Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Bài 11
Khí tụ lại mắt trông thấy được là có hình, khí không tụ lại thì mắt không trông thấy được là không hình. Lúc cái khí tụ lại, sao không bảo là không? Lúc cái khí tan ra, sao đã vội bảo là không có? Cho nên thánh nhân ngẩng lên xem, cúi xuống xét, chỉ nói biết cái cớ u minh mà không nói biết cái cớ hữu hoặc vô. Cái mà đầy trong khoảng trời đất là thế cả. Xét cái vẻ, cái vết, không có con mắt không rõ được. Lúc mà biết cái cớ của sự minh… Biết hư không là khí, thì hữu vô, ẩn hiện, thần hóa, tính mệnh, suốt là một không có hai. Nhưng biết tán tụ, xuất nhập, hình với không hình, mà suy được đến cái gốc ở chỗ nào ra, là biết rõ Đạo vậy.
Trương Tái


Thầy Tử Lộ yết kiến đức Khổng Tử
- Đức Khổng Tử hỏi: Thế nào là người trí? Thế nào là người nhân?
- Thầy Tử Lộ thưa: Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình;
người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình.
- Đức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói như vậy cũng khá gọi là người có học vấn.
Thầy Tử Lộ ra, thầy Tử Cống vào, đức Khổng Tử lại hỏi: Người trí, người nhân là thế nào?
- Thầy Tử Cống thưa: Người trí là người biết người, người nhân là người yêu người.
- Đức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói như vậy, cũng khá gọi là người có học vấn.
Thầy Tử Cống ra, thầy Nhan Hồi vào, Đức Khổng Tử lại đem trí, nhân ra hỏi.
- Thầy Nhan Hồi thưa: Người trí là người tự biết mình, người nhân là người tự yêu mình.
- Đức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói như vậy đáng gọi là bậc sĩ quân tử.
Gia Ngữ


Người đói thì ăn gì cũng ngon, người khát thì uống gì cũng ngon. Như thế chưa phải là biết rõ cái thực ngon của sự ăn uống, chính sự đói sự khát làm hại vậy. Có phải sự đói, sự khát làm hại cái miệng và cái bụng mà thôi đâu, nó còn làm hại đến cả cái tâm nữa. Nếu người nào không để cho cái hại của sự đói khát làm hại được cái tâm, thì dẫu không kịp người cũng không lấy làm lo.
Mạnh Tử


Có cái sáng mà nghe thấu gồm cả mọi việc, nhưng không có cái dung mạo kiêu căng; có cái đức tốt bao bọc tất cả mọi vật mà không có cái sắc khoe khoang; cái thuyết thi hành ra thì làm cho người ta chính, cái thuyết không thi hành ra thì làm sáng rõ cái đạo, mà lui mình ẩn ở chỗ kín. Ấy là sự biện thuyết của bậc thánh nhân. Được cái tiết từ nhượng, thuận cái lý lớn trẻ, những tên kỵ húy không gọi, lời quái gở không nói, lấy lòng nhân mà nói, lấy lòng mến học mà nghe, lấy công tâm mà biện luận, không động về sự khen chê của nhân chúng, không lo làm cho đẹp mắt vui tai mà nghe, không vị nể cái quyền quí của kẻ quí hiển, không ưa truyền bá những lời thiên lệch. Cho nên có thể ở chỗ Đạo mà không hài lòng, bàn luận mà không ai cướp lấn được, hòa mà không lưu đảng, quí cái công chính mà rẻ cái bĩ lậu và sự tranh dành.
Tuân Tử


Vô vi không phải là không làm gì cả, mà đừng làm cái gì đến thái quá, vì “vật cùng tắc biến”, “vật cực tất phản”. Cái gì mà thái quá cũng đều nguy hại cả. Mục đích của bất cứ một hành vi nào là cũng đi đến một kết quả nào đó. Nhưng nếu lại đi vào chỗ thái quá, thì kết quả có khi lại còn nguy hiểm cho ta hơn là không làm gì cả. Cho nên vô vi cũng có nghĩa là bớt đi những cái gì thái quá… Bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu.
Lão Tử


Nước Trịnh có tay thầy cúng giỏi tên là Quý Hàm, biết người ta chết hay sống, mất hay còn, rủi hay may, thọ hay yểu, hẹn từng năm, từng tháng, từng tuần, từng ngày, đúng như thần. Người nước Trịnh thấy hắn đều bỏ mà chạy vì sợ biết trước ngày phải chết. Thầy Liệt thấy hắn mà lòng say, về đem việc đó mà nói với thầy Hồ rằng:
- Khi trước, tôi cho đạo của thầy là rất mực rồi. Giờ lại có kẻ còn giỏi hơn nữa.
Thầy Hồ nói:
- Ta dạy ngươi chỉ hết phần văn, chưa hết phần thực. Mi cho thế là đắc đạo sao? Con mái hàng lũ mà thiếu con trống, đẻ sao được trứng! Mi đem Đạo chống với đời tất phải tỏ ra. Vì thế cho nên để người ta xem tướng được mi. Hãy thử cùng hắn tới đây mà xem tướng cho ta.
Hôm sau, thầy Liệt cùng hắn vào ra mắt thầy Hồ. Hắn ta bảo thầy Liệt:
- Tội nghiệp! Thầy của nhà ngươi chết rồi, chả sống nữa. Chả được vài tuần đâu. Ta thấy lạ lắm: Thấy vẻ như tro ướt.
Sau đó thầy Liệt, nước mắt sa ướt áo bảo lại với thầy Hồ.
Thầy Hồ nói:
Ban nãy, ta đem cái cõi đất cho hắn coi: Mầm móng không động, không chính. Chắc hắn thấy cái vẻ “giữ kín đức” của ta mà hắn bảo ta sắp chết. Đem hắn lại coi thử lần nữa.
Ngày mai, hắn lại đến xem cho thầy Hồ, rồi ra ngoài mà bảo thầy Liệt rằng:
- May rồi! Thầy của nhà ngươi gặp được ta, có phần đỡ rồi. Chắc chắn có thể sống. Ta thấy “phần kín” của ông đã có biến đổi.
Thầy Liệt vào, đem thưa với thầy Hồ. Thầy Hồ nói:
- Ban nãy, ta đem cõi trời cho hắn coi: Danh, thực không vào. Chắc hắn thấy cái cơ “Bắt đầu thiện” của ta. Đem hắn tới coi lần nữa.
Ngày kế, Thầy Liệt mời hắn ra mắt thầy Hồ, xem xong hắn ra ngoài mà nói với thầy Liệt rằng:
- Thầy của nhà ngươi khí chất không đều, ta không thể xem được. Thử để đều lại, ngày khác ta sẽ đến coi cho.
Thầy Liệt vào, đem thưa với thầy Hồ. Thầy Hồ nói:
- Ban nãy, ta đem cái vẻ “không bên nào thắng” cho hắn xem. Chắc hắn thấy cài cơ “ngang khí” của ta nên hắn coi không được. Đem hắn lại thêm một lần nữa.
Ngày mai, hắn lại đến ra mắt thầy Hồ. Đứng chưa yên chỗ, tự lấy làm bâng khuâng mà vụt chạy mất.
Thầy Hồ nói: Đuổi theo hắn coi.
Thầy Liệt đuổi theo hắn không kịp, trở về trả lời thầy Hồ rằng:
- Đã mất rồi! Hắn đã bỏ đi rồi! Tôi không còn hy vọng gặp được hắn nữa!
Thầy Hồ nói: Ban nãy ta đem cái vẻ “chưa hề ra khỏi gốc” của ta cho hắn xem. Ta cho hắn thấy ta hư không mà khoan thai. Nhân làm ra vẻ uể oải, nhân làm ra vẻ sóng trôi. Cho nên hắn sợ hãi mà trốn đấy!
Thế rồi thầy Liệt tự thấy mình còn dốt, hổ thẹn vì việc mình học được ít chữ của thầy Hồ mà tưởng rằng thầy Hồ hết chữ, trở về đóng cửa ba năm không ra ngoài: Thổi cơm cho vợ! Nuôi lợn nuôi gà! Phá chạm gọt cho trở lại mộc mạc, lù khù riêng đứng bằng hình, rối rã vẫn phong kín, không làm tốt danh, không khoe mưu trí, không tự cho là giỏi trong công việc, không dám đứng đầu, hiểu cái lẽ không cùng, chơi ở nơi không có ai, nhận hết mọi cái chịu ở trời mà không thấy được, học cái không sắp, không đón, ứng mà không chứa… để tìm cái lẽ thắng được mọi vật mà không bị hại.
Thầy Trò – Trang Tử


Người biết “đạo” tất không khoe, người biết “nghĩa” tất không tham, người biết “đức” tất không thích tiếng tăm lừng lẫy.
Trương Cửu Thành


Bạn có từng nghe hoặc đọc qua rằng những vị Đại Chân Sư hoặc tiên tri đó lý luận những điều họ giáo huấn bao giờ chưa? Không, không có một ai trong bọn họ đã làm như thế. Họ nói thẳng họ thấy chân lý. Và chẳng những họ thấy chân lý, họ còn trưng bày nó ra. Không có sự sờ mó trong bóng tối, nhưng mà có mãnh lực của thị giác trực tiếp. Tôi thấy cái bàn nầy, không có những lý luận nào có thể làm tôi mất sự tin tưởng đó được. Đó là trực giác.
Khi họ nói thì mỗi lời nói là trực tiếp, nó có một huyền lực bên sau. Có khi họ không nói gì cả nhưng họ truyền đạt chân lý từ tinh thần qua tinh thần. Họ đến để ban tặng, họ truyền lệnh, họ là sứ giả. Điều nầy bạn nhận thấy trong đời sống của tất cả những vĩ nhân cao siêu mà thế giới sùng bái như là tiên tri. Những vị tiên tri và sứ giả đều cao cả và chân thật.
Vivekananda


