Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
Kinh Mật Tông Phật Giáo Tinh Hoa Yếu Lược (cư sĩ Triệu Phước, pháp danh Đức Quý) xuất bản năm 1985.
1000 cuốn tái bản lần thứ 5 vào năm 2005 tiếng Việt.
Tái bản 1000 cuốn lần thứ 2 năm 2006, Anh ngữ.
Thư viện Quốc Hội Mỹ lưu giữ từ năm 1985.
Bản đã được chỉnh sửa 09 / 2025



Đạo Học-Thần Bí Học-Thần Thông Học
Kinh biếu



LỜI TỰA


Quyển “Mật Tông Phật Giáo Tinh Hoa Yếu Lược” là bản đúc kết của Mật Tông Phật Giáo Tinh Hoa quyển Thượng và Trung xuất bản tại Hoa Kỳ trong thời gian hai năm qua. Nó còn được bổ túc thêm một số tài liệu mới về Chú, Phù và Ấn quyết để các học giả và hành giả về Mật Pháp nghiên cứu thêm.

Về phần pháp thuật hay công năng của Chú, Ấn, Phù ghi chép trong các bản kinh xin mời các đọc giả tìm hiểu và chứng nghiệm. Nó hoàn toàn hiệu nghiệm và dĩ nhiên tùy theo công đức của hành giả mà sự hiển linh có cấp bậc khác nhau. Mật Tông đã có những huyền thoại của nó tại nhiều quốc gia Á châu mà chúng ta không cần phải đề cao nó thêm nữa. Những quan điểm thần thông và bí truyền đã đến lúc được lưu hành trong quảng đại quần chúng như bất cứ một bộ môn khoa học nào khác và mời những người hoài nghi hãy thí nghiệm nó trước khi nhận định, phê bình.

Thực hiện Lục Độ Ba-la-mật: Bố thí – Trì giới – Tinh tấn – Nhẫn nhục – Thiền định và Trí tuệ lần hồi hành giả sẽ đạt được hai mục tiêu của Mật Giáo là giác ngộ viên mãn các chân lý hữu hình và vô hình của bản thể vũ trụ và thành đạt cũng như thu phục được các lợi ích thực tế về sức khỏe, của cải, quyền năng… ngay trong đời sống hiện hữu.

Công hiệu của nó chắc chắn là một thách thức cho những ai đa nghi về sự hiện hữu của các đấng thần linh và Thượng Đế. Xin mời tất cả những ai muốn chứng nghiệm về huyền bí học và Đạo học hãy khảo lược về quyển kinh này của Mật Giáo. Còn về phép “Quán Đảnh” hay còn gọi là Lễ Điểm Đạo truyền Pháp, nếu muốn các học giả có thể được trực tiếp trao truyền trong vòng nửa tiếng đồng hồ và hoàn toàn miễn phí, để thực nghiệm tức khắc về thần lực gia trì.

Chân thành cám ơn tất cả các bạn đạo Mật Giáo đã giúp tôi có đủ mọi điều kiện để hành đạo ba năm qua tại Mỹ, Canada và trong thời gian tới tại các nước khác.

Colorado Ngày 06 Tháng 06 Năm 1985

Soạn Giả
Cư sĩ TRIỆU PHƯỚC
PHÁP HIỆU ĐỨC QUÝ
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
Chương I – Khái Niệm về Mật Giáo.....................9
  1. Giáo Chủ Bí Mật....................................................10
  2. ADHISTANA..........................................................17
  3. Phép Quán Đảnh...................................................23
  4. Các Ký Hiệu tạo Pháp Thuật....................................25
  5. Đàn Pháp.............................................................37
  6. Phép Hộ Ma..........................................................39
Chương II – Sự Truyền Thừa..............................42
  1. Lược Sử Mật Tông Tây Tạng....................................50
    1. Phái Cổ Mật...................................................51
    2. Phái Hoàng Mạo.............................................54
    3. Phái Những Người Áo Vải.................................55
  2. Lược Sử Mật Tông Trung Hoa...................................62
    1. Thiện Vô Uý...................................................62
    2. Kim Cang Trí..................................................64
    3. Bất Không.....................................................64
    4. Nhất Hạnh.....................................................67
  3. Lược Sử Mật Tông Nhật Bản.....................................69
    1. Phật Giáo nhật Bản.........................................69
    2. Mật Tông tại Nhật...........................................70
    3. Thai Mật........................................................71
    4. Đông Mật.......................................................73
  4. Mật Tông tại Các Nước Đông Nam Á..........................78
Chương III – Tôn Chỉ Và Giáo Lý Căn Bản.........................................82
  1. Mật Giáo qua Hai Bộ Kinh Đại Nhật Và Kim Cang Đảnh.............................84
    1. Lục Đại.......................................................................................84
    2. Bốn Mandala................................................................................86
    3. Tam Mật......................................................................................87
    4. Thập Trụ Tâm...............................................................................90
    5. Triết Học Mandala.........................................................................96
  2. Các Kinh Khác Tuyên Thuyết về Thần Chú thuộc phần Mật Giáo..................107
Chương IV – Phương Pháp Tu hành....................................................133
  1. Giới Luật .............................................................................................135
  2. Dư Ngôn..............................................................................................139
  3. Nghi Thức Trì Ngũ Bộ Chú.......................................................................140
  4. Bảy Pháp Môn Thiền Định Của Mật Giáo....................................................143
Chương V – Quả Tướng .....................................................................149
  1. Mộng Chứng..........................................................................................150
  2. Quả Tướng tu trì.....................................................................................157
  3. Chín Phẩm Thành Tựu của Mật Giáo..........................................................153
Chương VI -Chú Ấn Phù và các Vòng Phép, cũng như Mandala của.................................................155
  1. Lục Tự Thần Chú Vương Kinh .........................................................................................................156
  2. Uế Tích Kim Cang Thuyết Thần Thông Đại Mãn Đà-ra-ni Pháp Thuật Linh Yếu Môn ................................164
  3. Uế Tích Kim Cang Cấm Bách Biến Pháp Kinh ..................169
  4. Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni..........180
  5. Thất Cu-chi Phật Mẫu Sở Thuyết Đà-ra-ni Kinh...................................................................................214
  6. Thất Cu-chi Độc Bộ Pháp.................................................................................................................222
  7. Ngũ Bộ Chú...................................................................................................................................224
  8. Linh Phù – Bảo Bộ..........................................................................................................................234
  9. Mục Lục .......................................................................................................................................254
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG ĐẶC BIỆT


