Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...

Bởi
VTHB - Thứ 7 Tháng 8 12, 2023 5:05 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Thứ 7 Tháng 8 12, 2023 5:05 pm
Chương II - Phần 3: Lược Sử Mật Tông Nhật Bản- Hoàn bị: Đầy đủ, không thiếu sót gì.
- Tập thành: Gom góp lại mà nên.
- Sớ thích: Giải thích thêm cho đầy đủ.
- Thiên đô: Dời nơi đặt triều đình.
- Giáo Tướng: giáo thuyết truyền dạy, lý thuyết kinh điển.
- Sự Tướng thực hành: phương pháp tu hành, cách thức tu tập.
- Nhất Thừa: Chữ “nhất” có nghĩa là một, thừa có nghĩa là cỗ xe, mang ý nghĩa biểu tượng cho sự chuyên chở chúng sanh đến bờ giác ngộ. Nhất Thừa có nghĩa là giáo pháp duy nhất của Phật Giáo có công năng làm cho tất cả chúng sinh đều thành Phật, nên gọi là Nhất Thừa.
Truyền Giáo Đại Sư truyền bá tư tưởng Nhất Thừa, cho rằng chỉ có duy nhất một pháp môn mới có thể tu thành Phật. Trái lại, các tông phái khác tin rằng con người có căn cơ tu hành khác nhau, nên cần phải có nhiều loại giáo pháp khác nhau để phù hợp với từng người. Chính vì vậy mới có Bồ Tát Thừa, Duyên Giác Thừa và Thanh Văn Thừa.
- Pháp Tướng tông: là một trong tám tông phái Phật Giáo tại Nhật Bản và chủ trương tất cả mọi hiện tượng, sự vật, chúng sanh trong vũ trụ được tạo lập là do sự nhận thức của con người.
- Quy nguyên: Dồn lại về một gốc, quy về nguồn gốc ban đầu.
- Thanh văn: Có nghĩa là nghe âm thanh thuyết pháp của chư Phật mà tỏ ngộ được đạo. Thanh Văn Thừa dạy về tứ diệu đế (giáo lý nói về sự khổ đau, nguyên do của khổ, kết quả của sự diệt khổ và phương cách để diệt khổ).
- Duyên giác: Chỉ những người tự tu, học theo giáo lý thập nhị nhân duyên mà đạt được giác ngộ..
- Bồ Tát Thừa: Là tên gọi khác của Ðại Thừa. Trong khi Thanh Văn Thừa và Duyên Giác Thừa chỉ chú trọng đến sự tự chứng ngộ là đủ, thì Bồ Tát Thừa ngoài chú trọng đến tự giác ngộ còn hướng đến sự cứu độ chúng sanh, giúp cho người khác cũng đạt được giác ngộ.
- Uyên áo: Uyên bác, sâu kín khó hiểu.
- Khổ tu: tu hành theo lối khổ hạnh.
- Khóa bản: Sách giáo khoa, kinh sách chính thức.
- Đệ bát tổ: Vị tổ sư thứ tám trong dòng truyền thừa.
- Phong hóa: Phong tục, tập quán và nếp sống của một vùng.
- Cuộc thần bí: Những sự việc, tình huống siêu hình, huyền bí. Những bài kinh Vô tự trong cuộc sống.
- Đại Hải Tam muội: Tâm an định giống như biển lớn sóng lặng gió yên, nước trong phẳng lặng, có thể phản chiếu mọi hiện tượng.
- Hoằng hóa: Truyền thụ tư tưởng, tri thức, hướng dẫn và khuyến khích, đem đến sự cứu độ rộng rãi.
- Xướng xuất: Đứng ra hô hào làm việc gì.
- Chuẩn bần: Tế bần. Cứu giúp người nghèo khổ.
- Thị tịch: Ý nói các vị cao tăng qua đời. Cũng gọi là viên tịch, quy tịch, tịch diệt, tịch

Bởi
VTHB - Thứ 7 Tháng 8 12, 2023 6:30 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Thứ 7 Tháng 8 12, 2023 6:30 pm
Chương II - Phần 4: Mật Tông tại các nước Đông Nam Á- Du hóa: Du hành khắp nơi để giáo hóa chúng sanh.
- Hoằng bá: Phát dương, truyền bá Phật pháp rộng rãi khắp nơi. Đồng nghĩa với Hoằng truyền (Hoằng pháp - Truyền bá).
- Sư đệ tương truyền: Ý nói huyết mạch truyền thừa, sư phụ đời trước truyền lại cho đệ tử đời sau.
- Kiêm trì: Theo đuổi cùng lúc, đồng thời với điều gì khác

Bởi
VTHB - Chủ nhật Tháng 8 27, 2023 2:50 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Chủ nhật Tháng 8 27, 2023 2:50 pm
Chương III - Phần I. MẬT GIÁO QUA HAI BỘ KINH ĐẠI NHẬT VÀ KIM CANG ĐẢNH
- Kinh Tô Tất Địa: Do Ngài Thiện Vô Uý dịch vào đời Đường năm Khai Nguyên thứ 4. Kinh Tô Tất Địa, kinh Đại Nhựt và kinh Kim Cang Đảnh là ba bộ kinh lớn của Mật Giáo.
- Tất địa: Thành tựu, Diệu thành tựu. Đắc thành tất địa: Đạt được thành tựu các kết quả vi diệu (giác ngộ, giải thoát...).
- Thần Biến Gia Trì: Là những thứ biến hoá lớn lao không thể nghĩ bàn mà các chư Phật, Bồ Tát thị hiện để giáo hóa chúng sanh.
- Nhất Thế: Một đời.
- Nhiếp: Thâu tóm, bao gồm.
- Hiện chứng: Sự chứng ngộ ngay lập tức.
- Đại Giáo Vương Kinh: Kinh đệ nhất trong giáo pháp Đại Thừa.
- Chơn thật thể: Bản chất chân thật.
- Bản nguyên: Nguồn gốc căn bản, nền tảng chính yếu.
- Dung thông: hoà trộn, dung hoà cái này với cái kia cho hòa hợp nhau.
- Lục Đại: Phật Giáo cho rằng có sáu nguyên tố cấu thành nên vụ trụ này, gồm: đất, nước, gió, lửa, không khí, và ý thức của con người.
- Dung thông: Linh hoạt, uyển chuyển, thông suốt.
- Vô ngại: Không bị cản trở, thấm nhuần lan tỏa khắp mọi nơi.
- Châu biến: Bao quát, phổ biến. Lan tỏa hiện diện khắp nơi.
- Chơn Như: Chơn là chân thật, không hư vọng; Như là như thường, không có gì biến đổi. Chơn Như là chân lý của vũ trụ. Đồng nghĩa với Chơn Như là Phật Tánh, Lý Tánh, Pháp Thân, Pháp Tánh.
