- Thứ 2 Tháng 12 18, 2023 11:01 pm
Con xin kính đảnh lễ Tổ, Thầy,
Thanhlinhpt xin chào các huynh tỷ, bạn đạo.
Câu chuyện sau đây TL có đọc được trong một cuốn sách cũ xuất bản đã lâu, có tính chất huyền bí ly kỳ nên TL đánh máy lại chia sẻ cho các bạn đạo cùng tham khảo. TL có phối kiểm lại thì thấy các dữ kiện trong di cảo của học giả Nguyễn Văn Tố từ cách đây hơn nửa thế kỷ trùng khớp với cuốn hồi ký của viên đại tá người Pháp Chofflet, do báo Đời sống & Tiêu dùng tìm được một bản bên Úc vào tháng 12/2012.
Giấc mộng Đề Thám đòi gươm
“Khoảng những năm 50, ký giả Nguyễn Dương Vân có giới thiệu một tài liệu nói là rút ra ở tập di cảo của học giả Nguyễn Văn Tố, còn lại ở Viện Viễn Đông Bác Cổ. Hồi năm 1937, học giả Nguyễn Văn Tố đang làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội với tư cách thường trực Viện thì có một người Pháp đến xin gặp. Đó là đại tá Chofflet đã ngoài 80 tuổi cùng đi với một cô gái nuôi người Việt trạc 30 tuổi. Đại tá đề nghị học giả thay mặt Viện nhận lại đôi gươm của Đề Thám mà ông lấy được tại chiến trường như một chiến lợi phẩm và ông luôn giữ lại tại Hanoi Hotel nơi ông ở từ khi về hưu năm 1913 đến nay.
Đôi gươm ấy do một người họ Trịnh đã bảy đời chuyên nghề rèn gươm ở Quảng Châu đúc cho tổng đốc Lưỡng Quảng là Hà Châu Phiên đã từ gần hai thế kỷ. Vì vậy trên cán gươm có khắc 4 chữ: Hà Thị Thiện Sử. Hình như họ Hà có dự vào đao binh Tôn Sĩ Nghị sang Việt Nam bị đánh bại và đã bị mất đôi gươm này. Đến khi gươm về tay Đề Thám thì người ta đã khắc chữ Hoàng đè lên chữ Hà trước khi dâng lên ông, Chofflet có gửi đôi gươm này về Pháp cho chuyên viên kiểm tra lại thì quả thấy chữ Hoàng chồng lên chữ Hà và nhận rằng thứ thép của gươm không kém thép Blue steel of Lancashire dùng rèn gươm cho hoàng tộc Anh. Chofflet rất quý đôi gươm đó và thường để trong tủ kính nơi phòng khách, nay phải đem nộp cho Viện Bác Cổ cũng vì một lý do hết sức kỳ lạ. Sau đây là lời trình bày của Chofflet:
Đêm 10.2.1913 (tức mồng 5 tháng giêng Quý Sửu), tôi mộng thấy một chiến sĩ ăn mặc như người sơn cước, thân cao vai rộng, nước da sậm hiện ra giữa phòng khách của tôi. Sau khi nhìn kỹ, tôi lấy làm kinh dị bởi hình người không có đầu. Người này đi tới đi lui một hồi rồi đến đứng rất lâu trước tủ kính mà nhìn vào đôi gươm, đoạn tới chỗ tôi nằm, chờm thân mình vào màn rồi biến mất. Tôi la lớn và giật mình tỉnh dậy. Mặc dù kinh sợ tôi cũng cho rằng vì ban ngày mình thấy rõ đầu và thân của Đề Thám (đại tá này là người nhận chiếc đầu và xác của Đề Thám – TL) nên quá xúc cảm mà ban đêm mơ thấy như vậy chăng.
Đêm sau tôi lại chiêm bao thấy Đề Thám lần đầu đến trước màn và tôi có cảm giác nghe thấy tiếng nói:
- Mi có trả đôi gươm cho ta không?