LÁ THIÊN THƠ CĂN BẢN DÙNG ĐỂ QUÁN ĐẢNH
(TRAO TRUYỀN TÂM PHÁP)

Hình ảnh


Đây là lá linh phù tượng trưng cho 5 phương Phật: Trung Ương Phật Tổ (Đức ĐẠI NHẬT NHƯ LAI hay THƯỢNG ĐẾ) – Đông Phương Phật Tổ (BẤT ĐỘNG NHƯ LAI) – Nam Phương Phật Tổ (BẢO SANH NHƯ LAI) – Tây Phương Phật Tổ (VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI) – Bắc Phương Phật Tổ (BẤT KHÔNG THÀNH TỰU NHƯ LAI) và 5 đạo binh trời gồm chư Tiên, chư Thánh, chư Thần hầu cận. Nó tượng trưng cho ngũ chi của các tôn giáo trong vũ trụ: PHẬT ĐẠO – TIÊN ĐẠO – THÁNH ĐẠO – THẦN ĐẠO và NHÂN ĐẠO.

Ngày xưa, trong thời kỳ bí truyền các chư sư đã tận tay trao truyền cho nhau trải qua mấy ngàn năm nay. Mật Tông Nam Tông đã sử dụng nó để trao truyền tâm pháp và trong truyền thống chính thức của Phật giáo Cao Miên chỉ được khẩu truyền cho các sư khi lên hàng lục-cả. Mật Giáo Cao Miên đã gọi lá Thiên Thơ này là Pracul consatte (Phép Phật)-Pracul Kìa Tha (võ Phật) và Sadatte Kìa Tha (vua Phép và võ).

Hiện nay, theo lệnh của Thiên Đình, chư sư cho phổ truyền lá Thiên Thơ này để phổ độ chúng sanh, chứng minh sự hiện hữu của các thánh thần và trợ độ cho con người để quân bình đời sống tâm linh và văn minh vật chất và cung cấp một chìa khóa chính xác cho những người thực tâm muốn tìm hiểu và học hỏi các bộ môn siêu hình có liên hệ đến đời sống hữu hình của nhân loại cũng như luật trời và bộ máy thiên cơ và Tạng kinh Vô tự.

