dây thép. Tôi sợ các chị làm chuyện đó đã giấu hay chôn những vật ấy, và bây giờ lấy lên cho cả nhà ngạc nhiên, nên tôi cho điều tra. Không bao giờ thấy các chị làm chuyện đó. Vả lại, chỗ giấu trên đất thì không có dấu đã đào sẵn, còn ao tu viện thì ở xa, nên ai đi đến đó hay bỏ gì trong ao thì khó mà giấu kín. Hàng chục đồ vật như thế đã được khám phá. Tôi cho lệnh không bao giờ cho các chị ta đi đến chỗ đã khám phá ra những vật ấy. Họ có vẻ hăng hái tìm kiếm nên nhiều khi phải trói họ lại. Sự việc đó xảy ra một thời gian rồi thôi.

Nhảy tài tình. Vì phải đi lo mục vụ nên tôi không thể trừ quỷ được, trong khi tôi đi vắng thường những khủng hoảng kết thúc một cách lạ kỳ. Nhiều lần người ta kể lại cho tôi. Tháng 10 tôi được chứng kiến một vụ. Năm chị thỉnh sinh đã bị ám suốt một tuần và người ta cầu cho các chị được cứu thoát, nhưng vô ích. Tôi đến nhà tập. Họ đến trước mặt tôi và quỷ xin biểu diễn trước khi đi ra. Tôi tò mò cho phép họ. Ngay khi đó, một chị cho tôi hay bao nhiêu lần chị bị vật xuống đất. Sau đó chị nhún chân nhảy lên cao, đồng thời nằm dài ra, chân dài ra và tay chắp lại trên đầu. Như thế không thể nào tránh khỏi rơi xuống nên chị ta rơi sấp mặt xuống đất như một đống thịt. Nhưng chị ta chỗi dậy ngay và cũng làm lại những cuộc biểu diễn ấy nhiều lần. Khi rớt xuống lần cuối cùng chị nằm im như chết và người ta lay chị, chị vẫn không nhúc nhích. Sau 15 phút chị tỉnh lại, và đi ra, không còn nhớ gì hết.

Ba thỉnh sinh khác cũng có những biểu diễn ấy. Chỉ có khác là những lần rớt xuống. Khi họ làm xong tôi hỏi họ có mệt không, họ cho hay: "Mệt chút đỉnh thôi" và họ tiếp tục làm công việc thường nhật không nhớ gì những chuyện đã xảy ra. Những lần nhảy cao đó đối với tôi không lạ lùng lắm vì họ nhảy không cao cho lắm. Tuy nhiên có hai điều gây ngạc nhiên cho tôi. Làm sao 4 cô gái không luyện tập và sửa soạn, có thể thành công trong việc biểu diễn lối nhảy cách phức tạp như thế? Và làm sao họ rơi xuống không hề hấn gì? Nơi thỉnh sinh thứ năm tên Agnes, quỷ từ chối đi ra như nơi các chị em dù người ta đòi hỏi. Chị tiếp tục xử sự như là quỷ và coi mình là sếp những chú quỷ mới xuất ra. Chị cho hay còn công chuyện với nhà tập và không thể theo những quỷ khác được.

Vòng cung Charcot. Vào thời gian đó, chị My đã bị quỷ ám nhiều, được sai đi một tu viện xa Phát Diệm 100 cây số để nghỉ ngơi. Dù đổi chỗ chị cũng vẫn bị quỷ đi theo ám toán. Cha sở tại đó được báo tin và ngài cho là chị bị bệnh thần kinh. Cha đến tu viện, trong đầu luôn nghĩ đến những lý thuyết đã lỗi thời của Charcot, lý thuyết về bệnh động kinh, ghi trong tự điển y khoa năm 1900. Cha mới có ý cho bệnh nhân nằm theo hình vòng cung thì chị đã biểu diễn lối nằm đó chỉ có đầu và chân chạm đất. Cha sở, bà bề trên và vài nữ tu chứng kiến chuyện đó. Khi ở nhà tập Phát Diệm, dù chị có bị ám nặng không bao giờ chị biểu diễn tư thế đó, cũng không có chị nào làm thế. Tôi đã quan sát ít là 10 lần, để xem có bao giờ họ nằm theo tư thế đó mà nhiều sách y khoa coi như là dấu hiệu của bệnh thần kinh. Tôi cũng xin bà bề trên ở Phát diệm khi nào có hiện tượng như thế thì báo cho tôi hay. Nhưng không bao giờ có người nào trong tập viện thấy có ai trong trạng thái như thế.