Tôi rất muốn trả lời nhưng không sao nói được. Đề Thám tỏ vẻ giận dữ, hai tay cầm hai thanh gươm bẻ gãy thành tiếng chát óc điếc tai làm tôi giật mình tỉnh dậy. Tôi nhảy xuống giường, bước vội lại chỗ hình người đã đập gãy đôi gươm với ý định lượm lại những mảnh gươm gãy. Nhưng dưới gạch trống trơn, không có vật gì. Tôi chạy lại tủ kính thì thấy khóa vẫn y nguyên, đôi gươm vẫn còn bày nơi thường lệ.
Từ đó về sau thỉnh thoảng tôi nằm mộng thấy ông về luôn luôn. Vào cuối năm 1913, tôi bỗng có ý định bắt chước các vọng tộc Việt Nam đặt chéo đôi gươm trên tường cùng các vật báu khác để trang hoàng căn phòng. Độ một tháng sau lần treo gươm trên tường, đến ngày giỗ Đề Thám là ngày 4 Tết, đêm ấy sau khi đọc sách, tôi vừa nhắm mắt thiu thiu thì trong phòng bỗng lóe ra một luồng ánh sáng rồi tắt đi liền. Bất giác tôi nhìn lên tường chỗ tôi treo đôi gươm thì thấy giữa đôi gươm bắt chéo, đầu của Đề Thám hiện ra, đôi mắt trợn lên, liếc qua liếc lại.
Tôi có kể chuyện cho một người bạn sĩ quan là tín đồ Thông Linh học, ông khuyên tôi biên thư về Paris hỏi tập san Thông Linh (Revue Spirite) nhờ giải thích hiện tượng này. Bốn tháng sau, viên chủ nhiệm kiêm chủ bút phúc đáp rằng hiện tượng đó xảy ra ở nhiều nơi không riêng gì Việt Nam và khuyên tôi trả lại gươm để tránh những điều không hay về sau.
Trả gươm cho ai?
Bắt đầu từ đó, tôi không dám khinh thường sự hiện về của Đề Thám nữa. Tôi nhận rằng có nhiều lúc tôi định trả gươm nhưng lại tự hỏi "Trả cho ai bây giờ?". Đành rằng trả cho con cháu nhưng tôi biết Đề Thám chỉ có một con gái là Hoàng Thị Thế hiện ở Pháp. Như vậy thì làm sao trả? Mặt khác, một sĩ quan chuyên nghiệp như tôi há không có quyền giữ lấy chiến lợi phẩm hay sao? Dù còn sống ở thế giới bên kia, theo ý tôi, ông cũng không bắt được tôi phải trả.
Nghĩ như vậy nên trí tôi bình tĩnh lại và trong khoảng mười năm (bắt đầu từ 1927), tôi không để ý gì đến ông Đề Thám nữa, có lẽ vì tôi thấy những lời đe dọa của ông không đem lại hậu quả gì khó khăn cho tôi. Nhưng bỗng nhiên một hiện tượng lạ làm xáo trộn các ý định của tôi.
Sau khi về hưu, tôi ăn ở tại Hanoi Hotel (phố Hàng Trống). Chỗ tôi ở là một căn phòng rộng lớn cùng với con gái nuôi tôi. Tôi không còn bà con gì ở bên Pháp và sống tại Việt Nam quá nửa đời người, tôi định gửi xương nơi đây mà tôi xem như quê hương thứ hai của mình. Bỗng một hôm tôi nhận được thư của một vị chưởng khế bên Pháp cho biết rằng một người anh con bác xuất ngoại sang Mỹ đã từ trần vì không có con cháu nên di chúc để lại gia tài cho tôi. Gia sản ấy khá lớn gồm vài bất động sản tọa lạc tại đất Pháp. Vì thế, tôi nhất định trở về Pháp và sẽ ở luôn bên ấy vì tôi đã ngoài 80 tuổi rồi.