Ta xây lại thấy dưới mặt trời có kẻ lẹ làng chẳng được cuộc chạy dua, người mạnh sức chẳng được thắng trận, kẻ khôn ngoan không đặng bánh, kẻ thông sáng chẳng được hưởng của cải, và người khôn khéo chẳng được ơn; vì thời thế và cơ hội xảy đến cho mọi người. Lại, loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình: Như cá mắc lưới, chim phải bẫy – dù thế nào, thì loài người cũng bị vấn vương trong thời tai họa xảy đến thình lình thế ấy.
Cựu Ước


Hồn nhiên không thiện, không ác là tính trời bẩm sinh. Thích thiện, ghét ác là tính người muốn thế. Bỏ thiện, theo ác là tập nhiễm thói xấu một ngày một dở. Đổi ác, làm thiện là công phu tu tĩnh một ngày một hay. Hay, dở tự mình xét lấy mình, chớ tự mình dối mình.
Đó là con đường tắt thánh hiền dạy ta mà tức là cái sổ ghi công, chép tội trong chốn u minh vậy. Ta nên cố sức. Ta nên hết sức…
Trần Kề Nho


Nối pháp Chân Tịnh Văn thiền sư thuộc đời thứ 13 của phái Nam Nhạc, Giác Phạm thiền sư bị Tần Cối trách phạt và đuổi ra Lĩnh Hải, ngài than: Cây lan trồng giữa đường, quyết không có sự xanh tốt suốt bốn mùa, mà cây quế mọc trong hang sâu thì giữ được hoàn toàn sự xanh tốt quanh năm. Xưa nay người tài trí bị mất mệnh, bị sàm báng, bị tội vạ thì nhiều, còn những người biết tìm xét, biết xử sự theo sự phù trầm của đời để bảo toàn được thân mình thì ít. Cho nên, thánh nhân nói: “Người có tư chất thông minh, xét người một cách kỹ lưỡng hay bị gần chỗ chết vì hay bàn việc người. Người biện bác xa rộng, hay bị nguy đến thân vì hay vạch lỗi xấu của người khác”. Chớ khá cẩn thận vậy!
Giác Phạm


Viên ngọc sáng soi được mười hai cỗ xe, không thể không có tỳ vết, ngọc bích liên thành, há khỏi không có vết đục… Người thợ mộc khéo, tùy theo gỗ mà dùng làm bánh xe hay tăm xe. Như vậy, dù gỗ cong hay gỗ thẳng, không bỏ xót mảnh nào. Người khéo cho hợp. Như vậy, ngựa dở, ngựa hay, không trái với tính ngựa. Vật còn như thế, thì người cũng như thế!
Linh Nguyên thiền sư


Trời không có thể cho hoa mùa nọ nở vào mùa kia, cho nên thánh nhân không trái thời. Đất không thể làm cho khí hậu xứ kia đổ sang xứ nọ, cho nên thánh nhân không trái tục. Thánh nhân không thể làm cho tay biết đi chân biết cầm, cho nên thánh nhân không thể dùng người trái với tài riêng. Thánh nhân lại không thể làm cho cá biết bay trên không, chim biết bơi dưới nước, cho nên thánh nhân không làm việc sái chỗ.
Vì vậy, lúc nên động, lúc nên tĩnh, lúc nên tối, lúc nên sáng, ta không nên câu nệ đường nào, thì mới là hợp đạo.
Quan Doãn Tử


Lưu Bị được Từ Thứ hiến kế đi tìm bậc hiền tài, ông gặp Thôi Châu Bình. Lưu Bị hỏi Bình về cái kế bình thiên hạ. Thôi Châu Bình đáp:
“Ông muốn hỏi tôi cái kế dẹp loạn thống nhất thiên hạ để “trường trị thiên thu” à! Như thế kể ra ông đã có lòng nhân rồi đó, thấy thiên hạ điêu linh mà chẳng nỡ ngồi bó tay, nhưng bên cạnh đó lòng tham của ông cũng đã làm cho ông mờ mắt mà dấn thân vào chỗ chết!
Từ xưa đến nay, trị và loạn có bao giờ dứt. Từ vua Cao Tổ chém rắn dấy nghĩa mà giết bạo Tần, đó là do loạn mà làm ra trị. Qua đến đời vua Ai Đế, Bình Đế thì trị được hai trăm năm, thiên hạ thái bình đã lâu nên mới sinh ra Vương Mãn soán nghịch, đó là do trị mà ra loạn. Đến chừng Quan Vũ trung hưng, sửa cơ nghiệp lại, đó là do loạn mà ra trị. Đến nay, thêm 200 năm, dân yên cũng đã lâu, nên can qua dấy động 4 phương, lúc này là lúc đang trở nên loạn đó. Chưa có thể nào làm bình định được. Nay tướng quân muốn kiếm người tài để mà thay đổi âm dương, hóa loạn thành trị, chấp vá đất trời, đổi ngôi nhật nguyệt… để lên ngôi Hoàng Đế mà cỡi cổ dân ngu à!... Tôi e chẳng phải dể đâu vì chưa phải lúc. Mà dù có đúng với thời cướp được thiên hạ, e rằng ông cũng chỉ làm cái việc vô ích mà di họa cho cái thân của ông và dòng họ mà thôi… vì luật Trời đâu có cho ai mà ngồi đó trường trị thiên thu!”
Huyền Đức (tức Lưu Bị) cãi lại: “Lời tiên sinh thật hay! Nhưng tôi là dòng dõi nhà Hán, lẽ phải khuông phò, dám đâu buông cho số mạng!
Châu Thôi Bình: “Thôi! Thôi! Tôi là người ở chốn sơn dã, đủ đâu để biện luận với tướng quân. Vâng ý ông đã hỏi, nên lỡ đã có những lời không đẹp ý. Xin chớ chấp!”
Bị đi rồi Bình nói: “Con thiêu thân biết rằng chết, vẫn lao vào ánh sáng đốt nó. Đó là nghiệp chướng vậy, hỡi ôi!”
Khổng Minh nghe Lưu Bị có ý mời mình làm quân sư để mưu đoạt thiên hạ, cũng đã nổi nóng, hét lên: “Bộ ông tưởng tôi là con vật hy sinh để mà cúng tế sao?”
Khổng Minh lúc đầu cũng hiểu cái lẽ “thiên địa bề thế, hiền nhân ẩn”, sau lại tham chút bả vinh hoa và cảm động cái tình tâng bốc “tam cố thảo lư” của Lưu Bị mà chấp nhận ra làm cái việc tranh đoạt thiên hạ… để cuối cùng chết mòn trong thất bại chua cay và tủi nhục và phải thốt lên câu nầy: “Nhơn nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”.
Tam Quốc


Chính cái giáo lý nhị nguyên tách bạch thiện ác một cách tuyệt đối của Cơ Đốc giáo (Christianism) đã biến nó trở thành quái đản. Sự đày địa ngục vĩnh cữu thật là một việc vô cùng khủng khiếp, và chỉ có Cơ Đốc giáo mới có sự đe dọa ấy đối với tín đồ của mình… Thứ địa ngục vĩnh kiếp này tắt hẳn nơi lòng con người sự khoan dung hỉ xả (của Thượng Đế thường dạy loài người), vì thế mà những người tin theo thuyết ấy đã cố gắng làm đủ mọi cách để bài trừ tội lỗi, dù phải dùng đến những biện pháp tàn nhẫn để đi đến một tôn giáo pháp đình… Cái thế giới của người Hebreux và Cơ Đốc đều nằm dưới một cái luật luân lý khắc khe. Ngay cả Thượng Đế, cái lẽ tuyệt đối ấy tượng trưng một cái thiện chống lại cái ác, nhân thế mà bất cứ một sự sai lầm nào phạm vào cái luật luân lý ấy đều cho là một cái tội làm cho ta cảm thấy bị hất ra ngoài xã hội loài người, hơn nữa ngoài lề của sự sống, cả những nguồn gốc của sự sống (mất linh hồn). Trong khi họ sa ngã vì sai lầm (ai cũng phải có!), họ cảm thấy bị một cảm giác thống khổ siêu hình dày vò ray rứt, một mặc cảm tội lỗi báo trước một sự đày ải thiên thu, không xứng với tội lỗi của mình. Cái mặc cảm tội lỗi siêu hình ấy không thể chịu đựng nỗi, khiến người ta phẫn nộ trước một sư bất công phi lý đến độ chỉ còn có một thái độ cuối cùng là bỏ quách cái ông Thượng Đế với cái luật lệ tàn nhẫn của ông: Đó là nguyên nhân sinh ra chủ nghĩa vật chất ngày nay. Một thứ luân lý tuyệt đối bao giờ cũng đi đến sự hủy diệt luân lý ấy vì sự trừng phạt quá lố không cân với tội lỗi: Có ai trị bịnh nhức đầu bằng cách chặt đầu người bệnh… Đó cũng là lý do khiến nhiều người Tây phương “hậu Cơ Đốc” (post-christian), nghĩa là những người sau khi vượt khỏi giai đoạn sống trong Cơ Đốc giáo… đã dứt khoát với cái ông Thượng Đế Jehovah của họ cùng với tâm thức Thiên Chúa Do Thái giáo (conscience Judéo-Christian), để không còn vương vấn trong bất cứ một mặc cảm sợ sệt hay nỗi loạn nào nữa… Người có tinh thần tự do không thể sống nô lệ bất cứ trong một hệ thống tư tưởng nào võ đoán và cố định cả…
Đối với Lão Tử và Trang Tử, không bao giờ ta có lý mà không đồng thời vô lý, là vì cả hai đều dính liền nhau như bề mặt và bề trái của một tấm huy chương. Trang Tử nói: “Kẻ nào muốn một chánh quyền tốt mà không có xấu, một người cha tốt mà không có xấu, một giáo chủ tốt mà không có xấu… họ không hiểu gì cả về những nguyên lý của vũ trụ”.
Le Monde du Zen – Alan Watts