- Biểu dương: Thể hiện, phô bày và khẳng định một điều gì đó.
- Nhất Như: Trong Phật Giáo, Nhất Như có nghĩa là như một, như nhau, bình đẳng, không phân biệt.
- Không lường: Không thể đo lường được.
- Mười phương pháp giới: Là mười cõi giới trong Phật Giáo, bao gồm bốn cõi giới thuộc hàng Thánh (Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác) và sáu cõi giới thuộc hàng phàm (Thiên, Nhân, A–tu–la, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục).
- Sắc tướng: Hình dáng, hình tướng bên ngoài.
- Thù thắng: Hiếm có, phi thường, lỗi lạc, siêu việt.
- Thể: Bản chất, bản thể.
- Tướng: Hình dạng bề ngoài.
- Tam–ma–địa: Còn gọi là Tam–muội, nghĩa là Thiền định hay Đại định. Chỉ pháp tu đạt đến chỗ thân và tâm không còn xao động, dứt hết vọng tưởng, tà kiến, giác ngộ được chân lý.
- Khiếu: Khả năng đặc biệt có tính chất bẩm sinh đối với một loại hoạt động nào đó.
- Nhập diệu: Đạt đến chỗ hay, chỗ tuyệt diệu.
- Dị biệt: Khác biệt, khác hẳn hoặc trái ngược khi so sánh với nhau hoặc so với những cái cùng loại.
- Viễn ảnh: Nghĩa đen là hình ảnh ở xa xôi. Nghĩa bóng là ước mơ, mục tiêu ở tương lai.
- Quyền biến: Điều chỉnh một cách linh hoạt để thích nghi khi có sự thay đổi.
- Tối hậu: Cuối cùng, không còn có thể có gì khác nữa.
- Giáo lý sơ bộ: Giáo lý mang tính chất tạm thời chưa hoàn chỉnh, và sẽ còn được chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện.
- Thập Trụ Tâm: Thập có nghĩa là mười; Trụ có nghĩa là trụ vững, tồn tại; Tâm là tâm thức. Thập Trụ Tâm nghĩa đen là mười trạng thái tồn tại của tâm thức.
- Dị sanh: Sanh ra một cách khác thường. Kỳ dương: Con dê. Dị Sanh Kỳ Dương Tâm có nghĩa là tâm trí như một con dê được sanh ra một cách khác thường.
- Sở dục: Ham muốn, dục vọng của bản thân.
- Ngu Đồng Trì Trai Tâm: Tâm trí của người tầm thường ngu muội, chỉ biết làm theo số đông, ai biểu sao làm vậy, chứ không hiểu ý nghĩa gì.
- Vọng ngữ: Nói láo, nói sai sự thật.
- Ẩm tửu: Ẩm có nghĩa là uống, Tựu là rượu. Ẩm tửu là uống rượu.
- Tam Cang: là khái niệm luân thường đạo lý trong Nho Giáo, chỉ ba mối quan hệ cốt lõi trong xã hội phong kiến, gồm: quan hệ giữa vua và bề tôi, cha và con, chồng và vợ. Trong các mối quan hệ đó, người đi trước (vua, cha, chồng) có vai trò chủ đạo và người đi sau (bề tôi, con, vợ) phải phục tùng và kính trọng.
- Chữ “anh đồng” có nghĩa là chàng trai trẻ dũng cảm. Chữ “vô uý” có nghĩa là không sợ hãi. Anh Đồng Vô Uý Tâm là tâm trí của người dũng cảm, không biết sợ hãi.
- Cảnh trí: Sự nhận thức về thế giới khách quan. Chỉ chung những vật sắp xếp quanh mình.
- Thập giới: Mười giới cấm mà tu sĩ Phật Giáo phải thọ trì.
- Phái đồ: Tín đồ của tông phái.
- Tấn hoá khá lắm: Tiến hoá nhiều lắm.
- Chữ “duy” có nghĩa là đi theo, làm theo. Chữ “uẩn” có nghĩa là sự ngăn trở, che mắt, chướng ngại. Chữ “vô ngã” có nghĩa là không còn bản ngã. Duy Uẩn Vô Ngã Tâm có nghĩa là tâm trí không còn bản ngã, mà chỉ còn hành động theo năm cái uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành Thức).
- Đời sống tâm linh cao đẳng: Đời sống tâm linh ở đẳng cấp cao.
- Câu–xá tông: Tông phái Tiểu Thừa dựa theo luận Câu–xá mà được thành lập.
- Thành Thật Tông: Tông phái Tiểu Thừa dựa trên bộ Thành Thật Luận làm nền tảng.
- Bào ảnh: Cái hư ảo tựa như bọt nước, tựa như cái bóng, chợt hiện lên rồi mất đi.
- Chữ “bạt nghiệp” có nghĩa là đánh dẹp hết các nghiệp. Chữ “nhân chủng” có nghĩa là cái hạt giống của triết lý về Nhân Duyên. Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm là tâm trí đã giác ngộ về triết lý Thập nhị nhân duyên của Phật Giáo, tự tu hành để đánh bật các nghiệp chướng của mình.
- Vị kỷ: Ích kỷ, chỉ biết có mình.
- Mười hai cái nối dài: Ý chỉ về mười hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên). Trong vũ trụ quan của Phật Giáo, có mười hai cái để cấu thành sự sinh tồn của loài hữu tình, bao gồm: 1. Vô minh; 2. Hành; 3. Thức; 4. Danh sắc; 5. Lục xứ; 6. Xúc; 7. Thọ; 8. Ái; 9. Thủ; 10. Hữu; 11. Sinh; 12. Lão, tử. Trong trật tự này, yếu tố trước là nguyên nhân để cho yếu tố kế tiếp theo được sanh ra, khởi phát.
- Vô minh: Không sáng suốt, tâm thức mê mờ không hiểu biết.
- Các ngài trở nên minh: Các ngài trở nên sáng suốt, minh triết.
- Cuộc thế: Cuộc đời ở thế gian này.
- Tha Duyên Đại Thừa Tâm: Tâm trí tu hành theo giáo pháp Đại Thừa Phật Giáo, biết nghĩ tới việc gieo duyên giúp đỡ cho người khác đạt được giác ngộ.
- Giác Tâm Bất Sanh Tâm: Tâm trí giác ngộ về Lý Không.
- Tư tưởng "chân không": Ý nói trình độ tâm thức xa lìa tất cả mọi hình tướng, dứt tuyệt khái niệm mang tính đối đãi Có – Không.
- Tam Luận Tông: Tông phái dựa trên học thuyết Trung Đạo, Không Luận, hay Tương Đối Luận, chủ trương không nhận có là có, không nhận không là không, có và không không chi phối được mình.