Trốn đi. An trốn khỏi tập viện và đến nhà người chị họ và xin một miếng trầu. Nhưng người chị biết chuyện đã từ chối thẳng thừng. An giận dỗi:
- Tôi sẽ báo thù, tôi sẽ cho lợn của chị bị toi.
Ngày hôm sau con lợn chết... An không bao giờ vào chuồng lợn, và cũng không có thuốc độc. Hơn nữa sau đó chị không nhớ gì về chuyện đó cả. Trong thời gian này các chị hay tìm cách trốn đi. Người ta thường thấy chị này hay chị kia chạy về phía cổng nhà dòng. Vì thế nhà dòng khoá chặt cửa chính lại. Cửa đóng rồi thì họ lại chạy ra hàng giậu bằng tre rất dễ leo qua. Vì thế phải trói họ vào cột chờ cho họ tỉnh lại.

Vào tháng 10 có 4 thỉnh sinh sau khi bị ngăn trở không trốn được, đã bị trói vào cột và có chị người nhà canh chừng. Khi chị này vắng mặt trong chốc lát, họ lợi dụng tháo gỡ dây trói lao qua hàng giậu tre, và nhào xuống sông cách nhà dòng một cây số. Sông sâu khoảng 4 thước. Nhưng do thiên thần bản mệnh gìn giữ, dù không biết bơi, họ không việc gì cả. Thuyền chài vớt họ lên và họ đi lang thang mấy tiếng đồng hồ và cuối cùng đến nhà một người công giáo đã tiếp đón các chị rất thân tình. Chủ nhà là dì của chị giáo tập. Do đó nhà tập được tin ngay. Một đám đông tụ lại nhà người giáo dân đã tiếp đón các chị. Các nữ tu có dịp thực thi đức khiêm nhường. Cả xứ và những người không công giáo trong vùng đều biết chuyện ấy. Chúng ta dễ dàng đoán ra những lời bình phẩm về cuộc trốn chạy đó, nơi người công giáo đạo đức hay nguội lạnh và nghịch đạo nữa. Được báo cáo về chuyện đó, tôi ra lệnh đem các chị về vào ban đêm. Vào giờ đó, chị Agnes như là lãnh đạo không thèm đoái hoài gì đến lệnh ra cả. Đành phải mang chị đi. Bốn người mang chị ta là bốn anh con trai lực lưỡng khoẻ mạnh, thấy chị nặng quá nên đề nghị bỏ chị xuống đi bộ. Chị trả lời:
- Nếu đến chùa thì ta chạy. Nếu về lại tập viện ta không đi đâu.
Đi được 500 thước 4 chàng trai phải bỏ chị xuống để nghỉ lấy sức. Vài ngày sau, tôi quở trách nặng lời mẹ bề trên không canh chừng cẩn thận. Nhưng bà trả lời là chị người nhà mới đi vắng có một phút, vào bếp rồi ra ngay và các chị đều bị trói chặt không ai giúp ai cả. Bà bề trên muốn cho tôi hay, là không có quỷ, các chị không thể cởi trói nhanh như thế và cùng một lúc như thế. Nhưng câu trả lời không thuyết phục được tôi. Cùng lúc đó tôi thấy Agnes đang bị khuấy khuất. Tôi bảo bà bề trên:
- Tôi chứng minh cho bà xem có thể ngăn cản chị ta trốn. Bà hãy trói chị ta lại trước mặt tôi.
Chị giáo tập đi kiếm một dây thừng mới, dày bằng ngón tay và trói chị ta vào cột. Sau đó chị giáo tập và bà bề trên mỗi người nắm một đầu vòng quanh chị ta năm sáu vòng nữa, mỗi vòng đều có thắt nút. Họ trói cả cổ tay và nối hai đầu lại. Thấy chị Agnes bị trói như thế, tôi khen bà bề trên, tỏ vẻ hài lòng, và chắc chắn là lần này chị ta không thể nào gỡ ra được. Tôi vừa nói xong, thì chị Agnes bật cười và nói với tôi:
- Cha xem tháo trói dễ dàng lắm.
Cùng lúc đó dây trói vuột khỏi cổ tay, khỏi cánh tay và dây thừng rơi xuống đất. Chuyện xảy ra trong nháy mắt. Tôi chú ý nhìn vào Agnes chỉ cách tôi một thước rưỡi, và không còn thời gian để xem dây cởi ra như thế nào. Đây là sự kiện kỳ lạ sau cùng mà chính tôi mục kích. Sau đó tại tập viện những chuyện quỷ ám bớt dần và cũng dần dần giảm bớt cường độ.
(còn tiếp)
Chưa xemBởi Duyên Ngộ
Chương 12 – Những xao xuyến mới của chị Maria Diện

Chúng ta hãy trở lại đầu năm 1925. Đã xảy ra cho chị Maria Diện điều gì sau khi chị tuyên khấn, và rời Phát Diệm đến một tu viện mới? Chị vừa tới, là có những người lạ mặt ném đá và đất vào chị. Không thể tìm ra ai là thủ phạm. Và từ trước đến nay trong làng ấy, không có ai thù nghịch với các nữ tu. Sau đó ít lâu chị Diện và một chị bạn bị khuấy khuất và khóc lóc. Bà bề trên xin gửi trả hai chị trở thành gánh nặng cho họ đó. Chị giáo tập có bổn phận khẩn cấp dẫn chị về nhà mẹ. Maria Diện đi xe kéo. Không thể kéo chị được, nên anh phu xe phải dừng lại dọc đường và than thở: "Chưa bao giờ tôi kéo một cô nặng như thế". Dù cho chị Diện chỉ nặng có 40 kí lô.