Lần cảnh cáo thứ nhất
Đúng ba ngày sau bức thư trên, tôi chiêm bao thấy Đề Thám. Lần này ông có đầu và là một vị tướng lĩnh oai vệ có hai tên theo hầu ăn mặc như quân lính Việt Nam trong những buổi lễ rước thần. Đêm hôm ấy, nói cho đúng, tôi thực chưa ngủ vì bỗng Đề Thám hùng dũng hiện ra trước mắt, trợn mắt nhìn tôi. Điều lạ là lần này tôi không thấy kinh sợ như mười năm về trước. Tôi nghe rõ lời ông la lối đe dọa gay gắt đòi gươm mặc dù đôi môi ông không hề động đậy.
Thấy tôi im lặng, ông nổi giận ra hiệu cho hai tên lính trói tôi lại. Ông dùng ngón tay trỏ chỉ vào mặt tôi và bảo nếu ba ngày nữa không trả gươm thì ông sẽ cho biết tay. Ông vừa dứt lời thì một tên lính đá tôi một cái làm tôi giật mình tỉnh dậy.
Sang ngày thứ năm, tôi đang ngồi đọc sách thì bà X ở cạnh phòng tôi sang gõ cửa đưa thư. Tôi đứng ngay dậy ra cửa lấy thư. Bà X vừa quay lưng đi thì bỗng nghe một tiếng "rầm": một mảng trần nhà to tướng rơi ngay vào chỗ tôi vừa ngồi ban nãy. Nếu như mọi ngày chị Ba, cô hầu của bà X đưa thư sang thì tôi vẫn ngồi yên nhận thư chắc là không thoát chết. May hôm đó chị Ba đi vắng. Liệu có phải Đề Thám bắt đầu thực hiện kế hoạch của ông không? Hay do tôi luôn bị ám ảnh nên sợ quá vận ngay những việc ngẫu nhiên vào mình?
(còn tiếp)
Thanhlinhpt xin chào các huynh tỷ, bạn đạo.
Câu chuyện sau đây TL có đọc được trong một cuốn sách cũ xuất bản đã lâu, có tính chất huyền bí ly kỳ nên TL đánh máy lại chia sẻ cho các bạn đạo cùng tham khảo. TL có phối kiểm lại thì thấy các dữ kiện trong di cảo của học giả Nguyễn Văn Tố từ cách đây hơn nửa thế kỷ trùng khớp với cuốn hồi ký của viên đại tá người Pháp Chofflet, do báo Đời sống & Tiêu dùng tìm được một bản bên Úc vào tháng 12/2012.
Giấc mộng Đề Thám đòi gươm
“Khoảng những năm 50, ký giả Nguyễn Dương Vân có giới thiệu một tài liệu nói là rút ra ở tập di cảo của học giả Nguyễn Văn Tố, còn lại ở Viện Viễn Đông Bác Cổ. Hồi năm 1937, học giả Nguyễn Văn Tố đang làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội với tư cách thường trực Viện thì có một người Pháp đến xin gặp. Đó là đại tá Chofflet đã ngoài 80 tuổi cùng đi với một cô gái nuôi người Việt trạc 30 tuổi. Đại tá đề nghị học giả thay mặt Viện nhận lại đôi gươm của Đề Thám mà ông lấy được tại chiến trường như một chiến lợi phẩm và ông luôn giữ lại tại Hanoi Hotel nơi ông ở từ khi về hưu năm 1913 đến nay.