Xiển dương vấn đề tình dục giữa trai gái là thái quá, là không phải; cổ võ vấn đề tuyệt dục để tu đạo theo một số tôn giáo là bất cập, phi lý và phản tự nhiên. Âm và Dương cần thiết, dung hòa và quân bình nhau như thế nào đã được đạo học Đông phương và khoa học Tây phương ngày nay xác nhận:
1) Khoa học Tây phương ngày nay đã khám phá được công dụng của khí âm (ion négatif) và đã bắt đầu dùng nó trong việc trị liệu. Những khi có gió mùa nóng như ngọn gió Foelm của dãy Alpes mang lại cho không khí quá nhiều dương khí (ion positif) thì những người già cảm thấy khó thở và đau nhức các khớp xương; kẻ bị suyển cảm thấy hơi thở nặng nề như nghẹt thở; trẻ con trở nên bất thường và dữ ác; số tội ác và tự tử gia tăng (Robert O’Brien).
2) Bác sĩ Kornbluch và những phụ tá của ông đã dùng khí âm trị cả trăm bệnh nhân bị cảm gió hoặc bị ho suyển, kết quả có lối 63% được phần nào hoặc hoàn toàn thuyên giảm. Họ nói: Bệnh nhân đến với họ, vừa mắt mũi lem nhem lòng thòng mũi dãi, tình trạng kiệt quệ vì mất ngủ, đi đúng miễn cưỡng trong một tình trạng đáng thương hết sức. Thế mà chỉ trong 15 phút đồng hồ đứng trước máy phát khí âm (generateur d’ions negatifs), họ cảm thấy khỏe khoắn thế nào, đến quyết định không chịu đi đâu nữa.
Ở Philadelphie, bác sĩ Kornbluch nhận thấy rằng khí âm làm dịu những cơn đau đớn tợn. Những người bị phỏng nặng đang đau đớn, cơn đau sẽ dịu xuống ngay sau vài phút nếu cho bệnh nhân hít hơi do một cái máy phát điện âm.
3) Bác sĩ Mcgowan: “Nhờ khí âm, các vết phỏng sẽ lành và kéo da non mau hơn, và ít để lại thẹo. Cách này còn dùng để vá thịt, và da nữa.”
4) Bác sĩ David dùng khí âm để làm dịu những cơn đau đớn dữ tợn sau những cuộc giải phẫu.
5) Khí âm gây nên ở những nơi có thác nước chảy mạnh, dòng thác đổ đã biến thành dòng dương điện, thì chung quanh lại biến thành âm điện. Dương điện có tính cách kích động, khí âm bao bọc chung quanh có tánh cách xoa dịu. Do khí âm mà người ta có cảm giác êm đềm, mơ mộng, dễ chịu, khỏe khoắn, yên tịnh khi đứng gần bên những dòng thác đổ.
6) Nhà bác học Tchijeusky (1919) cho biết khí âm làm kích thích động lực và sức hoạt động của giống chuột. Giống chiên nhờ khí âm mà lông dầy hơn. Cây trái nhờ khí âm cũng thấy tăng trưởng gấp đôi. Loài ong nhờ khí âm mà giảm mức độ chết chóc đến 15%.
Mặt khác Đạo dịch của Đông phương từ lâu đã chủ trương: Âm hút Dương, Dương hút Âm để thực hiện đạo quân bình của trời đất. Nhưng thay vì nghiên cứu người, người xưa vốn trọng nam, khinh nữ… coi đàn bà như những đồ vật, tài sản mà họ có toàn quyền sử dụng… nên thay vì sử dụng những luồng khí âm tự nhiên ở bên dòng thác hay những khung cảnh thiên nhiên có nhiều khí âm để trị bệnh hoặc tươi tỉnh họ có những cách thô bạo khác, chà đạp nhân phẩm của phụ nữ để mình được trẻ trung, thoải mái, cải lão hoàn đồng…
Theo P. Huard và Ming Vong: “Có một cách để cãi lão hoàn đồng mà cả Tây lẫn Đông đều biết từ xưa, là mượn sinh lực dồi dào của tuổi trẻ để bù lại sinh lực đến hồi tàn tạ của tuổi già, như các vị vua chúa ngày xưa trong cung chứa cả ngàn cung phi mỹ nữ trẻ tuổi… Cái ý nghĩ dùng hơi thở, tức là hút nguyên khí và hơi thở ấm áp của những người tuổi trẻ mạnh khỏe là do nơi thuyết “hợp khí” của Đạo gia mà ra.
Vua David ngày xưa, trong thánh kinh đã thuật, đã làm “ấm lại” đời sống già nua bệnh tật của mình bằng cách “trộm” hơi nóng của nàng Abisa trẻ tuổi.
Vấn đề quân bình âm dương là một việc thuận đạo lý. Dục lạc quá độ làm suy yếu cơ thể, mỏi mệt tinh thần. Tuyệt dục là phản tự nhiên sẽ làm tâm, sinh lý con người rối loạn. Cái lối cãi lão hoàn đồng đó của người xưa là bất nhân (tương tợ như hút máu người để sống). Dùng phương pháp của y học hiện đại để dưỡng sinh mà chăm sóc sức khỏe… ăn uống chừng mức, đừng trăm mưu ngàn kế hại người lợi mình để làm hao tổn tinh thần, trí não, biết cách nghỉ ngơi… đó là cách cãi lão hoàn đồng tự nhiên nhất. Còn cái cách của ngày xưa không khéo đó là một tà thuyết và gây tai hại cho xã hội.
Trần Minh
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Bài 12
Trong đời có cái rất vui, hay là không có? Có cái sống đúng nghĩa hay là không có? Nay nên cư xử như thế nào?
Kìa kẻ giàu, sang, thọ, giỏi, là những cái mà thiên hạ quý. Thân yên, ăn ngon, mặc tốt, sắc đẹp, âm nhạc, là những cái mà họ thích. Nghèo, hèn, yếu dở, là những cái mà họ khinh. Thân không được yên rỗi, miệng không được ăn ngon; xác không được mặc tốt; mắt không được nhìn sắc đẹp; tai không được nghe âm nhạc, là những cái mà họ lấy làm khổ. Nếu không được thì rất lo và sợ.
Kìa kẻ giàu, khổ thân, gắng làm, chứa nhiều của lại không có thì giờ để dùng. Nọ kẻ sang, đêm ngày nghĩ ngợi mưu kế hay dở hao tâm tổn não, những lo là lo. Kẻ sống thọ thì miệt mài lao tâm lao lực, khổ làm chi rứa! Hạng liệt sĩ được thiên hạ cho là hay! Chưa đủ để tránh nạn chết non. Ta chưa rõ cái hay ấy có thực hay cho hắn không? Nếu cho là hay, sao không còn dịp cho hắn sống sót? Nếu cho là chẳng hay, sao lại có thể làm cho người còn sống ngợi khen là hay? Lại có tục ngữ: "Can thẳng chẳng nghe, mau lui chớ cãi!” Tử Tư cố cãi cho nên tàn hại mất xác. Không cố cãi thì không có cái danh là trung thần. Vậy trung tốt hay là không tốt?
Nay những cái mà người đời làm, cùng những cái mà họ lấy làm vui, ta lại chưa biết cái vui ấy có quả là vui chăng? Hay chẳng vui? Ta coi những cái mà người đời lấy làm vui, đem cả lũ mà xô tới, hấp tấp tranh giành như không thể dừng được, và đều nói rằng vui. Ta chưa hề lấy thế làm vui; cũng như chưa hề lấy thế làm không vui. Quả có vui hay không có?
Ta cho không làm mới thật là vui, thì lại là cái mà người đời cho là rất khổ. Cho nên nói rằng: Cái vui lớn nhất không có vui; cái danh lớn nhất không có danh. Lẽ phải trái ở đời quả là chưa thể định được. Tuy vậy không làm có thể định được phải trái. Rất vui, sống trọn vẹn cho mình, chỉ có không làm - hoạ là còn đủ tánh mạng. Xin thử nói lẽ ấy: Trời không làm vì thế trong; đất không làm vì thế yên. Cho nên hai cái không làm hợp nhau, mà muôn vật đều hóa sinh. Chạng vạng lờ mờ! Phải chăng không từ đâu mà ra? Lờ mờ, chạng vạng! Phải chăng không hề có tăm dạng? Lúc nhúc muôn vật, đẻ ra từ chỗ không làm. Cho nên nói: Trời, Đất không làm đấy, mà không gì là không làm! Người ta ai có thể không làm mà làm được?
Nam Hoa Tiên Sinh


Học cho rộng chưa bằng biết cho rõ, biết cho rõ chưa bằng làm cho đúng. Tri với hành hai cái cùng phải có, như có mắt mà không có chân thì không đi được. Có chân mà không có mắt thì không thấy gì. Luận trước sau thì trí là trước, luận nặng nhẹ thì hành là nặng. Lúc mới biết mà chưa làm được là cái biết còn nông, đến khi đã làm được thì cái biết lại sáng thêm hơn và có cái ý vị khác ngày trước. Kẻ đi học lo không biết học, khi biết học rồi mà biết cái đáng chọn, lại lấy làm khó, chọn được rồi mà có cái dũng lực để thực hành, trong không lo cái tư kỷ, ngoài không bị tập tục sách nhiễu, lại khó hơn nữa.
Chu Hi