Nhà mẹ tiếp đón chị rất lạnh nhạt. Bà bề trên nhớ tới những khó chịu chị đã gây cho nhà dòng. Bà vui mừng khi thấy chị ra đi và chỉ vì vâng lời bà chấp nhận chị trở lại. Từ khi trở lại Phát Diệm, chị Diện và chị bạn hoàn toàn khỏi hẳn và trong nhiều tháng trời chị không tỏ ra dấu hiệu bất thường nào. Chị cũng cảm thấy rõ ràng mình đã gây ấn tượng gì cho người chung quanh và cảm thấy chua chát khi phải sống giữa bầu không khí không có cảm tình với chị.

Một hôm, có người cho tôi hay, nhiều tập sinh và thỉnh sinh muốn nói với tôi một việc quan trọng. Có tất cả sáu chị muốn tố cáo chị Diện. Tôi cho họ nói tự do. Họ kể cho tôi nghe những gì chị giả hình kia đã làm và nói từ khi vào nhà dòng. Họ tỏ ra rất thành thực khi kể lại và có lý lẽ thuyết phục. Phía bà bề trên thì cho chị đã nói xấu bà những chuyện không thể tin được. Sự không ưa chị Diện làm cho bà thêm giận dữ. Bà nói rõ muốn tôi đuổi chị về thế gian, vì đã lôi kéo quỷ đến và làm cho tu viện xất bất xang bang. Thực ra, nếu đúng như lời họ nói thì chị Diện không nên ở tu viện nữa, nhưng tôi chưa dám quyết định ngay. Vì sáu chị kia đã bị quỷ ám một thời gian lâu. Dĩ nhiên chị Diện biết rõ những gì người ta nói về chị. Khi được hỏi về chi tiết, chị nhận là có hai ba điều nhỏ nhặt và chối bỏ mạnh mẽ những điều khác mà họ tố cáo. Nhưng ác cảm đối với chị mỗi ngày một tăng. Những nghi ngờ cũ trong lòng nhiều người khác trở thành những điều xác tín đè nặng trong tâm hồn chị. Trong lúc bị thử thách như thế chị lại bị quỷ quấy phá suốt đêm.
Về sau bốn chị cáo gian đã sửa lại những lỗi lầm của họ. Chị My nói mình đã cáo gian cho chị Diện:
- Con không hiểu sao con lại nói những điều ấy. Tư tưởng con hình như bị ám ảnh. Sau cùng bị thúc đẩy dù con không muốn, con cũng đến nói với Đức Cha.

Vào cuối tháng 6, chị Diện lại trở thành đầu đề câu chuyện. Một buổi sáng khi đi lễ, chị biến mất. Nhà dòng chỉ biết chị mất tích khi cộng đoàn đã về nhà. Chị đã có đủ thời gian đi rất xa. Tuy nhiên, luật giáo hội định rõ là phải tìm chị về. Nhà dòng chia ra nhiều toán tìm chị theo những phương hướng dự đoán. Ba nhóm mỗi nhóm có hai nữ tu đi tìm chị. Nhưng không thấy chị đâu hết. Ba ngày sau người ta mới hay tin chị đang ở nhà một nữ tu cũ tại Phát Diệm. Cuộc điều tra nhanh chóng cho tôi hay chị ta lại bị quỷ ám.

Sau khi chị đi trốn lần này các nữ tu phóng đại những lo lắng mà chị gây cho họ. Chị cũng rất xấu hổ. Người ta nghi ngờ tầm bậy cho chị trong những đêm ngủ ngoài tu viện và chị cũng biết chuyện đó. Vì thế không nên để chị ở nhà mẹ nữa. Các xơ Notre Dame de Missions đã cho chị trú ngụ. Mỗi tuần một lần chị về tu viện để liên lạc. Mỗi lần trở về chị thấy mình càng là gánh nặng cho nhà dòng. Đàng khác, quỷ cũng không để cho chị yên, đêm nào chị cũng phải chiến đấu với nó. Giai đoạn này chắc chắn là giai đoạn đau khổ nhất trong đời chị. Bên ngoài thì không có gì xảy ra. Các nữ tu người Pháp đều đồng thanh khen chị dễ thương và thông minh.