- Cái tưởng: Cái tư tưởng, tinh thần của người tu.
- Những chỗ thấp thường: Những chỗ thấp kém và tầm thường.
- Chữ “vô vi” trong Phật Giáo có nghĩa là hành động thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu. Chữ “nhất đạo” có nghĩa là một con đường duy nhất. nhất Đạo Vô Vi Tâm là tâm trí đi theo một con đường duy nhất, chính là thuận theo tự nhiên không cưỡng cầu.
- Thiên Thai Tông: Tông phái Phật Giáo Trung Quốc lấy kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Kinh Pháp Hoa) làm tông chỉ.
- Cực Vô Tự Tánh Tâm: Chữ “cực” nghĩa là cực kỳ, tột đỉnh. Chữ “Vô Tự Tánh” là một triết thuyết của Phật Giáo, nói đơn giản là Tánh Không, Lý Không. Cực Vô Tự Tánh Tâm nghĩa là tâm trí giác ngộ được Tánh Không một cách tột đỉnh.
- Bi thiết: Buồn rầu đau thương.
- Mờ ám: Mê mờ ám muội. Có nghĩa là không có sáng suốt, thiếu trí tuệ.
- Ðại Viên Cảnh Trí: Cảnh là gương. Đại Viên Cảnh là cái gương tròn lớn. Ðại Viên Cảnh Trí chỉ cho trí tuệ của Phật biết hết thảy mọi việc, giống như tấm gương tròn lớn có khả năng phản chiếu tất cả hình ảnh.
- Tối sơ: Đầu tiên, trước tiên, cái ban đầu nhất. Ngược lại với tối hậu.
- Pháp Giới Trí: Là trí tuệ siêu việt vô cùng vô tận của Đức Đại Nhựt Như Lai.
- Sau rốt: Cuối cùng, chung kết.
- Thành sở tác trí: Loại trí tuệ giúp hoàn thành viên mãn mọi việc mà không tạo nghiệp.
- Hoa sen mãn giác: Hoa sen đẹp mỹ mãn ở mọi góc cạnh. Hình ảnh ẩn dụ cho đức hạnh và giác ngộ viên mãn.
- Mười độ: Mười hạnh nguyện của Bồ Tát,: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, phương tiện thiện xảo, nguyện, lực, và trí.
- Giác hoa: Hoa giác ngộ.
- Bồ Tát hạnh: Hạnh nguyện của Bồ Tát là làm lợi ích cho mình và cho chúng sanh.
- Viên giác: Tánh giác ngộ tròn đầy.
- Sức tự trưởng: Khả năng tự sanh trưởng, phát triển.
- Pháp quả: Là thành quả của việc tu hành, thường được hiểu như là sự giác ngộ.
- Phương sở: Phương hướng và nơi chốn.
- Bản thệ: Bản nguyện, những lời nguyện ban đầu.
- Tạng: Kinh tạng, kinh điển.
- Phật tuệ: Trí tuệ của Phật. Ý chỉ sự giác ngộ.
- Ngũ trí Như Lai: Năm vị Phật Như Lai hiện thân của năm dạng trí huệ khác nhau.
- Pháp Giới Thể Tánh Trí: Là trí tuệ siêu việt của Đức Đại Nhựt Như Lai. Đây có thể coi là chân lý của vũ trụ.
- Nguyên ngôn: Lời nói đầu tiên, ngôn từ đứng đầu.
- Lý thuyết về thế giới chấn động có thể được hiểu ngắn gọn là tất cả mọi vật trong vũ trụ đều rung động ở một tần số khác nhau – từ các hạt nhỏ li ti, tới cơ thể, âm thanh, ánh sáng, cảm xúc, suy nghĩ.
- Trong Phật Giáo, "Sắc" và "Không" là hai khái niệm liên quan đến bản chất của vạn vật. "Sắc" (SĀMAÑÑA) đề cập đến hình tướng, vật chất, những gì có thể nhận biết được bằng giác quan. "Không" (ŚŪNYATĀ) chỉ sự trống rỗng, vô thường, không có thực thể cố định, không có bản chất riêng biệt.
- Năm vị Phật Thiền: Tên gọi khác của Ngũ Trí Như Lai.
- Bình Đẳng Tánh Trí: Trí tuệ nhận biết thể tánh bình đẳng của các pháp. Trí giúp nhận thức rằng không có sự khác biệt giữa ta và vật đối tượng.
- Vô Phân Biệt Trí: Trí tuệ siêu việt nhìn thấy bản chất của vạn vật một cách trực tiếp, không bị ảnh hưởng bởi định kiến hay sự phân tích của não bộ con người.
- Không Tánh: Nghĩa là “trống rỗng” hay “trống không.” Đây là một khái niệm trừu tượng và quan trọng của Phật Giáo.
Tiểu Thừa mô tả Tánh Không là trạng thái tâm của người xuất gia không còn phiền lụy, xả bỏ những vướng bận đời sống, gia đình... vì cho rằng mọi sự vật là giả hợp, trống rỗng, vô thường, vô ngã và khổ.
Đại Thừa sử dụng Tánh Không như danh từ, xem Không là vạn sự, vạn sự là Không, với hàm ý rằng vạn vật đều không thật có, không có thực thể, không có tự tánh riêng, tất cả các pháp dù là vật chất hay tinh thần chỉ là những dạng trình hiện, là nhân duyên giả hợp, chúng xuất phát từ Tánh Không, là không.
- Diệu Quan Sát Trí: Trí huệ quán sát thông suốt và diễn nói một cách thoải mái cho mọi đối tượng có thể hiểu được một cách dễ dàng.
- Lý và Sự: Trong Phật Giáo, "lý" và "sự" là hai khái niệm quan trọng, thường được hiểu là lý tính (lý) và hiện tượng (sự), hoặc nguyên lý và thực tế, thể hiện hai mặt của một vấn đề. "Lý" đại diện cho nguyên tắc, bản chất, lẽ phải, còn "sự" là hiện tượng cụ thể, biểu hiện bên ngoài, hay những gì đang diễn ra.
- Bình Đẳng Tánh Trí: Loại trí tuệ quán xét mình và mọi loài chúng sanh trong vũ trụ đều bình đẳng.
- Bộc phát không lý trí: Phát xuất ra tự nhiên, không kiểm soát.
- Thành Sở Tác Trí: Là một loại trí tuệ giúp cho người ta hoàn thành công việc mà không tạo thêm nghiệp.
- Chân đế và Tục đế: Chân đế nghĩa là chân lí tuyệt đối, được nhận biết bởi người giác ngộ. Tục đế (hay Thế đế) là những cái nhận thức mang tính tương đối trúng trong một hoàn cảnh nào đó, là cái hiều của người chưa giác ngộ.