Có một vài bạn thân ngạc nhiên tại sao tôi lại học chi những khoa học “huyền bí”. Thú thật, hiện giờ chúng tôi không còn mặc cảm gì nữa đối với các thứ học ấy, trái lại chúng tôi còn hãnh diện được học những môn học đó nữa là khác! Trước hết óc tò mò của chúng tôi quá mạnh: Các bậc đại giáo chủ của những tôn giáo lớn được thế giới sùng kính như Jesus Christ, như Thích Ca, như Mahomet… há đã chẳng từng làm các phép lạ thần thông và đã giảng giải về các vấn đề mà cho mãi đến nay còn được xem là bộ môn huyền bí đó hay sao? Không có một hiện tượng lạ nào đã xảy ra và hiện xảy ra trước mắt lại làm cho chúng tôi thản nhiên được. Hơn thế chúng tôi tin rằng những kẻ mà suốt đời không bao giờ biết ngạc nhiên và đặt câu hỏi, kẻ ấy đành chịu làm kẻ đần độn suốt đời. Tôi cho lời nói này của Albert Einstein rất xác đáng: “Người mà không quen cảm thông với sự huyền bí, đã mất cả cái quan năng biết ngạc nhiên, biết say đắm trong niềm tôn kính trước những gì huyền bí, con người ấy kể như con người đã chết rồi. Huống chi với tình trạng khoa học tiến bộ mau lẹ gần như vượt bực ngày nay, kẻ nào còn nhân danh một lý lẽ nào để miệt thị các khoa học huyền bí là mê tín dị đoan, chính họ mới “lạc hậu” còn hơn những người thường nữa!”. Tôi cho rằng lời nhận xét này của bác sĩ Jules Regnault rất đáng nghiền ngẫm: “Khoa học ngày nay phải chăng là một thứ huyền bí học bị lột bộ mặt huyền bí của nó?”
Thu Giang


Tất cả những tinh thần yếu ớt và chưa mở mang trong mọi tôn giáo hoặc mọi xứ chỉ có một đường lối để thương yêu lý tưởng của họ; đó là bằng cách ghét mọi lý tưởng khác; điều này giải thích vì sao một người tận tụy với quan niệm của mình về tôn giáo, lại có thể trở thành kẻ cuồng tín la hét khi y vừa thấy và nghe điều gì về một quan niệm nào khác. Loại tình yêu đó cũng có chỗ hơi giống với bản năng của con chó giữ tài sản của chủ không cho ai cướp giựt.
Vivekenanda


Tôn giáo sẽ trở thành độc tài và vô nhân đạo khi nó không còn có những kẻ thù của nó nữa.
M. Maeterlinck


Người ta sinh ra trong vũ trụ này, bẩm theo khí âm dương mà thành hình. Tự mình nếu không phải là bậc thánh, theo sức bi nguyện, xuất hiện nơi thế gian để giáo hóa người, thì tâm lợi dục tựa hồ không thể bỏ được. Chỉ có bậc thánh nhân biết không thể bỏ được lợi dục của con người, nên trước đem dọa đức để chính tâm, sau lấy nhân, nghĩa, lễ, trí để giáo hóa con người. Ngày tới, tháng đến, dần dần khiến lợi dục không thắng được nhân nghĩa, lễ, trí, mà đạo đức được hoàn toàn vậy.
Hòa Thượng Phật Nhãn


Người ta sở dĩ đến nỗi phạm phải nghìn muôn tội lỗi là chỉ vì cái bệnh “chỉ biết có mình”. Vì cớ mình chỉ biết có mình, mình mới suy tính thiên phương bách kế; chỉ muốn cho mình giàu, chỉ muốn cho mình sang, chỉ muốn cho mình sống, chỉ muốn cho mình vui, chỉ muốn cho mình yên, chỉ muốn cho mình thọ, còn người ta nghèo hèn, nguy khổ, lụn bại, chết chóc, nhất thiết là chẳng nghĩ gì đến cả. Bởi thế mà thiên lý đến tuyệt duyệt, tuy có hình người, kỳ thực không khác gì cầm thú.
Ví bằng trừ bỏ cái bệnh “chỉ biết có mình”, tâm địa rộng rãi công minh, giàu, sang, nghèo, hèn, vui , khổ, sống chết đều cùng chung với cả loài người, thì ai nấy đều hả lòng mà thiên lý giữ được trọn vẹn. Thế là thân ta cùng với muôn vật là nhất thể vậy.
Tiết Huyên


Tô Đông Pha, một thi hào Trung quốc đời Tống, cũng là một nhà Phật học uyên bác, có một người bạn chí thân, sư Pháp Diễn. Am của sư Pháp Diễn ở bên tả ngạn sông Dương Tử, còn nhà của Tô Đông Pha ở bên hữu ngạn.
Ngày kia, Tô Đông Pha đến thăm bạn, nhưng bạn đi vắng. Không có gì làm khi ngồi không, ông lấy giấy viết lên mấy câu: “Tô Đông Pha con nhà Phật vĩ đại mà cả 7 ngọn gió hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ không làm gì lay chuyển được một gang tay". Viết xong bỏ đó ra về.
Khi Pháp Diễn về, đọc mấy hàng chữ trên đây, bèn lấy bút ghi thêm: “Nói bậy! Những gì anh viết lên đây, không có giá trị bằng một tiếng địt của ta nữa!” Rồi cho người đem trả tờ giấy ấy cho Tô Đông Pha. Giận đỏ mặt, Tô Đông Pha tức tốc xuống thuyền, vượt qua sông to, đến tìm Pháp Diễn vừa nắm tay vừa mắng lớn:
_ Anh là hạng người gì mà dám ăn nói thô lỗ với tôi như thế, tôi không phải là một Phật tử quan trọng và trung thành với đạo hay sao? Tại sao anh lại có thể mù quáng đến thế!
Pháp Diễn nhìn bạn, mỉm cười, bình tĩnh đáp:

_ À! Thì ra nhà đại thi hào Tô Đông Pha, người Phật tử vĩ đại cho rằng cả 7 ngọn gió lớn còn không thể làm anh lay chuyển được một gang tay, vậy mà chỉ bị có một tiếng địt nhẹ kia lại có thể thổi anh từ bên kia sông bay tuốt đến đây, sao lại lạ thế nhỉ?
Thiền Truyện


“Những triết gia Đông phương vừa là nhà luân lý đạo đức, vừa là nhà chính trị tôn giáo… Tôn giáo của họ thường lẫn lộn cả thần thoại, thi văn mà cũng vừa có những lối lý luận đanh thép: Triết gia Đông Phương là một con người toàn diện và muôn mặt.”
E. Tomlin


Nếu các ngài nương tựa vào những quyển sách của phái tả hay phái hữu hoặc vào những sách thiêng liêng, các ngài chỉ nương cậy vào ý kiến, dù là ý kiến của Phật, chúa Kitô, của chủ nghĩa tư bản, cộng sản hay bất cứ ý kiến nào. Tất cả cũng chỉ là ý tưởng, những ý tưởng, chứ không phải là chân lý… Nếu chúng ta có thể tự khám phá ra sự thực của vấn đề thì chúng ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập ngoài tất cả những ý kiến của kẻ khác… Người ta không có thể nào phủ nhận một sự kiện. Người ta chỉ có thể phủ nhận ý kiến về sự kiện.
Krishnamurti


Để giải cứu dân Y-sơ-ra-en ra khỏi đời sống nô lệ, Đức Chúa Trời hiện ra cùng Môi-se trong bụi gai cháy và truyền lệnh cho ông bảo phải nói với vua Pha-ra-ô buông tha dân Y-sơ-ra-en. Môi-se e ngại không ai tin ông ta được Đức Chúa Trời phái đến nên tỏ ý đó cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn làm một số phép lạ sau đây:
1) Bảo Môi-se liệng cây gậy của mình xuống đất, nó hóa ra một con rắn; rồi nắm đuôi nó, rắn hóa lại thành cây gậy.
2) Bảo Môi-se đạt tay vào lòng, tay nổi phung trắng như tuyết, đoạn đặt tay trở lại vào lòng, tay trở lại bình thường.
Đức Gie-hô-va phán tiếp: Nếu khi nào ngươi làm hai pháp thuật kia rồi mà họ chẳng tin và vâng theo lời người, thì làm phép lạ thứ ba là làm nước sông biến thành máu và tràn ngập trên mặt đất.
Môi-se lại e ngại miệng mình nói không giỏi. Đức Gie-hô-va phán: Ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.
Để chứng minh quyền năng của Đức Chúa Trời trước mắt Pha-ra-ô, Môi-se đấu phép với các Bác sĩ và những Pháp sư của xứ Ê-díp-tô. Mỗi người đều liệng ra một cây gậy, cùng hóa thành rắn. Con rắn của Môi-se nuốt tất cả rắn khác. Như vậy pháp thuật của Môi-se đã thắng pháp thuật của những pháp sư khác. Nhưng Pha-ra-ô vẫn chưa tin đó là quyền năng pháp thuật của Đức Chúa Trời.
Đức Gie-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Pha-ra-ô đã rắn lòng từ chối không để cho dân Y-sơ-ra-en đi, nhà ngươi hãy làm các pháp thuật khác bằng cây gậy thần thông kia cho đến khi Pha-ra-ô khuất phục. Môi-se vâng lời tiếp tục làm các pháp thuật khác:
1) Nước ở khắp nơi của xứ Ê-díp-tô đều trở thành máu, cá thì chết, sông thì hôi thúi.
2) Sông sanh ra lúc nhúc ếch nhái, bò lên nhà, phòng ngủ, giường, lò bếp, lên mình của Pha-ra-ô và dân chúng của xứ Ê-díp-tô
3) Bụi bặm đều hóa thành muỗi tràn ngập xứ Ê-díp tô. Các thuật sĩ của Pha-ra-ô làm như thế không được.
4) Nhà của người Ê-díp-tô đều bị ruồi mòng bu đầy, và khắp trên đất nữa.
5) Súc vật bị dịch lệ: Trâu, bò, ngựa, lừa, lạc đà chết hết, còn súc vật của dân Y-sơ-ra-en chẳng chết một con nào.
6) Tro hòa thành bụi gây nên ghẻ chóc cương mủ người và súc vật khắp cả xứ Ê-díp-tô. Các thuật sĩ của Pha-ra-ô cũng đều bị ghẻ chóc.
7) Mưa đá rơi xuống trên cả xứ Ê-díp-tô, trên mình người, súc vật và khắp rau cỏ ngoài đồng.
8) Cào cào tràn vào xứ Ê-díp-tô, cắn xả rau cỏ và mọi vật chi trên đất mà trận mưa đá kia còn để xót lại.
9) Xứ Ê-díp-tô bị tối tăm trong ba ngày ba đêm, không ai có thể thấy ai. Nơi dân Y-sơ-ra-en ở thì có ánh sáng.
10) Hết thảy con trưởng nam trong xứ Ê-díp-tô sẽ chết, từ thái tử của Pha-ra-ô, cho đến con cả của các người đời, cho đến mọi con đầu lòng của súc vật nữa.
Qua mười đợt cứng lòng, Pha-ra-ô khuất phục trước quyền năng pháp thuật của Môi-se, do Đức Chúa Trời hậu thuẫn, ông đành giải phóng dân Y-sơ-ra-en giao cho Môi-se dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
Các cuộc đấu phép thần thông trên cho thấy: Các thuật sĩ, các bác sĩ, các thầy pháp của vua Pha-ra-ô đều có tài thần thông hóa phép, họ đã thử thách đấng tiên tri Môi-se của Đức Chúa Trời đến 10 lần bằng phép tắc và cả 10 lần đều chịu thua. Như vậy những đấng tiên tri của Đức Chúa Trời phải có phép thần thông cao cường và khuất phục được những người ngoại đạo. Ngày nay mấy thầy tế lễ có đủ pháp thuật để làm cho những người ngoài đạo họ thấy được pháp thuật bằng cách nhân danh Đức Chúa Trời hay không? Hay họ lại tự hào là mình chẳng cần làm phép lạ vì không thể làm được!
Xem chuyện Môi-se Cựu Ước T.C.G.