Vào đầu tháng 12, chị trở về tu viện. Chị đã sốt sắng xin Chúa hoán đổi sự ác cảm trong tu viện. Tôi cũng ngạc nhiên vì Chúa đã nhận lời chị. Khi chị trở về mọi người đều có cảm tình với chị và cảm tình đó còn mãi và tăng thêm. Tập viện được bình an. Không còn ai tỏ dấu gì bị quỷ ám nữa. Một vài chị cho là còn nghe và trông thấy quỷ. Nhưng khi nghĩ đến cơn giông tố vừa qua trong dòng Mến Thánh Giá và họ đã được giải thoát thì những câu chuyện đó không mấy quan trọng. Sau này có người hỏi bà bề trên là bao nhiêu tập sinh rời tu viện trong thời gian bị quỷ quấy phá? Bà trả lời không có chị nào hết. Về phần tôi tôi cho rằng không có ơn Chúa trợ giúp thì khó có thể chống lại ma quỷ. Tôi cũng nhận ra rằng nhờ thế mà nhà tập thêm lòng đạo đức. Chúng ta đang ở năm 1960. Đúng 35 năm trước đây những biến cố ma quỷ mà tôi vừa kể đã xảy ra tại dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm. Theo như sự chẩn bệnh của nhiều nhà thông thái thì biến cố đó phải làm cho các chị có đầu óc bất bình thường và những tính nết không quân bình.

Thực sự chuyện quỷ chấm dứt hoàn toàn vào năm 1926. Việc quỷ ám còn tiếp tục hai hay ba năm nhưng cách quãng và hoàn toàn biến mất. Làm sao những hiện tượng đó kéo dài và yếu dần như thế? Tôi không biết lý do. Dù sao chắc chắn một điều tất cả các chị tôi kể tên trên là những chị bị quỷ ám nặng đều hoàn toàn khỏi, nhất là chị Maria Diện. Ba chị trở về thế gian và không bao giờ bị điên khùng. Các chị khác ở lại trong tu viện và đều khấn trọn. Trong số đó có ba chị làm bề trên rất đàng hoàng. Họ đều quân bình như những bề trên khác.
(còn tiếp)
Chưa xemBởi Duyên Ngộ
Chương 13 – Kết luận

Sau khi kể lại những biến cố lạ kỳ xảy ra trong dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm từ 1924 và 1925, tôi có ý tìm ra những dấu hiệu cho thấy đó là hành động của quỷ do Giáo hội quy định trong sách nghi thức. Trái lại trong khi những sự kiện đó xảy ra thì ý định của tôi không phải là thảnh thơi nghiên cứu thấu đáo. Tôi chỉ muốn cho cơn dịch đó chấm dứt càng sớm càng tốt vì nó làm cho tu viện Mến Thánh Giá không thể phát triển. Tuy nhiên, Giáo hội đòi tôi kiểm soát gắt gao nhờ ba dấu hiệu mà sách nghi thức đã nói tới để xem có thực sự quỷ là tác giả những xáo trộn đó không. Do đó chúng ta thử xét qua ba dấu hiệu cổ điển cho vấn đề của chúng ta.

Dấu hiệu thứ nhất: "Nói một thứ tiếng lạ, dùng nhiều tiếng đó và hiểu những gì người ta nói bằng tiếng lạ đó." Người bị quỷ ám không nhất thiết nói một thứ tiếng lạ. Nhưng họ hiểu được thì đủ rồi.

Khi bắt đầu trừ quỷ, tôi quyết định chỉ hỏi những câu trong sách nghi thức và không bao giờ hỏi một câu theo ý mình. Những câu hỏi theo nghi thức không bao giờ có trả lời. Và người bị quỷ ám không bao giờ nói tiếng La-tinh. Nhưng họ hiểu tôi nói gì. Một hôm, tôi thấy một nhóm bị quỷ ám đang bàn tán về những lời trong sách nghi thức: "Ông ấy hỏi tên mày hả? Chúng ta không bao giờ nói tên". Không ai trong tu viện hiểu được câu hỏi trong sách nghi thức. Không có linh mục nào dạy cho họ. Đằng khác rất có thể là khó có đến 1% linh mục, có thể hiểu hết những lời cầu nguyện dài trong sách nghi thức. Thế mà một nhóm bị quỷ ám đã hiểu một câu La-tinh.

Một sự việc khác gây ấn tượng nhiều cho tôi trong khi trừ quỷ. Khi tôi nói tiếng: "Contremisce" nghĩa là hãy run rẩy, thì vài người bị quỷ ám nặng đã run rẩy quá chừng. Một ngày kia, 12 cô gái lớn, đứng sát nhau rồi quỳ chung quanh một chị bị ám, bao vây chị ta từ đầu đến chân và dùng hết sức lực vào thân thể chị ta nhưng không đàn áp nổi, chị ta còn run rẩy ít nhất là 10 phút. Chưa bao giờ có chuyện đó xảy ra sau khi trừ quỷ. Hình như chị ta đã hiểu ý nghĩa của tiếng: "Contremisce." Dấu hiệu này tỏ hiện ít rõ ràng hơn hai dấu hiệu sau. Tuy nhiên chỉ cần một dấu hiệu, đủ chứng minh hoạt động của quỷ vì theo định nghĩa đó là hành động đặc biệt của nó. Chẳng hạn khi ta thấy cái vòi con voi, còn những phần khác thì núp sau một bức tường, chúng ta không ngần ngại cho đó là con voi vì chỉ có con voi có vòi như thế. Đối với những người bị quỷ ám cũng thế. Nếu ta chắc chắn thấy có một trong ba dấu hiệu, thì ta có thể kết luận không chút do dự là do ma quỷ.