- Sự: Sự vật, sự việc, hiện tượng.
- Vạn Pháp Duy Tâm Tạo: Nghĩa là vũ trụ do tâm của con người tạo ra.

Bởi
VTHB - Chủ nhật Tháng 9 10, 2023 6:10 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Chủ nhật Tháng 9 10, 2023 6:10 pm
Chương III - Phần II. CÁC KINH KHÁC TUYÊN THUYẾT VỀ THẦN CHÚ THUỘC PHẦN MẬT GIÁO- Tam Tạng Pháp Sư: Danh hiệu cho những cao tăng tinh thông Tam tạng kinh điển (Kinh, Luật, Luận) của Phật giáo.
- Sắc chỉ: Ra chiếu chỉ, ra lịnh.
- Đarani: (DHĀRAṆĪ, Đà-la-ni, đà-ra-ni) Cũng được gọi theo nghĩa là Tổng trì, có nghĩa là thâu nhiếp tất cả. Đarani là câu kinh ngắn mang sức mạnh siêu nhiên. Thông thường Ðà-la-ni dài hơn Man-tra (chú).
- Chúc lụy: Chúc nghĩa là dặn dò, phó thác. Lụy nghĩa là gánh vác sự vất vả phiền lụy. Chúc lụy là giao phó, dặn dò cho người khác gánh vác, gìn giữ và phát huy.
- Môn: Môn học, học phái, loại, thứ, ngành.
- Viễn ly: Tránh xa, xa lìa. Viễn ly quỷ thần: Tránh được nạn tai do quỷ thần gây ra.
- Phàm sở cầu sự giai bất tư nghì: Phàm mong cầu việc gì đều được thành tựu.
- U linh: Chỉ chốn tối tăm, âm cảnh, cõi chết.
- Giáo hạnh: Hướng dẫn và ứng xử; Giảng dạy, thực hành và thực hiện nó
- Tứ Chúng: Bốn hạng đệ tử hình thành nên giáo đoàn Phật Giáo, gồm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu Bà Tắc (nam cư sĩ), Ưu Bà Di (nữ cư sĩ). Hay chỉ cho bốn chúng xuất gia là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Sa–di và Sa–di ni. Hay chỉ cho bốn chúng là người, trời, rồng và quỷ...
- Dị tu: Cách tu hành khác nhau.
- Thủ Hộ: Người trông nom, bảo hộ, giữ gìn.
- Quy mạng: Quy mệnh, nương theo, thuận theo, quy y.
Linh phàm đồng Phật Như Lai, quy mạng môn: Khi lâm chung, linh hồn
- Cụ: Có đủ, đầy đủ. Cụ tự tha lực: Đầy đủ sự tự lực và tha lực.
- Hiện thành: Việc thành tựu đã sẵn sàng.
- Thượng nãi cầu học: Sửa soạn hành trang lên đường cầu học.
- Thế lực tự tại: Có nghĩa là quyền lực được vững bền, không bị ngoại xâm hay nội loạn làm lay chuyển.
- Cơ cẩn: Đói kém, mất mùa.
- Phong nhiêu: Phong phú, phì nhiêu.
- Sở nguyện viên thành: Điều hằng mong muốn, nguyện vọng riêng được thành tựu viên mãn.
- Nhiễu não: Quấy nhiễu khiến phiền não bất an.
- Tinh tú biến quái: Các chòm sao biến đổi gây điềm lành, dữ.
- Hoạnh tử: Cái chết không chính đáng, chết xấu, chết do nạn tai.
- Tối thắng: Tối thượng, vượt lên trên tất cả, chế ngự tất cả, vĩ đại nhất...
- Tổng trì: Tổng là bao gồm tất cả pháp, trì là nắm giữ tất cả nghĩa. Tổng trì là thâu tóm, nắm giữ trọn vẹn tất cả pháp nghĩa. (Xem thêm Đarani)
- Bảo xử: Chày kim cang, còn gọi Kim cang xử. Nguyên là binh khí của Ấn Ðộ thời xưa, được làm bằng chất liệu cứng, hay đâm thủng các vật khác. Mật tông dùng nó để biểu thị trí cứng chắc, sắc bén.
- Linh: Cái chuông để lắc khi cúng.
- Bạt: Loại nhạc cụ 2 cái chập cheng, chập chả.
- Ngũ vô gián: Còn gọi Ngũ nghịch, là năm tội nặng nhất: Giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu và chia rẽ tăng đoàn.
- Cây A–lê: Loại cây ăn trái sanh sản ở các vùng Lĩnh Nam (Trung Quốc), bán đảo Trung Nam, Ấn Độ v.v… Thân cây giống như cây dâm bụt, lá dài và nhọn, hoa màu trắng, kết quả vào đầu mùa thu, quả hơi tròn như quả trứng, màu vàng chanh, dùng làm thuốc chữa được nhiều loại bịnh.
- Não hại: Làm phiền và làm hại.
- Tứ đại: Là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Phật Giáo hay dùng cụm từ “thân tứ đại” để chỉ cho cái thân xác bằng xương bằng thịt của con người.
- Túc nghiệp: Nghiệp đã tạo ở đời trước.
- Bạch Tán Cái (Bạch Tản Cái): Cái lọng trắng. Biểu trưng tịnh đức trong sạch đại từ, đại bi của Phật che mát tất cả chúng sanh.
- Túc-tập: Là thói quen hay hành động của đời trước.
- Ái tâm vĩnh đoạn: Ái tâm là tâm trí đầy ham muốn, chấp trước. Vĩnh đoạn là vĩnh viễn cắt đứt. Ái tâm vĩnh đoạn nghĩa là cắt đứt tâm trí dục vọng, phiền não.
- A-la-hán: Theo Phật giáo Nguyên thủy, danh từ A-la-hán là chỉ người đã hoàn toàn giác ngộ, không còn bị phiền não chi phối, thoát khỏi hoàn toàn luân hồi. A-la-hán tu tập nhằm giải thoát riêng mình.
- Bậc vô học: Quả vị cuối cùng trong Thanh Văn Thừa, quả vị A-la-hán.
- Quyến sách: Còn gọi là Kim Cương Tác, Quyên Tác, Quyên Sách... . Đây là một loại dây dùng để chiến đấu hay săn bắt, tục gọi là dây treo, thòng lọng. Trong Mật Giáo, Quyến Sách là pháp khí dùng để giáo hóa những kẻ cứng đầu ương bướng và hàng phục bốn loài ma, là vật cầm trong tay của Bất Động Minh Vương, Bất Không Quyên Sách Quán Âm, Thiên Thủ Quán Âm và Kim Cương Tác Bồ Tát.