Muốn thực nghiệm về năng lực thần bí sơ khởi, người thọ pháp chỉ cần:
1/ Đối trước tượng Phật, tượng Chúa hay tượng của Giáo chủ mà mình tôn thờ hoặc trước quyển thánh kinh hay các kinh sách của Phật khấn nguyện thành tâm cầu xin học đạo của Thánh hiền và xin tự nguyện giữ các giới cấm: Không giết người (trừ trường hợp tự vệ) - Không trộm cướp - Không tà dâm - Không nói dối (để hại người) - Không uống rượu say sưa.
2/ Đốt lá linh phù đồ lại trong một ly nước lạnh và uống trọn. (bước này đã được sư Tổ Triệu Phước lược bỏ nhiều năm nay cho dễ dàng hơn.)
(Bước hai này không cần thực hiện vẫn linh ứng. Chỉ là giữ lại để làm tài liệu về cách điểm đạo của người xưa. Ngay cả việc uống ly nước cũng chỉ là giữ lại một chút hình thức lễ nghi, vì dù không uống ly nước cũng vẫn linh ứng.)
3/ Chắp tay cao trên trán (không tựa vào đầu) rồi niệm liên tục danh hiệu của Thượng đế hoặc danh hiệu một vị Phật mà mình tôn kính hoặc tôn danh giáo chủ của mình. Khoảng năm cho đến ba mươi phút, đôi cánh tay của hành giả sẽ tiếp nhận được một luồng thần lực chuyển động đôi tay hoặc kiết ấn, hoặc hạ xuống, hoặc vẹt đôi tay ra, hoặc uốn thân thể để lễ Chúa, lễ Phật hoặc dạy các vị thế YOGA xác thân… Hành giả cứ tiếp tục niệm danh hiệu Phật Chúa… trong tâm và theo dõi để chứng nghiệm. (Người thọ pháp hoàn toàn tỉnh táo 100%)
4/ Muốn nghỉ buông tay ra sẽ nghỉ.
5/ Sau này muốn tiếp tục học, chắp tay trên trán và niệm Phật hoặc Chúa sẽ tiếp tục được dạy: Thập bát ban võ nghệ – Các động tác thể dục thẩm mỹ – Các loại vũ Tây phương cũng như Đông phương – Các động tác YOGA xác thân – Tập khí công – Tham thiền v.v… tùy theo năng khiếu và sự ưa thích của hành giả.
6/ Tại Việt Nam từ năm 1974 đến nay1 đã có hơn năm ngàn thanh niên và thiếu nữ đã được học hỏi bộ môn mật truyền này.
7/ Hai năm qua tại Mỹ đã có trên một trăm bạn đạo dưới mười tuổi cho đến các cụ già trên 60 và nhiều bạn trẻ nam nữ đã tu tập theo mật giáo. Một số các bạn đạo đó đã được xuất hồn, thần nhãn, huệ khẩu v.v…
8/ Mọi lý thuyết được đề cập tổng quát trong tập sách này và nếu cần có thể liên lạc với soạn giả để hỏi thêm kinh nghiệm.
9/ Sau đó, người Thiên Chúa giáo cứ theo mười điều răn của Đức Chúa Trời và lần chuỗi cầu nguyện cũng như sống theo Thánh kinh khuyên dạy – Tịnh Độ Tông có thể niệm Phật A-di-đà, tụng kinh bái sám và giữ ngũ giới cấm – Các Tông phái khác cứ theo giáo luật của Tông phái mình mà sống đúng luật đạo. Lần lượt học giả sẽ được chứng nghiệm rất nhiều nguyên lý vô hình tùy theo sự phát tâm của họ trên đường đạo.
10/ Lá linh phù này hoàn toàn linh hiển, phải thực tâm thành kính và chớ khá dị nghị sẽ không tốt cho người giỡn cợt.

--------------------------------------------------
1Thời điểm mà cư sĩ Đức Quý biên soạn cuốn sách này, tức là năm 1984. Tính đến năm 2024, đã có ít nhất mười triệu người thọ pháp điểm đạo tu tập Mật Pháp, từ các cấp tướng lãnh quân đội, quan chức, cho tới các nhà khoa học, bác sỹ, thương gia, tu sĩ các tông phái và bình dân bá tánh trong và ngoài nước.
Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ MẬT GIÁO


Vì sao phái này có danh xưng là Bí Mật Phật Giáo, lược gọi là Mật Giáo? Có những lý do sau đây:

I. GIÁO CHỦ BÍ MẬT
Vị giáo chủ của tông phái này không phải là Đức Phật Thích Ca như một số người lầm tưởng mà chính là Pháp Thân của Đức Thích Tôn, tự là Đức Đại Nhật Như Lai hay còn gọi theo Phạn âm là Đại Tỳ-lô-giá-na Phật. Nhưng Đại Nhật Như Lai hay Đại Tỳ-lô-giá-na Phật (MAHAVAIROCANA) là vị nào? Các tông phái Đại Thừa cũng như Mật giáo đã giải thích Phật có đến 3 thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.

1. Pháp Thân Phật: Theo tiếng Phạn là VAIROCANA BUDDHA thường được dịch là Đại Nhật Như Lai, biểu tượng nhân cách cho Pháp Thân của chân lý vốn sáng rực rỡ như mặt trời hư không bao la. Ngài ngự ở thế giới HOA TẠNG TRANG NGHIÊM (KUSUMATALA. GARBA. VYUHALAMKARA. LOKADHATU) thế giới được kết dệt bằng một ngàn cảnh hoa sen. Trong truyền thống Đại Thừa, những kinh điển siêu việt tri kiến1 như HOA NGHIÊM (AVATAMKARA), PHẠM VÕNG (BRAHMAJALA) đều do ngài giảng thuyết, mà chỉ có bậc Đại Bồ Tát mới nghe và thấy Đức Phật hiện thân của chân lý này. Quốc độ của ngài được gọi là THƯỜNG TỊCH QUANG TỊNH ĐỘ.2


Pháp Thân Phật hay Đại Nhật Như Lai
hay Đại Tỳ-lô-giá-na Phật
(Mahavairocana)

Mặt khác, Pháp thân (DHARMAKAYA) còn là tự thể3 của hết thảy chư Phật và chúng sanh. Do Pháp thân mà các pháp có thể xuất hiện. Không Pháp thân sẽ không có thế giới, theo nghĩa này Pháp thân là bản thân yếu tính của hết thảy mọi loài, đã có từ trước. Pháp thân là Pháp Tánh4 (DHARMATA) hay Phật tánh (BUDDHATA). Cũng vì đó có Thiền Sư đã nói “Pháp thân chân thật của Phật như hư không, ứng vật hiện hình như trăng lồng bóng nước” hoặc “Trúc biếc xanh xanh đều là Pháp thân, hoa vàng rậm rạp chính là Bát-nhã”.5 Như vậy Pháp thân của Mật Giáo phù hợp với nền tảng đạo lý của các tôn giáo khác. Nền tảng đạo lý của tất cả các tôn giáo chính là chân lý của chân lý (SATYASYA SATYAN; THE TRUTH OF TRUTH).