Dấu hiệu thứ hai: là tỏ cho hay những sự việc xa xôi và kín đáo mà không phương pháp tự nhiên nào biết được. Một hôm tôi rất ngạc nhiên khi người ta thuật lại cho tôi là một người bị quỷ ám diễn tả rõ ràng thái độ của tôi khi ở trong phòng khi không có ánh sáng và cửa nẻo đóng kín cả. Một người thường không thể biết được những hành động của tôi trong những điều kiện như thế. Đằng khác việc nói ra những chuyện xa xôi hay giấu kín đó thường xảy ra, nên cả tu viện cho rằng những chị bị ám đó có giác quan thứ sáu. Nhưng giác quan thứ sáu chỉ dành cho những việc không mấy quan trọng.

Tôi xin đơn cử mấy sự việc tôi có kiểm chứng. Trong lúc bị ám, có chị kia nói là 15 trong số 16 chị sẽ khấn trọn. Điều đó đã xảy ra. Chị ta hay bất cứ người nào khác ở nhà tập hay nhà mẹ không có thể biết được chuyện ấy. Sau cuộc tĩnh tâm năm 1925, chị giáo tập được chọn làm bề trên cả. Nhưng nhà tập vẫn chưa yên, nên chị được chỉ định tạm thời đảm nhiệm chức vụ giáo tập. Vài tháng sau, chị được lệnh bỏ nhà tập dọn về nhà mẹ. Tôi báo cho chị một tuần trước và bảo đừng nói cho ai. Chị không hề nói với ai chuyện đó. Tuy nhiên một hôm nhóm bị quỷ ám nói với chị: "Chị có thể dọn về nhà mẹ. Chúng tôi đâu có cần chị. Chúng tôi coi chúng tôi được rồi."

My viết một thư rút lại những lời tố cáo chị Diện khi cách Phát Diệm 30 cây số. Không ai ngoài mẹ bề trên biết về lá thư đó. Nhưng các thỉnh sinh khi bị ám đã nói với nhau và tiếc xót và trách chị My đã làm chuyện đó. Mẹ bề trên đi thăm một tu viện. Khi trở về thì có một nhóm bị quỷ ám chê trách cách bà xử sự chuyện này chuyện kia, hay những câu chuyện bà nói trong trường hợp này nọ. Bà rất ngạc nhiên nghe họ nhắc lại đúng hoàn toàn những quyết định và những câu chuyện của bà. Agnes nhịn đói 10 ngày không ăn uống gì ngoài Mình Thánh Chúa.

Chị được mang sang nhà thương. Không ai tiên liệu câu chuyện kết thúc ra sao. Cũng hôm đó tôi nghe An nói: "Agnes khỏi bệnh rồi. Bây giờ đến lượt con." Tôi sang nhà thương và thấy Agnes đã khoẻ, chị đã ăn được. An thì bị bệnh nhưng nhẹ hơn chị Agnes. Một lần khác, chị giáo tập từ giã tôi sau khi kể lại một vài sự việc. Chị gặp An vừa ở nhà bếp ra và không biết chúng tôi đã nói chuyện gì. An nói: "Chuyện nhỏ nhặt mà chị cũng nói cho bề trên. Dĩ nhiên chúng tôi không biết chị nghĩ gì. Nhưng cho chị biết là chúng tôi luôn ở bên cạnh chị. Chị nói nhỏ chúng tôi cũng nghe hết. Hôm nọ chị viết thư cho bề trên tố cáo chúng tôi, chị chưa viết xong thư chúng tôi đã biết. Nếu chị thấy chúng tôi đứng sau lưng chị khi chị viết, thì chị đã làm rớt bút viết rồi."

Một hôm, có người lạ mặt thăm chị giáo tập. Ông ta bảo mình là cháu chị rồi là cháu mẹ bề trên và nói đúng tuổi của họ. Chị giáo tập mời ông ăn miếng trầu và khuyên ông theo đạo. Khi ra khỏi nhà khách chị gặp một nhóm đang bị ám rất vui vẻ nói với chị: "Chị giáo hôm nay tử tế nhỉ... Chị mời ăn trầu. Ông ta biết đạo nhưng không theo đâu... Tội ông nặng lắm... Thật tức cười... trước thì là cháu chị giáo rồi lại là cháu mẹ bề trên. Thực ra ông ta chả là cháu ai cả. Cũng như chúng ta thôi."