- Cử ý tùng tâm: Được như mong muốn, hợp với nguyện vọng.
- Do tuần: Đơn vị đo đường dài của Ấn Độ cổ đại. Người ta vẫn chưa nhất trí về chiều dài của một do tuần là bao nhiêu.
Theo thuyết của các học giả cận đại như ông J. Flect, do tuần tính theo cây số ngàn (kilometre) thì một do tuần xưa bằng 19,5 km; theo quốc tục Ấn độ là 14,6 km, Phật Giáo là 7,3 km; theo thuyết của ông Major Vost thì một do tuần xưa bằng 22,8 km, quốc tục Ấn độ là 17 km, Phật Giáo là 8,5 km.
Theo Đại Đường Tây Vực Ký, một do tuần xưa dài 20 km, căn cứ vào quốc tục Ấn Độ là dài 15km, theo Phật Giáo thì dài 8km.
- Nghi hối: Do quá nghi ngờ nên sau này thấy hối tiếc. Ngờ vực và sau đó hối hận.
- Thuốc dược nhĩ: Thảo dược, cây trồng làm thuốc trị bịnh.
- Trai giới: Ăn chay (trì trai) và giữ giới (trì giới), giữ mình cho trong sạch.
- Kiết giới: Xác lập ranh giới để hộ trì.
- Triền cấu: Triền là vây quấn, ràng buộc; Cấu là dơ dáy, bẩn thỉu. Triều cấu chỉ sự ô nhiễm, bất tịnh, xấu xa bủa vây.
- Tịnh tín: Sự tin tưởng vào Phật pháp, đồng thời tin vào khả năng giác ngộ của bản thân.
- Nhiếp thọ: Thâu nhận, chăm sóc, độ đến giải thoát.
- Cổ độc: Các loại tà thuật, độc dược. Quỷ mị: Ma quỷ.
- Hoạnh tử: Có nghĩa là không phải chết bình thường theo quy luật của già cả sanh bịnh rồi chết. Hoạnh tử là chỉ những cái chết xấu như chết cháy, chết chìm, chết do té từ trên cao, chết đói, chết do sét đánh, do bị rắn cắn hay thú rừng ăn thịt, chết vì bị kẻ khác giết,…
- Sổ châu: Chuỗi tràng hạt.
- Hùng hoàng, thư hoàng: Đây là những khoáng vật chứa lưu huỳnh, dạng tinh thể, có tính độc, có nhiều công dụng khác nhau.
- Sơ địa: Quả vị thứ nhất trong mười quả vị tu chứng của Bồ Tát.
- Tiên phương: Thuốc tiên. Ngày xưa người ta tin rằng sau khi uống phương thuốc này có thể bay lên trời thành tiên.
- Tiên đức: Chỉ bậc tiền bối có đầy đủ đức hạnh.
- Tam Thừa: Là ba con đường tu trong Phật giáo: Thanh Văn Thừa (tu bằng cách nghe pháp, chứng quả A-la-hán, giải thoát cho mình), Duyên Giác Thừa (tu theo giáo lý Thập nhị nhân duyên, tự giác ngộ), và Bồ Tát Thừa (tu để tự mình chứng ngộ, sau đó giúp cho chúng sanh cũng đạt được giác ngộ, chứng quả vị Phật). Tuy khác nhau về căn cơ và mục tiêu gần, cả ba con đường tu này đều hướng đến giải thoát.
- Trì Minh: Tên khác của Đarani, hay Chơn Ngôn, thần chú.
- Dua mị: Nịnh nọt. Nịnh theo ý người.
- Thập địa Bồ-tát: Quả vị cuối trong mười quả vị tu chứng của Bồ Tát.
- Chiên đàn: Tên của một loại cây cao lớn, gỗ có hương thơm.
- Thắng hóa: Biến hóa một cách thù thắng, vượt lên trên những hiểu biết thông thường.
- Tam đồ: Ba con đường ác: Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh.
- Câu thơ này ý nói nếu ai vô tình mà vương phải một hạt bụi hay là đi chung với cái bóng của hành giả Chơn Ngôn thôi cũng đủ khiến cho thần thức của người đó được dạo chơi nơi Tiên cảnh. Nếu hành giả Chơn Ngôn rải một giọt nước xuống cũng đủ giúp cho linh hồn của con người thoát khỏi địa ngục.
- Lục hiệp: Sáu cõi đông, tây, nam, bắc và trên trời, dưới đất.
- Thâm tín: Tin tưởng sâu sắc.
- Thất niệm: Cũng gọi là Vong niệm. Nghĩa là tâm ý tán loạn, thiếu sự chú tâm, quên lãng, mất khả năng nhận biết.
- Ác bịnh triền: các bịnh mãn tính không thể trị dứt, thường hay tái phát nhiều lần.
- Phi phản tự hại: Bị các ác nghiệp đời trước kéo đến đòi nợ.
- Vô tận biện: Lo liệu đầy đủ, trù tính sẵn sàng, không thiếu sót điều chi.
- Thiện hữu: Người bạn lành, bạn tốt, chỉ chung những người giúp chúng ta sanh khởi các hạnh lành.
- Lục độ: Độ tiếng Phạn là Ba–La–Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua. Lục độ là sáu hạnh có thể đưa hành giả từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết Bàn. Lục độ gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ.
- Tam học: Ba môn học của người theo đạo Phật: Giới (Tránh các nghiệp ác), Định (Thiền định, tỉnh giác trong mọi hành động), Huệ (Phát triển tâm Bát Nhã để ngộ được những hiểu biết một cách toàn triệt).
- Tổng hạnh: Là sự bao gồm tổng cộng hết tất cả những đức hạnh.
- Chi lưu: Nhánh nhỏ của một dòng sông, hoặc nhánh cây hoặc nhánh nhỏ trong cùng hệ thống.
- Vô Tướng Pháp Giới: Chỉ trạng thái tâm thức không bị dính mắc vào bất kỳ hình dạng nào, nhận thức được bản chất vô thường, huyễn hóa của vạn vật, và hướng đến giải thoát.
- Thiền Đức: Các bậc cao tăng tu thiền định.
- Vô tướng định môn: là pháp môn thiền định diệt tất cả tâm tưởng.
- Viên tịch: Tròn đầy các đức, diệt hết các điều ác; Xa lìa cái khổ của sanh tử, đạt đến sự an lạc tịnh diệu.
- Quán chiếu: Dùng trí tuệ quán xét rõ ràng.
- Kim Cang định: Còn gọi Kim Cang Tam Muội. Người tu hành đắc phép thiền định này sẽ được trí tuệ bền vững, sắc bén và bất hoại như kim cương, có thể cắt đứt tất cả phiền não và tà kiến thiên lệch.