Tất cả triết lý tôn giáo đều quy kết về một kiến giải6 duy nhất đó là minh kiến về nguyên lý nền tảng của tất cả vũ trụ. Nguyên lý đó là năng lực huyền diệu của tất cả vũ trụ, là nguyên lý của trời đất, đồng thời cũng là năng lực huyền diệu nằm kín trong tâm thức con người. Vì không thấy được nguyên lý đó nên con người mới trở thành đau đớn, khổ lụy và trôi nổi. Muốn giải phóng thân phận mình, muốn được giải thoát, con người phải đồng hóa, thể nhập7 với nguyên lý đó. Khám phá ra nguyên lý trong con người và vũ trụ, thể nhập8 làm một với nguyên lý ấy, đó là nền tảng của tất cả triết học của tôn giáo, đó là căn bản của tất cả khoa học. Làm thế nào để nhận thấy và thể nhập là một với nguyên lý đó? Câu hỏi này đã được mỗi một tôn phái triết học trả lời bằng những phương tiện khác nhau, nhưng tất cả các phương tiện khác nhau ấy đều dẫn về nền tảng duy nhất là một thái độ sống phù hợp với Đạo, với chân lý. Nguyên lý đó là thực tại tối cao, tối hậu mà triết học VEDANTA gọi là BRAHMAN, Thiên Chúa Giáo gọi là Thiên Chúa, Hồi Giáo gọi là ALLAH, Do Thái gọi là JEHOVAH, người Việt gọi là Ông Trời, Mật Tông gọi là Pháp Thân hay Đức Phật Đại Nhật, một số khác gọi là Đại Linh Quang9 v.v…

2. Báo Thân Phật. (SAMBHOGAKAYA) cũng gọi là Thọ Dụng Thân, là bản thân tâm linh của các Bồ Tát, được Bồ Tát thọ dụng10 như là kết quả do tu tập các Ba-la-mật.11 Các ngài tự mình thành tựu điều này tùy theo định luật nhân quả trên phương diện đạo đức và trong đây các ngài giải trừ trọn vẹn tất cả những sai lầm và ô nhiễm, thành tựu công đức tu hành trải qua ba đại kiếp12 mà được.

3. Hóa Thân Phật13 hay Ứng Hóa Thân hoặc Biến Hóa Thân (NIRMANAKAYA) phát sinh từ Đại Bi Tâm (MAHAKARANA) của chư Phật và Bồ Tát.
Bằng lý thể14 của Đại Bi15 mà các ngài hướng tới chúng sanh, các ngài không bao giờ thọ dụng những kết quả các hành vi đạo đức của mình. Chí nguyện thiết tha của các ngài là chia sẽ những kết quả này cho tất cả chúng sanh. Nếu có thể thay thế kẻ phàm phu chịu khổ não, Bồ Tát thực hiện ngay. Nếu kẻ phàm phu có thể được giác ngộ do Bồ Tát hồi hướng16 công đức của mình cho, ngài sẽ thi hành tức khắc.

Bồ Tát hồi hướng và chịu khó thay cho chúng sanh nhờ biến-hóa thân của ngài. Do đó trong tính cách không gian, Bồ Tát chia thân mình thành trăm nghìn ức vô số thân. Ngài có thể hóa thân làm những loài bò bay máy cựa,17 làm Thánh, làm Ma Vương, nếu ngài thấy đó là cơ duyên thích hợp để cứu vớt thế gian ra khỏi kiềm tỏa18 của vô minh,19 phiền não và đủ mọi thứ ô nhiễm, bất tịnh. Để có thể hiểu ý niệm Hóa thân, xin trích ra đây vài mẩu chuyện sau:

–Trong văn học Nhật Bản thường truyền tụng Bồ Tát Phổ Hiền hóa thân làm kỹ nữ. Sử chép người kỹ nữ ở đây là nàng Eguchi cùng thời với thiền sư Tây Hành (SAIGYO), một thi tăng dưới thời KAMAKURA.20 Khi Tây Hành, trên đường du thực đến vùng ở gần OSAKA, bấy giờ trời tối và không có nhà tá túc qua đêm. Sư đến kêu cổng Eguchi. Nàng từ chối không tiếp vì nhà chỉ có riêng mình. Tây Hành làm một bài thơ đưa vào:


Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát

“Khi tôi chưa bỏ cõi đời
Tim nàng cùng nên rắn
Giờ sao hất hủi tôi
Chỉ một đêm trần gian huyễn mộng”

Cử chỉ của nàng thật ra là nghĩa cử tốt đối với nhà thơ, không phải muốn làm khó dễ mà vì muốn bảo vệ danh tiếng của ông. Nữ thần biến mất. Nhà sư vân du21 này nghe tiếng vọng tuyệt vời của người phụ nữ lướt trên những ngọn sóng YODO (ĐINH XUYÊN). Lúc sư vừa nghe tiếng nhạc như bay bổng lên trời, sư nhìn thấy Đức Phổ Hiền ngự trên voi trắng có những tiên nữ tùy tùng, biến mất vào giữa đám mây lành rực rỡ.