Trong trường hợp này hay nhiều trường hợp tương tự, ta thấy quỷ biết rõ những sự bí mật xa xôi. Nhưng khi tôi trừ quỷ thì quỷ không bao giờ nói tới những chuyện gì đặc biệt. Dĩ nhiên những chuyện trên hay những chuyện tương tự không có gì đáng kể. Nhưng chỉ để chứng minh là những nạn nhân của quỷ đã nói ra những chuyện không thể biết được một cách tự nhiên. Quỷ không biết tương lai. Cũng không biết hiện tại. Chỉ có Chúa biết trong lòng ta. Chỉ có Chúa biết tương lai. Và quỷ không thể làm gì nếu không có phép của Chúa. Cũng như Ngài không dùng quỷ để nói lên những bí mật của Ngài cho loài người.

Chị Diện đôi khi cũng biết những điều mà tự nhiên chị không biết được. Nhưng quỷ không dùng miệng chị mà nói. Quỷ chỉ nói với chị. Tôi xin đơn cử thí dụ. Khi có phép bề trên, chị sửa soạn sang tôi thì nghe quỷ nói: "Đi gặp ngài cũng bằng vô ích thôi. Ngài mới đi Vô Hốt." Đúng thế, tôi vừa quyết định lên Vô Hốt, một xứ đạo cách Phát Diệm 50 cây số.

Dấu hiệu thứ ba: biểu diễn sức mạnh phi thường vượt quá sức người bị quỷ ám. Những sự kiện này thường phi thường hơn những dấu hiệu trước, cũng rất nhiều, nhưng phải chú ý lắm mới nhận ra. Đây là một thí dụ cho thấy tôi rất khó nhận ra những dấu hiệu trong một vài sự kiện.

Một người bị quỷ chỉ cần một cái nhảy lạ lùng, cũng tót lên ngọn cây. Ngày hôm đó tôi đọc trong tác phẩm của cha Poulain (Grâces d'Oraison, 5ème édition, page 428) cha Debreyne kể rất dài rằng cha phải coi sóc một cộng đoàn nữ tu giống như các bà Ursulines ở Loudun và chẳng hạn chỉ cần một cú nhảy họ vượt qua bức tường tu viện. Cha Poulain quên không cho chúng ta biết bức tường cao bao nhiêu và chi tiết này rất quan trọng. Cho là bức tường tu viện cao ít là hai mét rất hợp lý. Vì nếu thấp hơn thì người ngoài tò mò có thể ngó vào tu viện. Tôi nhiều lần muốn đo xem các chị bị quỷ ám ở Phát Diệm đã nhảy cao bao nhiêu. Tuy nhiên vì cha Poulain coi thường những chuyện đó nên tôi cũng bỏ qua. Sau này tôi đã đổi ý kiến. Trong cuốn "Les faits extraordinaires de la Vie spirituelle", cha Saudreau là một tác giả rất được coi trọng, đã gán cho cha Debreyne những sai lạc và những phủ quyết điên rồ và đáng khinh bỉ. Tôi sai lầm khi ngưng lại, do những lời nói của ông bác sĩ thành tu sĩ khổ tu này. Tôi lại vừa đọc về kỷ lục nhảy cao của phụ nữ. Kỷ lục đó không quá hai thước. Nếu thấy một cô gái nhảy cao năm thước không cần điểm tựa nào thì chỉ có thể cho là cô ta nhảy được do những sức lực siêu hình bên ngoài mà thôi.

Sau đây là một sự kiện khác. Một tập sinh đang ở cuối nhà thờ thì được lệnh lên bàn chịu lễ để dự nghi thức trừ quỷ. Chị ta không nhúc nhích. Một người bạn nắm tay chị ta kéo lên. Vô ích. Sau đó hai nữ tu hiệp lực với chị kia để đẩy chị ta. Sau cùng ba chị kiễng chân lấy hết sức bình sinh đẩy vào vai và hông chị kia và đẩy chị. Không những chị ta không di chuyển và cũng không nhúc nhích được một phân. Cứ việc thí nghiệm như thế nhiều lần. Không bao giờ có người bị ba người khác cùng tuổi cùng sức đẩy tới mà có thể bất động như một pho tượng. Điều này vượt hẳn sức lực tự nhiên.