Đôi gươm ấy do một người họ Trịnh đã bảy đời chuyên nghề rèn gươm ở Quảng Châu đúc cho tổng đốc Lưỡng Quảng là Hà Châu Phiên đã từ gần hai thế kỷ. Vì vậy trên cán gươm có khắc 4 chữ: Hà Thị Thiện Sử. Hình như họ Hà có dự vào đao binh Tôn Sĩ Nghị sang Việt Nam bị đánh bại và đã bị mất đôi gươm này. Đến khi gươm về tay Đề Thám thì người ta đã khắc chữ Hoàng đè lên chữ Hà trước khi dâng lên ông, Chofflet có gửi đôi gươm này về Pháp cho chuyên viên kiểm tra lại thì quả thấy chữ Hoàng chồng lên chữ Hà và nhận rằng thứ thép của gươm không kém thép Blue steel of Lancashire dùng rèn gươm cho hoàng tộc Anh. Chofflet rất quý đôi gươm đó và thường để trong tủ kính nơi phòng khách, nay phải đem nộp cho Viện Bác Cổ cũng vì một lý do hết sức kỳ lạ. Sau đây là lời trình bày của Chofflet:
Đêm 10.2.1913 (tức mồng 5 tháng giêng Quý Sửu), tôi mộng thấy một chiến sĩ ăn mặc như người sơn cước, thân cao vai rộng, nước da sậm hiện ra giữa phòng khách của tôi. Sau khi nhìn kỹ, tôi lấy làm kinh dị bởi hình người không có đầu. Người này đi tới đi lui một hồi rồi đến đứng rất lâu trước tủ kính mà nhìn vào đôi gươm, đoạn tới chỗ tôi nằm, chờm thân mình vào màn rồi biến mất. Tôi la lớn và giật mình tỉnh dậy. Mặc dù kinh sợ tôi cũng cho rằng vì ban ngày mình thấy rõ đầu và thân của Đề Thám (đại tá này là người nhận chiếc đầu và xác của Đề Thám – TL) nên quá xúc cảm mà ban đêm mơ thấy như vậy chăng.
Đêm sau tôi lại chiêm bao thấy Đề Thám lần đầu đến trước màn và tôi có cảm giác nghe thấy tiếng nói:
- Mi có trả đôi gươm cho ta không?
Tôi rất muốn trả lời nhưng không sao nói được. Đề Thám tỏ vẻ giận dữ, hai tay cầm hai thanh gươm bẻ gãy thành tiếng chát óc điếc tai làm tôi giật mình tỉnh dậy. Tôi nhảy xuống giường, bước vội lại chỗ hình người đã đập gãy đôi gươm với ý định lượm lại những mảnh gươm gãy. Nhưng dưới gạch trống trơn, không có vật gì. Tôi chạy lại tủ kính thì thấy khóa vẫn y nguyên, đôi gươm vẫn còn bày nơi thường lệ.
Từ đó về sau thỉnh thoảng tôi nằm mộng thấy ông về luôn luôn. Vào cuối năm 1913, tôi bỗng có ý định bắt chước các vọng tộc Việt Nam đặt chéo đôi gươm trên tường cùng các vật báu khác để trang hoàng căn phòng. Độ một tháng sau lần treo gươm trên tường, đến ngày giỗ Đề Thám là ngày 4 Tết, đêm ấy sau khi đọc sách, tôi vừa nhắm mắt thiu thiu thì trong phòng bỗng lóe ra một luồng ánh sáng rồi tắt đi liền. Bất giác tôi nhìn lên tường chỗ tôi treo đôi gươm thì thấy giữa đôi gươm bắt chéo, đầu của Đề Thám hiện ra, đôi mắt trợn lên, liếc qua liếc lại.
Tôi có kể chuyện cho một người bạn sĩ quan là tín đồ Thông Linh học, ông khuyên tôi biên thư về Paris hỏi tập san Thông Linh (Revue Spirite) nhờ giải thích hiện tượng này. Bốn tháng sau, viên chủ nhiệm kiêm chủ bút phúc đáp rằng hiện tượng đó xảy ra ở nhiều nơi không riêng gì Việt Nam và khuyên tôi trả lại gươm để tránh những điều không hay về sau.
Trả gươm cho ai?