–Ở Trung Hoa cũng thường thường truyền tụng chuyện Quan Âm Hóa Ngư Lam.22 Đời Đường, trong niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), vì muốn hóa độ dân chúng vùng Thiểm Hữu, Đức Quan Âm làm một thiếu nữ đẹp. Có nhiều thanh niên rắp ranh23 bắn sẻ.24 Nàng ra điều kiện: “Nếu các anh, ai học thuộc kinh Quan Âm nội trong một buổi chiều, tôi sẽ làm vợ người đó”. Sáng hôm sau, có 20 ứng viên đã học thuộc lòng kinh đó. Nhưng nàng lại nói không thể làm vợ nhiều người cùng một lúc như thế. Vậy ai có thể học thuộc kinh Kim Cang nội trong một đêm? Mười người trúng tuyển. Phải thi nữa. Lần này họ được ra điều kiện học thuộc bộ kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển trong 3 ngày. Chàng họ Mã là người duy nhất trúng tuyển. Nàng hứa làm vợ chàng. Khi hôn lễ đã được sửa soạn chu đáo, thiếu nữ bỗng ngã bệnh, dung nhan tàn tạ hư hoại, rồi chết ngay trước mặt các tân khách. Sau đó, một nhà sư dự lễ táng, thấy xương của nàng trở nên vàng ròng, sư mới nói với họ: Nàng không phải là người phàm. Do phương tiện (UPAYA) của Bồ Tát mà nàng hiện thân cho họ thấy. Đó là cho họ nghĩ đến chánh pháp để đừng làm các tội ác. Nói xong, sư bay bổng lên không.

Hình ảnh
Đại Bi Cứu-Khổ Cứu-Nạn Quảng Đại Linh Cảm Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát

–Một lần khác Đức Quán Tự Tại xuất hiện vào lúc Huyền Trang đang trên đường đi Ấn-độ. Huyền Trang được dạy đọc “Bát Nhã Tâm kinh25”. Mỗi khi gặp những gian nan và tận khổ vì bị bao phủ trong tuyết lạnh, bị thổi cuốn bởi những cơn gió lốc ào ạt và bị thú dữ thường xuyên đe dọa. Bồ Tát hiện thân làm một nhà sư bệnh hoạn, đọc bài kinh và chú Bát Nhã để trấn an nhà sư chiêm bái vĩ đại này của Trung Hoa. Sư thành tín tuân theo lời khuyên và cuối cùng nhờ đó đã có thể bình an đi tới vùng đất tâm nguyện.

Về thuyết tam thân của Phật giáo, các tông của Hiển Giáo luận rằng Đại Nhật Như Lai là Pháp Thân nên không có hình tướng và không thuyết pháp, chỉ có Báo Thân và Ứng Thân như Đức Phật Thích Ca mới có hình tướng và nói Pháp. Trái lại, Mật Giáo cho rằng: Chính Pháp Thân Phật thường trụ26 thuyết pháp nhưng vì thính chúng không có tai để nghe, không có mắt để thấy và thiếu trí để hiểu. Tam Mật27 của Đức Phật28 sẽ vĩnh viễn là bí mật, nếu không có phương tiện để dẫn độ. Một phương tiện dẫn độ như vậy phải bắt đầu từ “Gia Trì Lực” (ADHISTANA) chứ không do nỗ lực hữu hạn của hành giả.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
II. ADHISTANA:
Hán văn thường dịch là Thần Lực, Uy Lực hay Gia Trì Lực. Nó là năng lực, ý lực, tâm lực ở nơi một nhân cách lớn, người hay trời. Khi còn ở trên bình diện Trí (JNANA), thế giới không có vẻ thực chút nào, bởi vì hiện hữu hư huyễn của nó mà trí soi thấu quá đậm màu sương khói. Nhưng khi tiến tới khía cạnh ADHISTHANA của Bồ Tát Đạo29 chúng ta cảm thấy dường như mình đang nắm chắc cứng và vững. Đây là chỗ mà đời sống thực sự bắt đầu có ý nghĩa. Sống không còn là nhận định mù quáng của một thúc bách ban sơ30 vì ADISTHANA là một biệt danh của PRANIDHANA (Nguyện), hay nó chính là sức mạnh tâm linh tuôn ra từ “Nguyện” cùng với “Trí” tạo thành tinh thể của Bồ Tát Đạo. Sức gia trì không phải chỉ là sức mạnh muốn tự củng cố để loại ra những cái không phải nó. Đằng sau nó luôn luôn có một vị Phật hay một Bồ Tát, có con mắt tâm linh soi thấy bản chất của vạn hữu31 và đồng thời có chí nguyện hộ trì nó. Chí nguyện hộ trì chính là tình thương yêu và lòng hoài bão cứu vớt thế gian khỏi những mê hoặc và ô nhiễm. PRANIDHANA (Bản Thệ) là chí nguyện, là tình yêu, là hoài bão, được gọi là Vô Tận Tạng (AKSAYA).32