Sau cùng đây là một kỳ công đáng kể nhất. Bốn tập sinh cùng trốn khỏi tu viện. Để họ khỏi trốn nữa khi bị quỷ nhập người ta trói các chị vào cột. Vậy mà thừa lúc người coi sóc đi vắng họ đều cởi trói cùng một lúc. Rất bất mãn vì chuyện đó tôi quở trách bà bề trên là đã trói họ không chặt và ra lệnh khi có ai bị thì cho tôi hay và trói họ trước mặt tôi. Tôi tin rằng trói như thế không thể trốn được. Họ trả lời có một chị đang bị ám. Lập tức họ trói chị ta trước mặt tôi và theo chỉ dẫn của tôi. Tôi xin tả tỉ mỉ việc trói như thế nào để cho biết kỳ công tôi sắp kể ra sau đây quan trọng như thế nào. Chị ta quay lưng vào cột và người ta dùng dây thừng mới trói chị ta. Sau đó hai nữ tu mỗi người cầm một đầu dây thừng trói ngang vai và thắt nút, rồi cuốn mỗi đầu dây thừng 10 vòng quanh tay và thắt nút. Sau đó trói cả cổ tay nữa và hai tay trói lại đằng sau cột và hai cổ tay buộc lại với nhau. Tôi cho các nữ tu hay là khó lòng mà chị ta trốn được. Cùng lúc đó nạn nhân cười lớn và nói: "Coi này cởi ra dễ lắm." Và chúng tôi thấy dây thừng rơi xuống sàn nhà. Chỉ trong một tích tắc. Cả các nữ tu cũng như tôi không ai thấy dây được cởi ra từ cánh tay hay cổ tay. Không ai có thể dùng sức mình làm được chuyện đó. Nếu trong lúc còn trẻ có người hỏi tôi: "Quỷ có thể cởi 20 nút trong một giây đồng hồ không?" Tôi sẽ rất khó trả lời. Nhưng lúc này với ba người chứng thì tôi phải công nhận quỷ làm được. Và trong những chuyện quỷ làm trước mắt tôi thì chuyện này làm cho tôi ngạc nhiên nhất.
Độc giả chú ý sẽ thấy tôi kể ra những kỳ công mà những "bệnh nhân" của tôi đã làm, vượt quá những giới hạn của con người thường tình. Biết rõ những kỷ lục thế vận thì dễ cho người trừ quỷ biết được đâu là những hành động của quỷ. Tôi mới chứng kiến những biểu diễn thế vận và truyền hình chiếu lại. Dụng cụ cho lực sĩ bám vào phải dày cỡ nào và dễ nắm thế nào mới biểu diễn được. Nếu dụng cụ không trơn, khoảng cách gần nhau quá hay to quá thì lực sĩ không biểu diễn được. Còn những chị bị quỷ ám ở Phát Diệm thì sao? Một hôm có chị bị ám nhảy lên xà nhà cao 2 thước rưỡi, xà dày 10 cm và vuông vắn nhưng rất thô, tuy có thể nắm được. Chị ta chống hai tay và nằm thẳng người như lực sĩ biểu diễn "barre fixe" chỉ trong chốc lát và lão luyện hơn một lực sĩ. Lực sĩ chuyên môn có làm như thế được không? Chị này không biết thể dục là gì và không bao giờ biểu diễn chống tay và giương toàn thân lên thẳng như vậy.

Tôi vẫn thán phục và bây giờ hơn lúc nào hết, vẫn thán phục sự dễ dàng biểu diễn của các chị bị quỷ ám. Họ không do dự cũng không lựa chọn nơi biểu diễn. Hình như đó là hành động đặc biệt của quỷ. Chúng ta hãy nhìn các lực sĩ biểu diễn nhảy cao. Tất cả bắp thịt nơi mặt đều căng thẳng. Họ bịt khăn để có thêm sức mạnh. Họ tính toán để lấy đà cho cơ thể khi nhảy thì trải dài ra trên xà ngang và chân họ xoè ra sẽ lần lượt vượt qua xà đó... và đôi khi họ cũng thất bại. Các chị bị quỷ ám không như thế. Họ không cần lấy đà để nhảy cao 5 thước, cơ thể vẫn nằm ngang và hai chân khép lại cho đến khi không nhảy nữa. Nét mặt họ như một người đang phì phèo điếu thuốc và không bao giờ họ thất bại. Nhưng không phải là những việc quỷ làm đó các chị vui vẻ mà làm vì quỷ là Sự dữ luôn làm cho người ta buồn mà thôi.

Khi kết thúc chương cuối cùng này về vụ quỷ ám tại Phát Diệm tôi muốn nói tới câu hỏi người ta thường hỏi tôi khi tôi trở về Pháp. Không ai chủ trương là cần có linh mục khi thầy thuốc chẩn bệnh tâm thần. Nhưng nhiều văn sĩ giáo sĩ cho rằng cần phải có bác sĩ khi người trừ quỷ biết rõ đó là quỷ ám hay không. Chúng ta hãy nhớ lại lời P.X. Maquart trong phần mở đầu: "Dù cho kiến thức y khoa như thế nào và người trừ quỷ cần có những kiến thức sâu xa, thì cũng phải cần những nhà chuyên môn kẻo lầm lẫn bệnh tật và quỷ ám."

Năm 1925 ở Phát Diệm không thể nào có được những chuyên viên như thế lý do là không có chuyên viên nào ở đó cả. Tuy thế tôi không liều lĩnh mà lầm lẫn bệnh tật và bị quỷ ám. Mỗi lần người bị quỷ ám bị bệnh thì người ta đem các chị vào nhà thương Truyền giáo có các nữ tu coi sóc họ rất chu đáo.