“Khai vô tướng môn viên tịch tông, tự tự quán chiếu Kim Cang Định” có nghĩa là bắt đầu tu hành theo pháp môn thiền định Vô Tướng, dần dần hành giả sẽ đạt chứng ngộ Kim Cang Tam Muội – là sự chứng ngộ của người trì thần chú Chơn Ngơn.
- Diệu chỉ: Giáo pháp siêu việt.
- Ma-ha-diễn: Nghĩa là “cỗ xe lớn”. Chỉ giáo pháp đại thừa.
“Du-già diệu chỉ truyền tâm ấn, Ma-ha-diễn hành tổng trì môn” có nghĩa là giáo pháp siêu việt của Du-già truyền tâm ấn, còn giáo pháp Đại Thừa mở rộng con đường cho người ta thực hành pháp môn trì thần chú Chơn Ngôn.
- Kinh tạng trì minh: Các bản kinh giảng về thần chú Chơn Ngôn.
- Tán thuật thần biến chơn ngôn: Khen ngợi phép biến hóa, tác động thần kỳ không thể nghĩ bàn của thần chú.
- Túc mạng thông: Năng lực thần thông biết được quá khứ kiếp.
- Có nghĩa là: Nhà sư Trí Giả nổi tiếng có thần thông soi căn biết quá khứ kiếp. Tuy ông tu theo phái thiền định, là một thiền sư, nhưng ông lại giảng dạy và hoằng truyền các nghi lễ và cách thức hành trì thần chú của Mật Giáo.
- Tôn khác: Tông phái khác.
- Nhiên hậu: Rồi sau, rồi mới.
- Đốn huân tu: Dẫn dắt, thúc đẩy công đức tu hành.
- Na-do-tha: Con số đo lường rất lớn, có nơi nói là một vạn ức, lại có nơi nói là một ngàn ức, hoặc một ngàn vạn ức, nên hiểu đây là sự tượng trưng cho một con số rất lớn.
- Hằng hà sa cu-chi: Hằng hà sa nghĩa là cát sông Hằng. Cu chi, hoặc gọi Câu chi, là tên gọi số lượng của Ấn Độ, qua các đời dịch ra có khác nhau: một là mười vạn, hai là trăm vạn, ba là ngàn vạn.
- Kiên Cố Kim Cang Tràng Tự Tại: Hàm ý thể hiện năng lực tâm linh vô song, trí tuệ sắc bén và sáng ngời như kim cương, đức tin vững chắc như cột trụ không thể bị lay chuyển, đạt được tự do tự tại không vướng bận.
- Phạn Âm: âm thanh của ngài Phạm Thiên (BRAHMA) – là đức Thượng Đế trong văn hoá Ấn Độ Giáo.
- “Chơn Ngôn hành giả năng khiến ba nghiệp giống như ba nghiệp của Bổn Tôn” có nghĩa là Chơn Ngôn thần chú có khả năng biến các nghiệp do hành động, lời nói và suy nghĩ gây ra trở thành nghiệp của mười phương chư Phật.
- Tự lực: Tự dựa vào năng lực của chính mình, dựa vào nỗ lực của bản thân để tu tập đạt giác ngộ.
- Tha lực: Dựa vào sự gia hộ, che chở, dẫn dắt của Chư Phật, chư Bồ Tát để tu tập đạt giác ngộ.
- Tu Lục độ hết thảy muôn hạnh: Tu theo pháp môn Lục độ (gồm sáu hạnh: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) và tất cả hằng hà sa số các hạnh khác của Phật Giáo.
- Cụ túc Thanh văn giới: Giới luật đầy đủ, trọn vẹn của cảnh giới Thanh văn.
- “Xét Đarani làm đại bất tư nghì thừa, thành Phật thần thông” có nghĩa là Chơn Ngôn thần chú là một phương tiện vĩ đại không cần bàn cãi, có thể giúp cho người tu đắc thành Phật và có thần thông.
- Móng ý: Vừa khởi phát ý nghĩ.
- Đốn siêu: Đạt được giác ngộ một cách đột ngột, nhanh chóng.
- Ý nói Chư Phật Như Lai còn phải tìm cầu để học.
- Quyền giáo: Giáo pháp phương tiện tạm thời. Phật vì thích ứng mọi căn cơ của chúng sanh mà thiết lập giáo pháp quyền xảo làm phương tiện để giáo hóa chúng sanh, chuẩn bị cho thực giáo.
- Viên tôn mật chú: Thần chú tối thượng thừa.
- Tiểu Thừa cực quả: Quả vị cao nhất trong Tiểu Thừa Phật Giáo.
- Viên viên quả hải:Viên quả là cứu cánh viên mãn. Hải là biển.
Viên viên quả hải là cảnh giới viên mãn tột cùng, đầy đủ tất cả đức hạnh, đức năng, trí huệ thâm sâu quảng đại như biển lớn.
- Pháp bổn tánh: Bản chất thật vốn có của mọi sự vật và mọi chúng sanh.
- Tu nhơn: Tu thân theo các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội loài người.
- Đoạn chướng: đoạn tuyệt với các chướng ngại.
- Đoạn này ý muốn nói Viên viên quả hải là Chơn Lý siêu việt tột đỉnh, Phật cũng không thể tự mình chứng đắc được chỉ bằng cách tu hành theo các phương cách hay tiêu chuẩn đạo đức của xã hội loài người; cũng không thể tự mình chứng đắc được Viên viên quả hải qua việc đã đoạn tuyệt với các chướng ngại trong tu hành. Muốn chứng đắc được Viên viên quả hải chỉ có thờ nhờ vào cầu xin được ban cho Đarani.
- Y tận kinh điển: Trích dẫn các lời dạy trong kinh sách một cách y nguyên bản chánh không thêm thắt sửa chữa

Bởi
VTHB - Thứ 4 Tháng 10 15, 2025 12:37 am
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Thứ 4 Tháng 10 15, 2025 12:37 am
Chương IV - Phương pháp tu hành- Xả thân bị đoạ: Sau khi mất, linh hồn sẽ bị giam ở địa ngục.
- Dòng Sát–lỵ (KSATRYA): Giai cấp xếp thứ hai trong bốn loại giai cấp của xã hội Ấn Độ. Những người thuộc giai cấp Sát-lỵ bao gồm: vua chúa, vương quyền, võ sĩ.
- Giá Nạn Môn: Môn học về phương cách bảo vệ khỏi nguy hiểm, nạn ách.
- Kiết Giới Môn: Môn học về cách giữ gìn giới luật.
- Tu Tứ Nhiếp Môn: Môn học về bốn phương pháp thu phục lòng người, giúp dẫn dắt con người đến với Phật pháp.
- Tỷ giảo: So sánh với.