Trí và nguyện là những yếu tố thiết định33 Bồ Tát Đạo hay Phật Đạo thì cũng vậy. Nhờ trí, chúng ta như leo lên đỉnh trời Tam Thập Tam Thiên,34 rồi khi ngồi trầm mặc mà quán sát hạ giới và những hành vi của nó, thấy chúng tợ hồ như những đám mây chuyển động dưới chân mình, chúng là những khối quay cuồng của vọng động, nhưng không đụng chạm đến kẻ đang ngồi ở bên trên.
Thế giới của Trí thì trong sáng và vĩnh viễn an lành. Nhưng Bồ Tát không trụ mãi trong cảnh trầm mặc thiên thu ở bên trên cái thế gian vì đầy dẫy những sai biệt nên có những phấn đấu và đau khổ, bởi vì tim của ngài đau đớn khi nhìn cảnh tượng này. Bấy giờ ngài quyết định bước xuống giữa những giông tố của cuộc đời. Bản nguyện35 (PRANIDHANA) đã lập, uy lực (ADHISTANA) của ngài được gia36 cho những ai hướng về ngài, và mọi phương tiện (UPAYA)37 được tạo ra để dựng đứng dậy những ai cắm đầu vào trong mông muội38 và bị đắm chìm trong cảnh khống chế tột cùng.39 PRANIDHANA như là một khía cạnh của ADHISTANA, như thể là cái thang dẫn xuống, hay sợi dây nối liền giữa Bồ Tát (BODHISATTVA) và chúng sanh (SARVASATTA). Từ đó sinh ra hóa thân (NIRMANAKAYA), một thuật ngữ mà trong nhiều kinh điển Đại thừa cũng gọi là VIKURVITA, tức Trang Nghiêm Thần Biến.40

Gia trì được nhắc đến trong “GARDAVYAUHA” hay “AVATAMSAKA” cả hai được hiểu chung là “HOA NGHIÊM KINH” ở Trung Hoa. Theo truyền thuyết, kinh được nói lúc Phật thâm nhập thiền định ngay sau khi vừa thành đạo. Bản Phạn GANDAVYUHA tường thuật kỹ cuộc hành trình của Thiện Tài Đồng Tử (SUDHANA), dưới sự chỉ đạo của Bồ Tát Văn Thù. Thiện Tài đi cầu đạo vô thượng,41 trải qua từ vị thầy này đến vị thầy khác có trên 50 vị lãnh đạo tinh thần, mục đích là học Bồ Tát Hạnh.42 Sau cùng khi Thiện Tài khẩn cầu Bồ Tát Di Lặc (BODHISATTVA MAITREYA) giảng dạy cho, Bồ Tát tán dương Thiện Tài đã có quyết tâm tìm cầu đạo lý cứu cánh43 của Phật pháp.

Bồ Tát Di Lặc mở cửa lầu các “Tỳ Lô Trang Nghiêm” bằng cách khảy móng tay, Thiện tài hết sức hăm hở bước vào. Được gia trì bởi uy lực của Bồ Tát Di Lạc, Thiện Tài thấy một quang cảnh hiện ra trước mắt, Lạ thay!

“Lầu các rộng rãi bao la cũng đồng như hư không. Mặt đất được lát bằng vô số cẩm thạch đủ loại và ngay giữa lầu các có vô số cung điện làm bằng bảy báu.44 Lại có vô số phướn, lộng, lưới, màn buông; vô số chuông, hoa, chim, cây báu… tất cả đều cực kỳ trang nghiêm. Trong lầu các, cũng huy hoàng tráng lệ như lầu các chính. Ở đây, không có gì cản trở lầu các này hỗn nhập lầu các nọ, riêng và chung, hỗn giao toàn diện. Một lầu các bao hàm tất cả và tất cả bao hàm một."

Thiện Tài còn tự thấy mình có trong tất cả các lầu, đồng thời thấy đủ các cảnh giới tự tại45 bất khả tư nghì46 về cuộc đời của Bồ Tát Di Lặc. Tức là thấy Bồ Tát Di Lặc vừa mới phát tâm cầu chứng Vô Thượng Bồ Đề… chứng các Trụ Địa,47 được Như Lai thọ ký48 cho Vô thượng Bồ Đề lúc nào và ở đâu.

Hình ảnh
Bồ Tát Di Lặc

Thiện Tài lại thấy trong mỗi lầu các, Bồ Tát được một vị thế giới chủ49 khuyến thỉnh50 dìu dắt hết thảy chúng sanh tu hành thập thiện;51 được một vị Hộ Thế52 khuyến thỉnh làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh; được Đế Thích (SAKRA)53 khuyến thỉnh quở trách những bản năng khát dục của chúng sanh; được Phạm Thiên54 khuyến thỉnh mà tán dương vô lượng phước báo của hạnh thiền định; được trời Dạ-ma (YAMA)55 khuyến thỉnh mà tán dương vô lượng phước báo của hạnh nhiếp tâm,56 được trời Đâu Suất (TUSITA) khuyến thỉnh mà tán dương các công đức của Bồ Tát sẽ thành Phật trong một đời nữa, được trời Hóa Lạc (NIRMITA) khuyến thỉnh mà hiện các biến hóa thân cho Thiên chúng thấy; được trời Tha Hóa Tự Tại (VASAVARTIN)57 khuyến thỉnh mà diễn thuyết Phật Pháp cho những chư Thiên tùy tùng.