Những người theo đạo Phật cho rằng chỉ có chư La Hán, Duyên Giác, Phật mới chứng được lục thông, những kẻ tu hành ngoại đạo hoặc chư thiên, chư thần chỉ có thể chứng đến ngũ thông mà thôi. Như vậy, người tu theo Phật là rốt ráo nhất vì ngoài ngũ thần thông của các ngoại đạo còn chứng thêm một cái thần thông khác là lậu tận thông. Như vậy thần thông của Phật thắng trùm tất cả. Năm phép thần thông đầu và lậu tận thông đó như sau:
1- Thiên nhãn thông: Thấy mọi vật trong vũ trụ.
2- Thiên nhĩ thông: Nghe mọi tiếng khắp nơi.
3- Túc mạng thông: Biết chuyện đời trước của người, của mình, biết luôn cả đời này và đời sau.
4- Tha tâm thông: Biết được tâm người.
5- Thần túc thông: Phép đi khắp nơi trong nháy mắt, phép biến hóa tùy ý.
6- Lậu tận thông: Phép trong sạch hoàn toàn, nhà đạo dứt hết các trìu mến, chấp trước, không còn chấp pháp, không còn chấp ngã (cái ta).
Kinh Phật thường cho rằng oai lực thần thông của chư Phật, chư Bồ tát, thinh văn, duyên giác đều hàng phục được tà ma ngoại đạo, kể cả ma vương… Ngày nay người ta tu hành rất giỏi nhưng thiếu phẩm hạnh thường tự cho mình là cao, dè xiểm người khác là thấp, là tà. Không có được một chút nhỏ thần thông nào, sợ ma, thua tà… nhưng lại rất ngạo mạn với chư Thiên, chư Thần là những người mà họ tự cho là thua họ. Ôi, quả thật là lời nói hết sức huênh hoang và không đi đôi với việc làm!
Sảo Ngữ
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Bài 13
Không tức giận vì muốn biết, thì không truyền mở cho. Không tức giận vì không nói rõ ra được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia, thì không dạy nửa.
Luận Ngữ


Học trò lão Đam, có người là Canh Tang Sở riêng hiểu đạo của Lão Đam, sang Bắc, ở núi Úy Lũy. Ở ba năm, miền Úy Lũy khá to!
Dân ở Úy Lũy nói với nhau rằng:
_Thầy Canh Tang lúc mới đến, chúng ta bâng khuâng lấy làm lạ. Nay chúng ta; ngày tính ra thì không đủ! Năm tính ra thì có thừa! Có lẽ thánh nhân chăng? Các bác! Sao ta không cùng nhau lập đền đài mà thờ phụng?
Thầy Canh Tang nghe chuyện, quay mặt sang Nam bẽn lẽn. Học trò lấy thế làm lạ.
Thầy Canh Tang nói:
_ Các con! Có lạ gì ta? Kìa hơi Xuân tới mà trăm loài cỏ xanh! Thu vừa sang mà muôn vật báu thành! Kìa Xuân cùng Thu phải rằng không có đức gì mà được thế sao? Ta nghe bậc chí nhân ngồi trơ trong căn nhà đất, mà trăm họ rông cuồng, không biết là đi đâu… Nay dân miền Úy Lũy, lén lút muốn dân cỗ bàn cho ta ở giữa đám hiền nhân! Ta có lẽ là hạng người lếu láo thế sao? Vì thế mà ta lấy làm bẽn lẽn.
Học trò thưa:
_ Không phải thế! Kìa trong rạch một tầm, một trượng, cá lớn không có chỗ dong thân mà ếch nhái là giỏi! Trên gò một bước thú lớn không có chỗ ẩn hình, mà cầy, cáo là hay! Vả chăng tôn người hiền; cất người tài; lấy thiên và lợi làm đầu; thì từ xưa Nghiêu, Thuấn đã thế rồi, huống chi là dân Úy Lũy! Thầy cũng nghe họ thôi!
Thầy Canh Tang bảo:
_ Các con lại đây! Kìa giống muông lìa khỏi núi thì không khỏi cái lo bẫy lưới. Loài cá vào bờ, mắc cạn và mất nước, thì kiến bọ có thể làm khổ được. Cho nên chim, không chán cao; cá không chán sâu. Mà con người giữ toàn xác và cái sống của mình, giấu thân mình, cũng không chán sâu xa, kín đáo mới thôi. Vả lại hai vua Nghiêu Thuấn ấy đâu đáng để ngợi khen. Về việc làm của họ, khác nào khoét láo tường, vách, mà trồng cỏ bồng, cỏ tranh! Lần từng sợi tóc mà chải đầu! Đếm từng hạt gạo mà thổi cơm! Len lén vậy, lại đâu đủ để giúp đời! Cất người giỏi thì dân khuynh loát nhau mà giành lấy. Dùng người khôn thì dân tìm cách ăn trộm lẫn nhau. Mấy cách ấy, chẳng đủ để cho dân thuần hậu. Đối với danh lợi, dân nó siêng năng lắm vì thế mà con có kẻ giết cha! Tôi có kẻ giết vua! Ban ngày ăn trộm! Giữa trưa khoét ngạch! Ta bảo các con cái gốc loạn lớn tất sinh ra ở khoảng đời Nghiêu Thuấn. Mà cái ngọn còn mãi đến sau nghìn đời. Sau nghìn đời, tất có chuyện người với người ăn thịt lẫn nhau!
Nam Vinh Trừ sửng sốt ngồi ngay lại mà rằng:
_ Như Trừ này tuổi đã luống rồi, sẽ học tập vào đâu để kịp được lời nói ấy?
Thầy Cang Tang đáp:
_ Toàn lấy xác người. Giữ lấy sự sống của ngươi. Đừng khiến ngươi lo nghỉ miệt mài. Như thế ba năm, thì có thể kịp được lời nói ấy… Nhưng xét lại tài ta nhỏ, không đủ để hóa ngươi, ngươi sao chẳng sang Nam ra mắt thầy Lão!
Trang Tử


Trình bày một giáo lý nào, dù sự trình bày ấy có thuận lợi cho giáo lý ấy bực nào, cũng không có nghĩa là người ta mong ước nó được thừa nhận. Các bậc uyên thâm về đạo học, chính họ có mong ước được như thế không? Tuyệt đối là không, vì sự truyền giáo là điều mà họ kỵ nhất.
Ngày nay triết học tôn giáo thường bị người ta chối bỏ, xếp vào một xó là do nó quá trơ trẽn bộc lộ và tự cao tự đại thái quá, nó đâu còn giống như một vị cao tăng ở ẩn trong núi sâu, đốt lên một điểm lửa thiêng liêng, khiến cho mọi người hướng về mà ngưỡng vọng, trái lại nó giống như một nhà truyền giáo đứng ở ngả tư đường phố đông đúc phát truyền đơn, kéo níu người nghe lung tung… Khiến cho người ta có cảm giác rằng tôn giáo cũng thô bỉ tục tằn không thể chịu nổi, chẳng khác gì anh đứng trung gian dắt mối ở thị trường. Triết học tôn giáo ngày nay đang bị hãm vào cái hố bùn lầy nầy mà chẳng thế nào rút chơn ra được.
Thu Giang