- Tâm Khí Bất Nhị: Tâm (vừa có thể được hiểu là tâm trí, vừa có nghĩa là trái tim) và hơi thở không phải hai cái riêng biệt. Tâm và hơi thở phối hợp nhịp nhàng với nhau.
- Kinh nghiệm “Không chiếu diệu” hay “Không an lạc”: Nghĩa là an lạc ở trạng thái Tánh Không, chiếu rọi vào Tánh Không. Nói đơn giản, người tu thiền coi đây là trạng thái nhập định thấy được chơn lý.
- Phù trầm: Khi chìm khi nổi.
- Tâm nhãn: Nghĩa đen là con mắt của tâm trí. Trong Phật giáo, tâm nhãn (hay mắt của tâm) là một ẩn dụ chỉ khả năng thông hiểu, nhìn thấu mọi sự vật và sự việc bằng trí tuệ và sự hiểu biết sâu sắc, vượt lên trên khả năng nhìn của mắt thường. Tâm nhãn là khả năng nhận thức nội tâm, giúp con người nhìn thấy sự thật đằng sau các hiện tượng, giải thoát khỏi những ràng buộc của thế giới vật chất.
- Phổ cập: Phổ biến, thường gặp nhất.
- Tứ Vô Lượng Tâm: Là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Từ (đem niềm vui tới cho người khác), Bi (thương xót, cứu giúp người đau khổ), Hỷ (chung vui khi người khác thành công, không ganh ghét tị hiềm), Xả (buông bỏ thù hận, giận hờn).
- Tôi luyện: Quá trình rèn luyện bản thân, chịu đựng khó khăn gian khổ để trở nên cứng rắn và kiên định với lý tưởng mà mình theo đuổi.

Bởi
VTHB - Chủ nhật Tháng 10 19, 2025 1:52 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Chủ nhật Tháng 10 19, 2025 1:52 pm
Chương V - Quả tướng- Quả Tướng: Thành quả của sự tu hành.
- Giải đãi: Ham ăn, ham ngủ, ham chơi, ham nói chuyện tào lao tầm phào, và ham tranh luận cự cãi.
- Ái dục: “Ái” là thích, thương yêu, mến tiếc, luyến ái, tham ái bám víu. “Dục” là ham muốn, tham dục, lạc dục. Ái dục là lòng ham muốn hưởng thụ các sự sung sướng trong đời.
- Tỳ-bạt-xá-na (VIPASYANA) là tên một phương pháp thiền trong Phật Giáo.
- Cảnh sở duyên: Điều mà lòng mình đang nghĩ tới, hướng tới, dính mắc vào. Thí dụ như tâm nghĩ tới chuyện buồn thì cái chuyện buồn đó chính là cảnh sở duyên của tâm mình.
- Nghi lực: Sức mạnh của sự nghi ngờ. Tức là khi tâm không tin, còn do dự, lưỡng lự, thì cái tâm nghi đó trở thành một “lực” ngăn cản sự tu hành của mình.
- Tam đồ: Ba cõi khổ đau gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
- Ngã: Cái tôi, cái bản ngã, cái cách mà một người nhận thức về bản thân họ.
- Hoá tướng: Các sự biến đổi, biến hoá.
- Đồng toà: Ngồi chung một chỗ, hoặc là cùng chung một địa vị.
- Bốn quả chứng: Bốn cấp độ giác ngộ, từ bước đầu đến hoàn toàn giải thoát, càng lên cao càng cắt được nhiều phiền não và nghiệp xấu.
- Ưu-bà-tắc: Nam cư sĩ tu theo Phật Giáo, nhưng sống đời như người bình thường, chứ không cạo đầu vô chùa xuất gia làm sư.
- Ưu-bà-di: Nữ cư sĩ tu theo Phật Giáo.
- Tinh thuần: Thuần thục thành thạo, đạt đến cảnh giới cao nhất.
- Vô Ngại Tuệ: Nghĩa là trí tuệ không có chướng ngại. Đây là một khái niệm trong Phật Giáo chỉ về trí tuệ không bị ngăn trở, không bị giới hạn bởi bất kỳ điều gì, giúp người tu hành có thể hiểu biết sâu sắc và thông suốt về mọi pháp, về ngôn ngữ và khả năng thuyết pháp, cũng như sự thấu hiểu về căn cơ của chúng sanh.
- Đạo lý xuất sanh tất cả pháp môn: Nền tảng cốt lõi của tất cả các pháp môn.
- Tự tánh: Bản chất, tánh chất vốn có của một sự vật, hiện tượng hay con người
- Ngã pháp: Cái giáo pháp nói về bản ngã, cái tôi của con người.
- Soi biết tự tánh của ngã pháp: Hiểu thấu được giáo thuyết về bản ngã của Phật Giáo.
- Du-già hành nhơn: Người thực hành theo pháp Du-già.
- Ấn tướng tam muội: Các thế tay ấn được sử dụng trong thiền định để hỗ trợ hành giả đạt được trạng thái nhập định tam muội. Trong Phật Giáo, Tam muội (SAMADHI) là trạng thái thiền định tập trung cao độ, không thể bị xao lãng.
- Tỳ-na-dạ-ca (VINAYAKA): Còn gọi là Thường Tuỳ Ma hay Chướng Ngại Thần, là một vị ác thần có mình người mũi voi, hay gây ra tai nạn cho con người.
- Nhiếp thọ: là hành động của chư Phật, Bồ Tát trong việc tiếp nhận và bao bọc chúng sinh bằng tình thương, sự hướng dẫn để họ có thể đạt được sự giải thoát.
- Vô ngã: Không có bản ngã.
- Cử ý tùng tâm: Các ý nguyện đều được thành tựu như mong muốn.

Bởi
VTHB - Thứ 5 Tháng 10 23, 2025 10:57 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Thứ 5 Tháng 10 23, 2025 10:57 pm
Chương VI - Phần I. LỤC TỰ THẦN CHÚ VƯƠNG KINH
- Như thật tôi nghe: Tôi được nghe kể lại như vậy.
- Chiên-đà-la (CANDALA): Chỉ những người bị xem là hạ tiện nhất ở Ấn Độ vào thời của Phật Thích Ca.
- Vọng Lượng: Tên của các loài yêu quái.
- Dạ-xoa (YAKSA): Dạ-xoa là một vị thần canh giữ kho tàng trong Ấn Độ Giáo. Tuy nhiên, khi du nhập vào Phật Giáo, Dạ-xoa bị xem là một loại quỷ hay phá người tu hành trong lúc họ thiền định.
- La-sát (RAKSASA): Là một loại hung thần ác quỷ.