Bắt đầu từ đó, tôi không dám khinh thường sự hiện về của Đề Thám nữa. Tôi nhận rằng có nhiều lúc tôi định trả gươm nhưng lại tự hỏi "Trả cho ai bây giờ?". Đành rằng trả cho con cháu nhưng tôi biết Đề Thám chỉ có một con gái là Hoàng Thị Thế hiện ở Pháp. Như vậy thì làm sao trả? Mặt khác, một sĩ quan chuyên nghiệp như tôi há không có quyền giữ lấy chiến lợi phẩm hay sao? Dù còn sống ở thế giới bên kia, theo ý tôi, ông cũng không bắt được tôi phải trả.
Nghĩ như vậy nên trí tôi bình tĩnh lại và trong khoảng mười năm (bắt đầu từ 1927), tôi không để ý gì đến ông Đề Thám nữa, có lẽ vì tôi thấy những lời đe dọa của ông không đem lại hậu quả gì khó khăn cho tôi. Nhưng bỗng nhiên một hiện tượng lạ làm xáo trộn các ý định của tôi.
Sau khi về hưu, tôi ăn ở tại Hanoi Hotel (phố Hàng Trống). Chỗ tôi ở là một căn phòng rộng lớn cùng với con gái nuôi tôi. Tôi không còn bà con gì ở bên Pháp và sống tại Việt Nam quá nửa đời người, tôi định gửi xương nơi đây mà tôi xem như quê hương thứ hai của mình. Bỗng một hôm tôi nhận được thư của một vị chưởng khế bên Pháp cho biết rằng một người anh con bác xuất ngoại sang Mỹ đã từ trần vì không có con cháu nên di chúc để lại gia tài cho tôi. Gia sản ấy khá lớn gồm vài bất động sản tọa lạc tại đất Pháp. Vì thế, tôi nhất định trở về Pháp và sẽ ở luôn bên ấy vì tôi đã ngoài 80 tuổi rồi.
Lần cảnh cáo thứ nhất
Đúng ba ngày sau bức thư trên, tôi chiêm bao thấy Đề Thám. Lần này ông có đầu và là một vị tướng lĩnh oai vệ có hai tên theo hầu ăn mặc như quân lính Việt Nam trong những buổi lễ rước thần. Đêm hôm ấy, nói cho đúng, tôi thực chưa ngủ vì bỗng Đề Thám hùng dũng hiện ra trước mắt, trợn mắt nhìn tôi. Điều lạ là lần này tôi không thấy kinh sợ như mười năm về trước. Tôi nghe rõ lời ông la lối đe dọa gay gắt đòi gươm mặc dù đôi môi ông không hề động đậy.
Thấy tôi im lặng, ông nổi giận ra hiệu cho hai tên lính trói tôi lại. Ông dùng ngón tay trỏ chỉ vào mặt tôi và bảo nếu ba ngày nữa không trả gươm thì ông sẽ cho biết tay. Ông vừa dứt lời thì một tên lính đá tôi một cái làm tôi giật mình tỉnh dậy.
Sang ngày thứ năm, tôi đang ngồi đọc sách thì bà X ở cạnh phòng tôi sang gõ cửa đưa thư. Tôi đứng ngay dậy ra cửa lấy thư. Bà X vừa quay lưng đi thì bỗng nghe một tiếng "rầm": một mảng trần nhà to tướng rơi ngay vào chỗ tôi vừa ngồi ban nãy. Nếu như mọi ngày chị Ba, cô hầu của bà X đưa thư sang thì tôi vẫn ngồi yên nhận thư chắc là không thoát chết. May hôm đó chị Ba đi vắng. Liệu có phải Đề Thám bắt đầu thực hiện kế hoạch của ông không? Hay do tôi luôn bị ám ảnh nên sợ quá vận ngay những việc ngẫu nhiên vào mình?
(còn tiếp)
VŨ TRỤ HUYỀN BÍ - Khai sáng tâm linh người học đạo