Thiện Tài thấy, hoặc Bồ Tát Di Lặc hiện thân làm Ma Vương58 mà thuyết hết thảy các pháp đều vô thường, hoặc vì Phạm Vương59 mà thuyết thiền định, vô lượng hỷ và lạc; hoặc vì A-tu-la (ASURA)60 mà lặn vào biển Đại Trí để biết rằng hết thảy pháp vốn như huyễn,61 giảng cho A-tu-la vương và quân đội A-tu-la hãy đoạn trừ hết thảy kiêu mạn, cuồng ngạo và say sưa. Hoặc Bồ Tát phóng Đại Quang Minh62 vào cõi chết để cứu vớt chúng sanh khỏi các khổ não của địa ngục, hoặc thấy Bồ Tát ở thế giới ngạ quỷ bố thí các ẩm thực để cứu rỏi sự đói khát của chúng ngạ quỷ, hoặc thấy Bồ Tát trong cõi súc sanh đặt đủ các phương tiện để điều phục chúng, hoặc thấy Bồ Tát giảng pháp cho chúng hội chư Thiên ở trong các cõi trời Hộ Thế, trời Đâu Suất, trời Dạ Ma, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại và trời Đại Phạm; giảng cho các chúng hội Long Vương (NAGA),63 Dạ-xoa (YAKSA),64 La Sát (RAKSA),65 Càn-thát-bà (GANDHARA),66 A-tu-la (ASURA), Ca-lâu-la (GARUDA),67 Khẩn-na-la (KINNARA),68 Ma-hầu-la-già (MAHARAYA),69 Nhân (MANUSYA),70 và Phi Nhân.71 Hoặc thấy Bồ Tát giảng pháp cho các chúng hội Thanh Văn (SRAAVAKA),72 Duyên Giác (PRATYEKABUDDHA),73 Bồ Tát (BODHISATTVA) từ mới phát tâm cho tới địa vị cứu cánh74… Hoặc thấy Bồ Tát Di Lặc, cùng với các Bồ Tát sẽ thành Phật trong một đời nữa, tán dương môn Quán Đảnh (ABHISEKHA) của hết thảy chư Phật. Lại thấy Bồ Tát nhập Tam Muội75 mà thị hiện các năng lực thần biến.76

Thiện Tài lại thấy một tòa lầu các đặc biệt cao rộng và trang nghiêm huy hoàng nhất, tráng lệ vô song, ở giữa hết thảy những tòa lầu các được nhìn thấy bên trong lầu các Tỳ-lô-giá-na. Trong tòa lầu các vô tỉ77 này, Thiện Tài thấy cả tam thiên thế giới trong chớp mắt, gồm cả trăm ức cõi trời Đâu-Suất (TUSITA) và trong mọi thế giới đó lại thấy Bồ Tát Di Lặc giáng trần đản sinh. Đế Thích, Phạm Thiên và các thiên thần đang kính lễ Bồ Tát…

Thiện Tài lại thấy có vô số Bồ Tát trong vô số thế giới, đang đi hay ngồi, đang làm các công việc, đang mở rộng lòng từ bố thí, đang viết các luận làm lợi ích chúng sanh, đang thọ trì các luận với sư trưởng, đang hộ trì các luận cho những thế hệ tương lai, đang sao chép, đang tụng đọc, đang hỏi han, đang sám hối mỗi ngày ba thời và đang hồi hướng phước báo cho giác ngộ, hoặc đang lễ bái vì hết thảy chúng sanh… Lại thấy vô số mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đủ loại tinh hà, sáng tỏ cả mười phương.

Lại thấy Bồ Tát Di Lặc, như đã từng tu các hạnh Bồ Tát trong quá khứ, hoặc thấy bố thí thân hay hết thảy sở hữu. Ngài giải thoát những ai bị giam giữ trong tù ngục, Ngài cởi thả những ai bị trói buộc, Ngài chữa trị những bệnh tật, dắt dẫn những ai lạc lối đến con đường thẳng. Khi làm thuyền trưởng, Ngài giúp mọi người vượt qua biển cả. Khi làm phu xe, Ngài đưa mọi người qua những hiểm nạn; khi làm một Đại Hiền Triết, Ngài giảng đủ các luận; khi làm một hoàng đế, Ngài tu hành thập thiện và khuyến dạy mọi người cùng hành theo, khi còn là một y sĩ, Ngài cứu chữa đủ các chứng bệnh. Đối với cha mẹ, làm một người con hiếu, đối với bằng hữu làm một người bạn trung tín.

Sở dĩ Thiện Tài được thấy vô số những thần thông biến hóa bất khả tư nghì vì đã được con mắt thanh tịnh của Bồ Tát đã vào Sơ địa và nhất là nhờ năng lực gia trì của Bồ Tát Di Lặc.

Như vậy theo thuật ngữ của Phật giáo Đại thừa, gia trì lực là năng lực bí mật phát khởi từ Chư Phật và Chư Tôn Bồ Tát có thể được bộc lộ qua thân, khẩu, ý của chúng sanh bằng các phương tiện dẫn độ của Mật Giáo: Phép Quán Đảnh. Nhờ phép bí nhiệm78 này, chúng sanh sẽ lần lượt biết được cảm ứng toàn vẹn của Đức Phật và từ đó chúng sanh đạt được kết quả “Phật trong ta, ta trong Phật”, và chúng sanh mới có thể tu tập và chứng được Phật quả ngay nơi nhục thân này.