- Cưu-bàn-trà (KUMBHANDA): Loài quỷ có thân hình như quả dưa, không có tay, không có chân, còn gọi là quỷ yểm mị. Loại quỷ nầy có bộ phận sinh dục như cái hủ. Chúng thường đè trên người khi họ ngủ, gây nên hiện tượng bóng đè, khiến cho họ nghẹt thở, thậm chí có thể làm cho người chết.
- Phú-đơn-na (PUTANA): Loài quỷ một khi bắt người liền làm cho người ấy cảm thấy như mình đang nằm trên lửa.
- Tỳ-xá-xà (PISACA): Là ác quỷ thích ăn tinh khí và máu thịt của con người.
- A-ba-ma-la (ABAMALA) hay Ưu-ba-ma-la (UPAMALA): Loài quỷ màu xanh dương
- Kiết-giá (KRSTYA): Loài quỷ hay nhập vào các xác chết
- Tỳ-đà-la (VETALA) hay Bán-tỳ-đà-la: Loại thần chú dựng tử thi dậy và sai khiến đi giết người.
- Sa-môn (SRAMANA): Tên gọi chung cho tất cả những người tu hành xuất gia thuộc bất kỳ tông phái nào ở Ấn Độ cổ đại.
- Bà-la-môn (BRAHMIN): Tên gọi của đẳng cấp thống trị cao nhất trong xã hội Ấn Độ, và cũng là một tôn giáo cổ xưa ở Ấn Độ, ra đời trước cả Phật Giáo.
- Sát-lợi (KSHASTRIYA): Giai cấp thứ hai trong bốn giai cấp của Ấn Độ, là giai cấp thuộc hàng vương tộc, quí tộc, sĩ tộc, nắm giữ việc quân sự, chính trị trong nước. Đức Phật Thích ca xuất thân từ giai cấp này.
- Tỳ-xá (VESA): Giai cấp thứ ba trong bốn giai cấp của Ấn Độ.
- Thủ-đà (SUDDA): Giai cấp thấp nhất trong bốn giai cấp ở xã hội Ấn Độ. Họ làm những việc thấp hèn như khiêng xác chết, hốt phân, đi lính...bị áp bức, không có quyền theo tôn giáo, không được lễ bái thần linh.
- Ma-đăng-già (MATANGA): Người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội Ấn Độ, bị coi là những người “không sạch sẽ.”
- Ni-càn-đà (NIGANTHA): Người tu theo phái Kỳ Na Giáo – một tôn giáo cổ xưa ở Ấn Độ, trước thời Phật Thích Ca.
- Ngũ tân: Năm loại gia vị cay nồng gồm hành, tỏi, hẹ, kiệu và hưng cừ (loại hưng cừ này không có ở Việt Nam).
Phần II. UẾ TÍCH KIM CANG THUYẾT THẦN THÔNG ÐẠI MÃN ÐÀ–LA–NI PHÁP THUẬT LINH YẾU MÔN- Thích Đề Hoàn Nhơn: Là tên gọi khác của Đế Thích (INDRA), một vị thần trong Ấn Độ Giáo.
Phần IV. KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI.- Thường trụ: Các cơ sở vật chất để cho tăng đoàn sử dụng.

Bởi
VTHB - Thứ 7 Tháng 11 01, 2025 9:58 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Thứ 7 Tháng 11 01, 2025 9:58 pm
Chương VI - Phần V. THẤT CU CHI PHẬT MẪU SỞ THUYẾT ĐÀ-LA-NI KINH- Tô-ma-na hoa: Tên một loài hoa như hoa lài lớn rất thơm, cây cao khoảng một mét, xòe ra xung quanh như cái lọng, bông màu vàng lợt.
- Nhiên hậu: Sau đó.
- Cù-ma-di: Phân bò. Từ ngàn xưa, người Ấn Độ coi con bò là vật tượng trưng cho Thần Thánh, và cho phân bò là sạch sẽ nhất, nên thường trát phân bò lên đàn tế cho sạch đàn. Phong tục này sau được Phật Giáo thu dụng, khi đắp đàn tu pháp, hứng nước đái bò chưa rơi xuống đất, trộn lẫn với nhau rồi trát lên đàn. Hoặc bỏ Cù-ma-di vào lò hương để làm vật cúng Hộ Ma.
- Quỷ nữ Noa-kiết nê (DAKINI): Trong Phật Giáo, đây là loài quỷ chuyên hút tinh khí và ăn thịt người.
- Đại Chế-để (MAHA CAITYA): Một loại công trình kiến trúc của Phật Giáo, tương tự như một cái tháp lớn.
- Một câu chi = một trăm ức = mười tỷ.
- A Lợi Để Mẫu (AVALOKITEŚVARA): Một tên khác của Quán Thế âm Bồ Tát.
- Phục tàng của báu giấu kín: Được thọ hưởng của cải kho báu ẩn giấu bấy lâu nay.
- Đại nhơn hứa khả: Ý nói người nào trì tụng Chú đó sẽ được trở thành một người vĩ đại.
- An uỷ: Quan tâm, an ủi.
- Túc căn lành: Căn cơ thiện lành. Ý nói về quá khứ kiếp đã làm nhiều điều thiện lành, có phước báu.

Bởi
VTHB - Chủ nhật Tháng 11 09, 2025 9:29 pm
-
- Bài viết: 633
- Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 10 28, 2010 8:01 pm
- Đã gửi: 0 lời cảm ơn
- Đã nhận: 61902 lời cảm ơn
- Trạng thái: Offline
- Chủ nhật Tháng 11 09, 2025 9:29 pm
Chương VI - Phần VII. NGŨ BỘ CHÚ – TINH HOA CỦA MẬT TÔNG PHẬT GIÁO- Thế: Thế gian, thế giới. Trong Phật Giáo, Thế chỉ tất cả chúng sanh trong cõi đời này.
- Xuất Thế gian: Đối lập với “Thế.” Xuất thế gian là chỉ những người từ bỏ cuộc sống thế tục để chuyên tâm tu hành để đạt được sự giác ngộ và giải thoát khỏi luân hồi.
- Bảy mươi trăm ức = Bảy trăm tỷ
- Vậy nên biết sáu chữ Chơn Ngôn cùng với Chuẩn Đề Chơn Ngôn đầu đuôi tương tu: Ý nói Thần Chú Chuẩn Đề và Thần Chú Lục Tự Đại Minh cũng giống y như nhau.
- Vô phân biệt trí: Cái trí tuệ cao sâu không có phân biệt.
- Tối thắng nghĩa đế: Nguyên lý tột cùng, chân lý tối thượng.
- Pháp chơn như hải: Pháp chơn lý có đầy đủ vô lượng công đức, nên được thí dụ như là biển cả bao la.
- Thành trí sở chứng: Trí tuệ đạt được do chứng ngộ.