Bây giờ sau 35 năm làm quen với khoa phân tâm học, và dù tôi chỉ là người tập sự thôi, tôi vẫn tin là trong căn bản không có gì tương tự giữa bệnh tâm thần và bị quỷ ám. Y khoa chẩn bệnh nhờ những triệu chứng đặc thù. Giáo hội cũng xét đến những trường hợp bị quỷ ám nhờ ba dấu hiệu cổ điển mà chúng tôi đã nói tới nhiều lần. Khám phá ra quỷ ám không giống như chẩn bệnh tâm thần, có tính cách tâm lý. Các nhà phân tâm, như các thầy thuốc, chỉ chữa trị những xáo trộn tự nhiên của con người (hồn và xác) trong khi người trừ quỷ tấn công vào những xáo trộn siêu nhiên. Xáo trộn này gây ra do ngoại nhân là ma quỷ nhập vào con người. Mà quỷ có mặt khắp thế gian hiểu rõ mọi tiếng nói và có thể nói được (dấu hiệu 1), nó thấy và nhớ hết ngay cả những sự bí mật của con người (dấu hiệu 2), sau cùng nó khoẻ mạnh như sư tử và sức lực của nó vượt trội hơn bất cứ người nào (dấu hiệu 3).

Các người trừ quỷ chống lại chúng nhờ đức tin (thư I Phêrô 6,9). Dĩ nhiên có trường hợp vừa có tâm bệnh vừa bị quỷ ám. Trong trường hợp đó hai thứ xáo trộn có thể cùng tồn tại trong một chủ thể. Người bị quỷ ám có thể bị cúm hay bị thương. Cũng có thể có người bị quỷ ám bị động kinh nhưng trong trường hợp các người bị quỷ ám ở Phát Diệm không có ai bị bệnh động kinh cả. Nếu một nhà phân tâm có uy tín nhận ra một người bị quỷ ám theo nhận thức của người trừ quỷ có uy tín mà có những dấu hiệu của bệnh tâm thần thì chúng ta sẽ trả lời là Giáo hội không chủ trương người bị quỷ ám không có bệnh tâm thần. Giáo hội đã phòng xa trường hợp ngược lại. Điều 18 trong chương nghi thức về người trừ quỷ rất rõ ràng: "Người trừ quỷ không nên bao giờ khuyên hay cho thuốc người bị quỷ ám, nhưng hãy để cho thầy thuốc săn sóc."

Tóm lại người bị quỷ thì có quỷ trong hồn và xác trong khi người khách hàng của nhà phân tâm chỉ bị bệnh có nguồn gốc trong chính họ. Khoa phân tâm và "khoa" trừ quỷ khác nhau. Do đó mỗi người hãy ở trong lãnh vực của mình. Đằng khác người trừ quỷ sẽ có lợi ích khi biết đến những kỷ lục thế vận hội. Đây là những kiến thức bình thường và rõ ràng nên không thể hồ nghi được.

Nếu trong năm 1925 tôi biết được những kỷ lục thế vận hội như bây giờ, tôi sẽ nhận ra nhanh hơn và rõ hơn những hoạt động của quỷ. Tôi chỉ xin đưa ra một tỉ dụ. Cách đây 35 năm khi tôi thấy một chị nhảy lên cây tôi cho là chị ta đã làm một việc quá sức mình. Nhưng tôi không nhận ra rõ rệt như thế nào. Bây giờ khi thấy lực sĩ biểu diễn thể dục và những kỷ lục của họ, tôi sẽ thấy rõ họ vượt quá khả năng nhân loại đến mức nào. Chúng ta đang sống trong một thế giới kỳ diệu. Hãy nhớ lại một điều theo phương diện thể thao. Năm 1925, chị tập sinh tên Kính ngày đầu năm, đã vượt hai kỷ lục phụ nữ về nhảy cao và nhảy dài. Chị nhảy xa 20 thước nghĩa là quá ba lần kỷ lục nhảy dài của phụ nữ. Nhưng cái nhảy đó không kết thúc trên mặt đất. Vì càng nhảy thì chị càng bay lên cao và nhảy lên cây cao 5 thước mà không bám vào thân cây. Chị vượt gần gấp ba kỷ lục nhảy cao của phụ nữ.

Nói thế chỉ để chứng minh là khi biết kỷ lục thế vận người trừ quỷ sẽ dễ biết người bị quỷ đã làm những chuyện vượt quá sức mình ra sao. Có thể kỷ lục của chị Kính đã bị người khác vượt qua. Tuy nhiên chỉ người bị quỷ làm được chuyện đó chứ không phải lực sĩ nhà nghề. Giáo sư Robert Monod thuộc Hàn lâm viện Y khoa cho rằng: "Ngày nào đó phải chấm dứt kỷ lục, vì chúng ta đã vượt quá giới hạn sau cùng của thể lý." (Figaro 7 octobre 1960)…

Hết.