Tôn giáo luôn luôn là một việc cá nhân. Mỗi người đều có thể có ý kiến riêng của mình về tôn giáo, và muốn nghĩ sao thì nghĩ, Thượng Đế không khi nào trách ai cả…
Song thân tôi đều là những tín đồ rất thành kính của Ki-tô giáo. Cứ nghe ba tôi cầu kinh mỗi buổi tối thì biết lòng mộ đạo của người ra sao. Tôi là con một vị mục sư, đã được hưởng những tiện lợi của giáo dục trong giáo hội, hấp thụ được những sở trường của nó mà cũng đã đau khổ về những sở đoản của nó. Tôi đã luôn luôn mang ơn về những sở trường, còn sở đoản thì tôi đã chuyển ra thành sức mạnh cho tôi… Hồi nhỏ người ta cấm tôi vô hý viện Trung Hoa, cấm tôi nghe hát Trung Hoa và tôi không được biết chút gì về thần thoại cùng cố sự của nước tôi. Sau khi vô trường nhà dòng, thì tôi quên hết ít đoạn trong Tứ Thư mà ba tôi đã dạy tôi. Như vậy có lẽ mà lại hay vì sau này khi đã hấp thụ một nền giáo dục Âu Tây, tôi nghiên cứu lại cựu học với một tinh thần mới mẻ và với những hứng thú của một thanh niên phương Tây khám phá được những cái kỳ diệu của phương Đông.
Tới thời thiếu niên _ tuổi đó thường là mộ đạo nhất _ bỗng phát ra một sự xung đột giữa lòng tôi và óc tôi: Lòng tôi thì cảm thấy những cái đẹp của đạo Ki-tô và óc tôi thì muốn lý luận về mọi sự. Cũng lạ là tôi không bao giờ bị giày vò, thất vọng như Tolstoy mà đến nỗi xuýt muốn tự tử. Trái lại, trong mỗi giai đoạn, tôi thấy mình là tín đồ của một đạo Ki-tô thống nhất, sống hòa hợp với tín ngưỡng, chỉ hơi khoáng đạt, tự do hơn các tín đồ khác, chấp nhận ít giáo điều hơn họ. Vả chăng lúc nào tôi cũng có thể suy nghĩ lại về bài thuyết giáo trên núi. Những câu như: “Các con hãy coi những bông huệ trong ruộng”, ý tưởng đẹp quá, nên thơ quá, tất phải là đúng. Do đó mà tôi ý thức được một đời sống Ki-tô giáo trong nội tâm, nó làm tăng nguồn sinh lực của tôi lên.
Còn những giáo nghĩa thì nó trốn đi đâu mất một cách đáng kính, và nhiều cái thiển cận làm cho tôi phát chán. Tín điều “nhục thể phục hoạt” trong giáo nghĩa đã bị bác bỏ từ lâu, vì ở thế kỷ thứ nhất người ta không thấy Chúa giáng lâm lần nửa, mà xác của các thánh đồ nằm yên trong mộ chứ không sống lại; vậy mà điều đó vẫn y nguyên còn nằm trong bộ “Tín Điều của Thánh Đồ”, (Symbole des Apotres). Đó là một trong những cái thiển cận tôi kể làm thí dụ.
Rồi sau tôi vô ban Thần học; đây mới là chốn thiêng liêng nhất. Tôi được biết thêm về tín điều. “Nữ đồng trinh sanh con” là một vấn đề mà các vị khoa trưởng các viện thần học ở Mỹ còn chưa tin, còn đương bàn cãi, mỗi nhà đưa ra một kiến giải. Thế mà các tín đồ Trung Hoa nhất định phải chấp nhận tín điều đó rồi mới được phép làm lễ rửa tội. Tôi bực mình về điểm đó lắm. Có vẻ như người ta thiếu thành thực, dù sao thì cũng thiếu công bằng.
Tôi tìm đọc thêm những sách cao hơn, đọc những bài bình luận thông thái về những vấn đề vụn vặt, và tôi thấy rằng một quan niệm như trên về thần học chẳng có giá trị gì cả. Kết quả là tới kỳ thi tôi bị loại… Như vậy tuy rủi mà hóa may cho tôi. Nếu lúc đó tôi cứ tiếp tục rồi, sau nầy khoác áo mục sư thì không biết làm sao tôi có thể thành thực với tôi được. Nếu người ta cho tôi là phản nghịch thì chỉ có mỗi lần đó, lần tôi bất bình rằng sao các nhà thần học có quyền nghi ngờ một tín điều mà các tín đồ lại bắt buộc phải tin.
Thời đó, tôi đã tới giai đoạn coi các nhà thần học là kẻ thù lớn nhất của Ki-tô giáo. Tôi không sao hiểu nổi hai mâu thuẫn sau đây:
Thứ nhất: Các nhà thần học xây dựng tất cả tín ngưỡng về đạo trên một quả táo. Nếu ông A Đam không ăn một quả táo cấm trên vườn Thượng Đế thì không có tội ác nguyên thủy, mà không có tội ác nguyên thủy thì không cần phải chuộc tội. Mà tín điều đó, theo tôi, trái hẳn với giáo huấn của đấng Ki-tô, Ngài không hề nói tới tội ác nguyên thủy và sự chuộc tội, tuyệt nhiên không. Với lại, cũng như nhiều người khác ở thời đại này, tôi không nhận thấy mình có tội ác nguyên thủy, tôi không tin điều đó. Tôi chỉ biết rằng nếu Thượng Đế chỉ yêu tôi bằng phân nửa má tôi yêu tôi thôi thì không khi nào Ngài đày tôi xuống địa ngục cả. Đó, trong thâm tâm tôi nghĩ như vậy, cho như vậy là đúng rồi, khỏi bàn gì nữa, và tôi không vì bất kỳ một tôn giáo nào phủ nhận sự thực đó.
Thứ hai: Mâu thuẫn thứ nhì, theo tôi, còn vô lý hơn: Khi ông A Đam và bà Eve, trong tuần mật, lỡ ăn một trái táo thì Thượng Đế nổi giận tới nỗi bắt con cháu hai ông bà đời kiếp kiếp phải chịu tội chỉ vì một lỗi nhỏ của tổ tiên; nhưng tới khi cũng những đứa con cháu đó của hai ông bà giết người con độc nhất của cũng vị Thượng Đế đó thì Ngài lại vui vẻ đến nỗi tha tội cho hết. Ai muốn giảng gì thì giảng, đưa những luận cứ gì thì đưa, tôi không thể nào chấp nhận sự vô lý đó được.
Tuy vậy, sau kỳ thi, tôi vẫn còn là một tín đồ nhiệt tâm, và tôi tự nguyện dạy Thánh Kinh mỗi ngày Chủ Nhật ở Thanh Hoa học hiệu, một trường không phải là của giáo hội, làm cho nhiều giáo viên đồng sự ngạc nhiên. Buổi học Thánh đản làm cho tôi đau khổ, vì buổi đó tôi phải kể cho trẻ em Trung Hoa nghe về đời sống các Thiên Thần ca hát dưới ánh trăng trên Thiên Đường, điều mà tôi không tin một mảy may. Mọi sự đã quyết định từ trước rồi, tôi bỏ hết các tín điều mâu thuẫn, mà chỉ giữ lại một lòng yêu: Tôi yêu Thượng Đế vô cùng sáng suốt, Ngài đã cho tôi được vui vẻ bình tĩnh.
Có lần tôi biện luận với một bạn đồng sự, tôi bảo: “Nhưng nếu không có Thượng Đế thì còn ai làm điều thiện nữa và thế giới sẽ điên đảo mất”. Ông bạn theo Khổng giáo của tôi đáp: “Tại sao lại như vậy? Chúng ta phải sống một đời sống hợp đạo chỉ vì chúng ta là những con người hiểu đạo, thế thôi”. Nghe lời giảng đó về sự tôn nghiêm của đời sống con người, tôi cắt hết những liên lạc với đạo Ki-tô và tôi thành một dị giáo đồ (ngoại đạo) từ hồi đó.
Bây giờ đối với tôi, mọi sự minh bạch lắm. Thế giới của người bị Ki-tô giáo gọi là ngoại đạo là một thế giới giản dị. Họ không giả định một điều gì cả, họ chuyên lập luận trên sự thực của đời sống và nhờ vậy làm cho đời sống hấp dẫn hơn, người đó không cần làm điều thiện để tự biện hộ cho mình, họ có thể yêu nhau được mà không cần một vị ở trên trời nào bắt buộc cả. Theo tôi, đạo Ki-tô làm cho đạo đức hóa ra khó khăn, rắc rối một cách vô ích, mà làm cho tội lỗi hóa ra tự nhiên, thích thú (rửa tội). Theo tôi, chỉ có người ngoại đạo là có thể cứu tôn giáo ra khỏi thần học, khôi phục được tính cách giản dị và đẹp đẽ của tín ngưỡng, hồi phục được sư tôn nghiêm của tình cảm trong tôn giáo.
Vì đâu mà những thuyết lầm lẫn rắc rồi về thần học đã biến đổi những chân lý giản dị thành một cơ cấu cứng ngắc, kỳ dị, để cho giai cấp tế sự lợi dụng? Ai bảo là một người ngoài Ki-tô giáo không tin tôn giáo là lầm: Chỉ khác một điều nầy là những người đứng ngoài hay rời khỏi Ki-tô giáo luôn luôn tin ở Thượng Đế mà họ gọi bằng nhiều cách khác nhau, Đấng Tạo Vật, Đấng Hóa Công v.v… và để Đấng ấy ẩn sau một vừng hào quang bí mật…

Tôi ngạc nhiên thấy các nhà thần học bạo gan và ngạo nghễ khoa trương làm sao! Dám khoe là nhận thức rõ ràng được một đấng “siêu việt”, dám cho đấng đó có tính cách nầy, tính cách nọ, khi mà sự nghiệp sáng tạo của đấng đó mênh mông mà nhân loại chỉ mới biết được một phần cực nhỏ… Tệ hơn nữa các nhà truyền giáo còn dám rêu rao là tôn giáo của họ là một thứ độc quyền thương mãi cứu rổi tín đồ, một thứ độc quyền có chấp chiếu chứng thư của Thượng Đế, người mà họ mãi mãi không bao giờ biết được.
Những Quan Hệ với Thượng Đế - Lâm Ngữ Đường


Có gì cấm cản ta không cho ta vừa cười vừa nói đến chân lý?
Horace


Có một vị chân tu, từ bỏ tất cả mọi của cải thế gian, chỉ còn giữ lại hai cái sà-rong để thay đổi thôi.
Ngày kia, được một ông vua trong xứ mời đến một khu rừng ven đền vua để đàm luận về Đạo.
Trong khi nói chuyện về Đạo, bỗng đền vua phát hỏa cháy rực đỏ trời. Nhà vua vẫn cứ bình tĩnh ngồi yên chăm chú nghe luận đàm; trái lại vị cao tăng kia, cặp mắt dớn dác, cứ dòm chừng mãi đám cháy…
Là vì, hồi sáng nầy ông có phơi cái chăn gần đó.
Truyện Cổ Ấn Độ


Đạo của thánh nhân như trời đất nuôi muôn vật, và không có vật gì là không đầy trong Đạo ấy. Đạo của chúng nhân như: Giang, hà, núi, sông, gò, hang, cỏ, cây, côn trùng… đều chỉ dung chứa hết cái sức của nó mà thôi. Và nó không biết ngoài lượng của nó ra thì vũ trụ này vật gì cũng đầy đủ đạo ấy!
Vậy, có hai đạo ư? Không, do sự thấy được có nông, sâu và thành tựu có lớn, nhỏ mà thôi.
Hối Đường thiền sư


Có người thợ vẽ, vẽ cho vua nước Tề mấy bức tranh.
Vua hỏi: Vẽ cái gì khó?
Thưa: Vẽ chó, vẽ ngựa khó.
- Vẽ cái gì dễ?
- Vẽ ma, vẽ quỉ, vẽ thiên thần, vẽ thánh, vẽ Thượng Đế dễ.
- Sao lại thế?
- Chó, ngựa ai cũng trông thấy, vẽ mà không giống thì người ta chê cười, cho nên khó vẽ.
- Các đấng kia vô hình, không ai trông thấy, tùy ý muốn vẽ thế nào cũng được, không sợ ai bẽ, cho nên dễ vẽ.
Chuyện Cổ


Người ngu nhất là kẻ mà suốt đời không nói cũng không làm một điều gì ngu cả.
Miguel de Unamuno



Ngày nay người ta chỉ có thể tìm thấy Phật pháp ở một nơi nào không có bóng dáng của Phật giáo.
Một thiền sư u mặc
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Bài 14
Hoàng Đế làm vua 19 năm uy danh khắp mọi nơi. Nghe thấy Quãng Thành ở trên núi Không Đồng, đến ra mắt thầy mà thưa rằng:
-Tôi nghe nhà thầy hiểu về chí đạo. Vậy dám hỏi phần tinh túy của chí đạo. Tôi muốn lấy tinh khí của Trời Đất giúp năm giống thóc để nuôi dân. Tôi lại muốn sắp đặt Âm Dương, để mọi loài có sống được thỏa thích. Làm cách nào cho được như thế?
Thầy Quãng Thành nói:
-Ta chỉ nghe phòng giữ thiên hạ, không nghe có trị thiên hạ. Phòng nghĩa là sợ thiên hạ đắm đuối mất tính, giữ nghĩa là sợ thiên hạ dời đổi mất đức. Từ khi mi trị thiên hạ, hơi mây không đợi họp đã mưa; cỏ, cây không đợi vàng đã rụng; ánh sáng mặt trời, mặt trăng càng hoang hủy thêm; mà lòng kẻ nịnh thường hau háu vậy. Lại sao đủ để nói chuyện chí đạo.
Xưa kia cũng thế, vua Nghiêu trị thiên hạ, khiến thiên hạ hơn hớn, ai nấy vui tính mình, thế mà cũng không yên. Vua Kiệt trị thiên hạ khiến thiên hạ chật vật. Ai nấy khổ tính mình, thế là không vui. Không yên, không vui, không phải là đức. Vui quá lệch về Dương, giận quá lệch về Âm. Âm Dương bất hòa làm loạn lòng dân. Lại có kẻ tin việc thưởng phạt có thể tròn cái đạo trị. Nhưng đem cả thiên hạ mà thưởng kẻ thiện hắn còn cho là không đủ. Đem cả thiên hạ mà phạt kẻ ác, việc đó cũng không rồi. Cho nên thiên hạ dù hẹp cũng không thể thưởng phạt. Việc trị nước lại tùy thuộc vào việc chiêu hiền đãi sĩ chăng? Kẻ sáng mắt lại thường đắm đuối về sắc. Kẻ tinh tai lại đắm đuối về tiếng. Kẻ nhân, nghĩa lại làm loạn đức và trái lý. Kẻ chuộng lễ thì khéo mà giả dối. Người chuộng nhạt thì quyến luyến về dâm. Người trí thì giảo quyệt. Bậc thánh thì chuộng cái hoang đường. Tám cái món ấy làm loạn thiên hạ mà ai ai cũng tôn trọng nó và thương tiếc nó; không biết bỏ nó mà còn chạy mộng để nói nó, quỳ gối để dâng nó, trống hát để múa nó. Đó là tám cái món không giúp được Chí Đạo. Người quân tử có cái quý nhất của Đạo là không gì bằng không làm. Nếu mi hiểu Đạo thì dám đâu mà nói trị thiên hạ.
Hoàng Đế hỏi:
-Không trị thiên hạ, sao tốt được lòng người?
Thầy Quãng Thành đáp:
-Trời Đất có làm gì đâu mà muôn vật vẫn tự sanh, tự diệt. Con người tốt, xấu há có phải do người làm được, vậy tại sao ngươi lại muốn nhúng tay vào, mi có lớn hơn trời, đất? Việc mi muốn trị thiên hạ là vô ích. Hơn nữa mi nên cẩn thận, chớ trêu vào lòng người! Lòng người đè thì xuống; nâng thì lên; lên xuống bất thường nên từ và ác không chừng; mềm, cứng, rắn, sắc, chạm, gọt… vô đỗi. Nó nóng sém lửa, nó lạnh đóng băng, nó mau như chớp, nó sâu tựa hang gò, nó động tịnh không biết đâu mà dò cho được. Cái ngông nghênh không thể bỏ hoặc lấy được, có lẽ chỉ có lòng người mà thôi! Xưa Nghiêu, Thuấn lấy nhân, nghĩa trêu vào lòng người mà đùi không thịt, chân không lông, khổ cả năm tạng, hao khí huyết để khuôn thiên hạ vào phép tắc, đày Hoan Dâu ra Sùng Sơn, đuổi Tam Miêu ra Tam Nguy, lư Cung Công ra U Đô… thế mà vẫn không trị được thiên hạ. Kế đến ba đời Vương dưới có Kiệt, Chích, trên có Tăng, Sử, Nho, Mặc… Thiên hạ lại càng ầm ầm loạn lớn. Đó là cái lỗi ở chỗ trêu vào lòng người. Vì thế mà kẻ hiền giả phải nấp ở dưới núi lớn ngàn thẳm mà ông vua muôn xe lại luôn luôn lo sợ ở trên miếu đường. Đời bấy giờ kẻ chết gối lên nhau, kẻ bị xiềng xích chen chúc nhau, kẻ bị tội giết nhìn ngó nhau. Bọn Nho, Mặc cùng chen chân, thích cánh ở giữa đám gông, cùm. Phải chăng việc trị thiên hạ chẳng rèn giũa nên xiềng xích? Nhân, nghĩa chẳng đục chạm nên gông cùm? Lại biết đâu Tăng, Sử chẳng là hạng bung xung cho Kiệt, Chích?
Hoàng Đế nghe xong trở lui, về triều bỏ việc trị nước, đắp nhà riêng, chiếu bằng tranh thô… ở riêng một mình hơn 3 tháng suy gẫm lời thầy Quãng Thành, rồi lại sang đón thầy Quãng Thành hỏi lại cái đạo trị thiên hạ.
Thầy Quãng Thành vỏn vẹn đáp:
-Trời, Đất tự có công việc. Âm Dương tự có chỗ chứa. Giữ gìn mi cho cẩn thận. Vật tự nhiên mà hóa.
Về triều đúng một năm sau, Hoàng Đế lại đến gặp thầy Quãng Thành mà hỏi tiếp về cái Đạo trị thiên hạ.
Thầy Quãng Thành đáp:
-Lông bông không biết cầu gì ngông nghênh không biết đi đâu! Lăn lóc chơi để xem cái vô cùng, ta nào biết chi!
Hoàng Đế lại thưa: Tôi cũng tự lấy mình làm ngông nghênh mà tôi đi đâu thì dân họ lại đi theo. Tôi đây chẳng bỏ được dân… xin cho nghe một lời.
Thầy Quãng Thành vừa đáp vừa bỏ đi: Việc làm đúng lương tâm, tận nhân lực rồi tri thiên mệnh, còn trị hay loạn hãy để đời sau xét xử.
phỏng theo Nam Hoa Kinh


1- Nơi nào có tâm bồ đề phát khởi, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì tâm bồ đề là quyến thuộc của Bồ tát
2- Nơi nào có thâm tâm, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì đó là nơi xuất sinh các thiện tri thức.
3- Nơi nào có chứng nhập các trụ địa (Bhumi), nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì là nơi sinh trưởng hết thảy các Ba la mật.
4- Nơi nào có phát đại nguyện (pháp môn vô lượng thệ nguyện học- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn- Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành), nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì nơi đó là nơi thi hành công hạnh.
5- Nơi nào có đại từ, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì đó là nơi phát triển bốn nhiếp pháp (Bố thí nhiếp- ái ngữ nhiếp- lợi hạnh nhiếp- đồng sư nhiếp).
6- Nơi nào có chánh kiến, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì là nơi trí tuệ siêu việt trỗi dậy.
7- Nơi nào Đại Thừa quảng bá, nơi đó là quốc độ của Bồ tát vì là nơi hết thảy các phương tiện thiện xảo được vận dụng.
8- Nơi nào có giáo hóa chúng sanh, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì là nơi hết thảy chư Phật giáng sanh.
9- Nơi nào có phương tiện trí, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì là nơi nhận biết rằng hết thảy các pháp đều không sanh.
10- Nơi nào có tu tập hết thảy các Phật giáo, nơi đó là quốc độ của Bồ tát, vì là nơi mà hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai giáng sinh
Sinh Địa Đích Thực của Bồ Tát


Từ nguyên tử cho đến sinh vật cao siêu nhất, tất cả đều hoạt động. Mặt trời, mặt trăng, trái đất, hành tinh, tất cả đều đang cố gắng bay thoát khỏi ràng buộc. Những mãnh lực ly tâm hay cầu tâm của thiên nhiên quả thật là tiêu biểu của vũ trụ chúng ta. Hãy làm việc không ngừng, nhưng hãy từ bỏ mọi quyến niệm về việc làm. Khốn khổ do quyến niệm chớ không phải do việc làm. Một bức họa đẹp và đắt tiền nhất của người khác cháy không làm cho ai khổ cả trừ người chủ của nó. Người chủ của nó khổ chỉ là vì quyến niệm. Câu “tôi” và “của tôi” nầy gây ra tất cả khốn khổ. Với cảm giác “sở hữu”, lòng vị kỷ cùng đến và vị kỷ mang theo khốn khổ. Đừng khi nào nói “của tôi”: Con tôi – nhà tôi – thân thể tôi… vì trước đây không có và sau nầy không còn. Đừng có ý: Tôi phải chiếm giữ cái đó mãi mãi vì tất cả đều qua đi. Bất luận việc tốt, việc xấu hoặc không tốt không xấu, nhiệm vụ chân chính của người hiểu biết là không bị quyến niệm và hiến dâng mọi việc cho Thượng Đế.
Vivekenanda

Tế Thượng Đế, Trời Phật, Quỷ Thần là lấy sự tận thành để tỏ cái lòng tôn kính chứ không phải tế để cầu lấy cái phúc riêng cho mình như những người thường vẫn tin tưởng. Quỉ thần thông minh chính trực có lẽ nào lại thiên vị ai bao giờ. Người ta ở đời cứ theo cái lẽ công chính mà làm, đừng làm việc gì tàn bạo gian ác. Việc bổn phận của mình thế nào thì mình cứ cố gắng mà làm cho trọn vẹn, rồi sẽ có quỷ thần chứng giám cho, hà tất phải nay cầu nguyện, mai cầu nguyện mà làm gì? Khổng Tử khi đau nặng, học trò Ngài là thầy Tử Lộ xin cầu nguyện thượng hạ thần kỳ để Ngài chóng khỏi, Ngài nói rằng: “Ta cầu nguyện đã lâu rồi”. Ý nói rằng chung thân Ngài chỉ có theo lẽ trời mà làm việc nhân, nghĩa, như thế là lúc nào Ngài cũng đã cầu nguyện rồi. Nếu ai là người bất nhân, bất nghĩa, làm những điều trái đạo, phải tội với Trời thì dẫu có cầu nguyện quanh năm cũng không ích gì. “Phải tội với Trời còn cầu nguyện vào đâu được”.
Theo Luận Ngữ


1/ Kẻ học đạo nên vì đời mình mà tiếc danh, không nên vì đời mình mà mua danh. Có học thức, chuộng khí tiết, lấy hay cho phải cẩn thận, uy nghi phải trang trọng, ấy thế là tiếc danh.
Tưng bốc lẫn nhau, a dua những kẻ quyền quí, làm ra kiểu cách khác thường, lờ mờ hai mặt, ấy thế là mua danh.
Người tiếc danh thì yên lặng mà hay, kẻ mua danh thì rực rỡ mà dở.
2/ Kẻ học đạo nên vì con cháu gây phúc, không nên vì con cháu cầu phúc.
Nghiêm giữ phép nhà, chuộng sự tiết kiệm, chất phác, dạy cho chúng biết chữ, cho chúng có nghề, chứa nhiều âm đức, ấy thế là gây phúc.
Mua nhiều cửa nhà, ruộng đất, giao kết với những người quyền thế, tranh lợi nhỏ mọn với dân, mua công danh cho con cháu, ấy thế là cầu phúc.
Người gây phúc thì thanh đạm mà lâu dài, kẻ cầu phúc thì nồng nàn mà ngắn ngủi.
3/ Kẻ học đạo nên vì một nhà mà dùng của, không nên vì một nhà mà hại của.
Giúp cho họ hàng, làng nước, tiêu rộng rãi về việc học, cứu kẻ khốn cùng, chăm làm việc nghĩa, ấy thế là dùng của.
Ăn mặc hoang, xướng hát nhiều, yến hội luôn, tu tập lắm đồ châu báu, ấy thế là hại của.
Người biết dùng của tuy thiệt mà vẫn có thừa, kẻ không biết dùng của tuy thừa mà vẫn thiếu.
4/ Kẻ học đạo nên vì thiên hạ nuôi thân, không nên vì thiên hạ tiếc thân.
Bớt thị dục, giảm lo phiền, ít phẫn nộ, tiếc ẳm thực, ấy thế là nuôi thân.
So kè lợi hại, xa tránh khó nhọc, tham quyền cố vị, chỉ chăm việc vợ con, nhà cửa, ấy thế là tiếc thân.
Người nuôi thân thì im lặng mà to, kẻ tiếc thân thì thỏa thê mà nhỏ.
Trung Động Sơ


Lấy đá mài, tuy không thấy nó mòn, nhưng có lúc thấy nó hết. Trồng cây, vung bón cây tuy không thấy nó cao, nhưng có lúc thấy nó lớn. Chứa góp công đức, tuy không biết lúc nào nó đầy, nhưng có lúc đắc dụng. Bỏ nghĩa trái lý, tuy không biết sự xấu của nó, nhưng có lúc sẽ chết vì nó. Người học đạo nếu như suy tính kỹ lưỡng được những lời nói trên và noi theo thực hành, quyết định thành bậc đại khí và mỹ danh vang dội. Đó là đạo lý xưa nay không thay đổi vậy.
Linh Nguyên Thiền Sư


Đây là hai sự thật mà con người nói chung (kể cả các bậc thánh), không bao giờ chấp nhận: Họ không biết gì cả. Họ không là gì cả
Giacomo Leopardi


Người có mệnh quý, thì cùng học với người ta, mà chỉ một mình mình hiễn đạt, cùng làm quan với người ta, mà chỉ một mình mình được thăng. Người có mệnh giàu, thì cùng tìm mà chỉ có một mình mình được; cùng làm mà chỉ có một mình mình nên. Mệnh nghèo khó thì trái thế: Khó đạt, khó thăng, khó nên… cho nên tài cao hạnh hậu vị tất đã giữ được phú quí, trí quả đức bạc vị tất đã phải bần tiện… Mệnh nghèo mà có dùng sức làm nên giàu, đến khi giàu là chết; mệnh hèn mà có lấy tài năng làm nên sang, đến khi sang là phải thối… Vậy không nên lấy sự hiễn đạt mà cho là tài giỏi và lấy sự bần cùng mà cho là ngu dại… Ngồi ở chỗ tôn, chỗ hiễn vị tất là hiền, ngồi thấp chức nhỏ vị tất là ngu…
Vương Sung


Khổng Miệt là cháu Đức Khổng Tử. Bật Tử Tiện là học trò Đức Khổng Tử, hai người cùng làm quan một thời.
Đức Khổng Tử qua chơi Khổng Miệt, hỏi rằng:
Từ khi ngươi ra làm quan được những điều gì, mất những điều gì?
Khổng Miệt thưa: “Từ khi tôi ra làm quan chưa được điều gì, mà đã mất ba điều: Việc quan bận, không còn thì giờ học tập, vì thế mà học vấn không tấn tới; bổng lộc ít, không đủ chu cấp cho họ hàng, vì thế mà họ hàng không thân thiết; công việc nhiều không thể đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà ăn ở với bầu bạn không trọn vẹn.”
Khổng Tử nghe không bằng lòng.
Sau Ngài đến chơi Bật Tử Tiện, lại hỏi như hỏi Khổng Miệt.
Bật Tử Tiện thưa: “Từ khi tôi ra làm quan chưa mất điều gì, mà đã được ba điều: Những điều trước học nay đem ra thực hành vì thế mà học càng rõ; bổng lộc dù ít, cũng có thể chu cấp ít nhiều cho họ hàng vì thế mà họ hàng càng gần; việc làm quan tuy bận song cũng bớt được ít thì giờ đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà bầu bạn càng thân.
Đức Khổng Tử nghe nói khen rằng: Tử Tiện thật là người biết làm quan.
Gia Ngữ


Bất cứ nơi nào anh thấy có một sự cáo chung to tát, hãy yên chí rằng nơi đó sắp có một sự khởi đầu to tát. Khi mà tâm trí anh kinh hoàng trước những cuộc tàn sát thương tâm khốc liệt, hãy tự an ủi rằng nơi đó cũng sẽ có một cuộc sáng tạo mênh mông vĩ đại mới. Thượng Đế luôn luôn ở đó, ở trong giọng nói dịu dàng bình tĩnh, mà Ngài cũng có mặt ở những nơi khói lửa mịt mù và giông tố bão bùng. Sự hủy diệt càng to lớn bao nhiêu, thì sự sáng tạo càng có được nhiều hy vọng hoạt động tự do bấy nhiều… Kẻ nào hy vọng quá mạnh, cũng sẽ tuyệt vọng quá mau. Đừng hy vọng, cũng đừng lo sợ gì cả. Hãy vững lòng tin nơi Thiên Lý.
Mercure de France


Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét. Vì các ngươi đoán xét người ta thế nào, thì họ cũng đoán xét lại thế ấy: Các người lường cho người ta mức nào, thì họ cũng lường lại cho mức ấy… Hỡi kẻ giả hình! Trước hết phải lấy cây đà trước mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.
Ma-thi-ơ


Thần Ác (Shiva) sở dĩ đã cướp đoạt sinh lực mà thần Brahma đã ban cho thần Vishnou, không phải để tiêu diệt sinh lực ấy, mà để làm cho nó trẻ trung lại.
Basile


Hoa có rụng, trái mới sinh. Trái mà không rụng thì làm gì có được những mùa hoa trái khác sắp đến sau nầy, cũng như ngay cả mùa xuân ấm áp, và tưng bừng nhựa sống kia cũng là do sự chết lịm của mùa đông giá buốt tạo thành.
Andre Gide


Hết