Thế nên Mật tông cho rằng có đến 2 loại giáo pháp: Hiển Giáo và Mật Giáo. Những lời dạy bảo của ứng và hóa thân như Đức Phật Thích Ca thì tùy theo căn cơ79 của từng chúng sanh mà chỉ dạy lần. Đó tức là những pháp môn quyền thiệt80 của Hiển Giáo. Còn Mật Giáo là những pháp môn mầu nhiệm, bí mật mà những vị Bồ Tát nhờ trí tuệ sáng suốt, mới cảm thông và thọ lãnh được với Pháp thân Phật, nhờ ngài Bồ Tát Kim Cang Tát-đỏa nhờ phép “Quán Đảnh” mà thừa tiếp81 phép mầu nhiệm của Đức Phật Đại Nhật.

(còn tiếp)

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
III. PHÉP QUÁN ĐẢNH (ABHISEKHA):

Theo thông tục ở Ấn “Quán Đảnh” là dùng nước rưới lên đầu. Như vị Thái Tử khi thọ phong vương vị, vua cha dùng nước bốn biển hay nước ở bốn sông lớn, đựng ở trong 4 chiếc bình quý rồi tuần tự rưới lên đảnh của kẻ thọ chức. Kế đó lại xướng lên 3 lần, đại ý nói kẻ đó đã thọ chức xong và sẽ cai trị bốn phương thiên hạ.

Theo Mật Giáo, “Quán” là dùng nước đại bi hay ánh sáng đại bi của chư Phật mà gia bị.82 “Đảnh” có nghĩa là tăng thượng, là khiến cho ta bước lên địa vị cao. Phương pháp Quán Đảnh của Mật Giáo, chính là một trong những phương tiện dẫn độ83 để hành giả tiếp nhận được năng lực gia trì của Phật và Chư Tôn.

Có nhiều cấp bậc “Quán Đảnh”.

1. Thọ Minh Quán Đảnh. Có nghĩa là vị đệ tử, lúc theo vị A-xà-lê84 để thọ học pháp tam mật thì được làm lễ quán đảnh và kẻ ấy từ đây đã kết duyên với Phật đạo, nghiệp chướng lần lượt sẽ tiêu trừ.

2. Sự Nghiệp Quán Đảnh. Tức là thọ nhận đầy đủ các chi phần quán đảnh của Mật Giáo để lên ngôi “Quán Đảnh Sư”. Kinh Đại Nhật viết “Này Bí Mật vương! (Kim Cang Thủ Bồ Tát), vị A-xà-lê kia nếu thấy chúng sanh kham làm pháp khí:85
–Có sự tin hiểu sâu rộng
–Xa lìa trần cấu86
–Mạnh mẽ siêng năng
–Thường nghĩ đến việc lợi tha87
Nếu gặp người hội đủ bốn điều kiện trên, vị A-xà-lê nên tự đến khuyến phát88 mà bảo rằng: “Này Phật tử! Đạo pháp Đại Thừa chân ngôn đây, ta vì bậc Đại Thừa căn khí89 mới khai diễn, ông nên dùng trí tuệ phương tiện để thành tựu, tất sẽ chứng được đạo quả.”

Kinh Kim Cang Đảnh cũng nói: “Vị A-xà-lê nếu thấy người có thể làm pháp khí, chất trực hòa nhã, trí tuệ sáng suốt, lòng tin bền chắc tuy kẻ đó không cầu pháp và vào đạo tràng,90 vị “Quán Đảnh Sư” nên kêu mà bảo rằng: Này Thiện Nam Tử! Nghi thức bí tạng91 mật ngữ92 của Đại thừa khó được nghe, ông muốn thành tựu trí tuệ chân thật của Như Lai, phải một lòng tu hành pháp này, tất sẽ chứng được Nhất Thế Chủng Trí."93

3. Bí Ấn Quán Đảnh. Vì thời gian gấp rút, vị A-xà-lê không kịp làm đủ các phép Quán Đảnh, chỉ đem bí ấn của ngôi A-xà-lê mà truyền thọ cho đệ tử. Khi trao bí ấn94 này, chư Phật đều dùng tay mà xoa đầu người được truyền thọ.

4. Cam Lồ Quán Đảnh. Lúc làm phép này vị A-xà-lê dùng nước đựng trong 5 chiếc bình rưới lên đảnh đệ tử. Chư Như Lai cũng ứng theo đó dùng cam lồ trí thủy95 để gia bị cho người thọ pháp. Khi làm phép này, tội chướng của kẻ đệ tử liền được tiêu trừ và lần lượt sẽ được quả giải thoát của Chư Phật.

(Còn tiếp)

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
IV. CÁC KÝ HIỆU TẠO PHÁP THUẬT: ĐARANI-PHÁP ẤN-LINH PHÙ

1. Đarani: Có nghĩa là trì (giữ), tổng trì (giữ tất cả) hay năng trì (khả năng gìn giữ). Gìn giữ ở đây là gìn giữ mọi thiện duyên, thâu hoạch những pháp lành, bảo vệ những chủng tử96 tốt. Bền tâm vững chí trước mọi thử thách của kiếp này cũng như của những kiếp sắp đến là ý nghĩa chánh của chữ Đarani. Đarani còn có một ý nghĩa khác là năng già: Có sức che lấp những chủng tử xấu, những điều chẳng lành, mọi ác niệm đều bị chặn đứng không thể khởi xa được. Đarani như vậy là một trợ lực, một phương tiện thiện xảo giúp chúng ta tham thiền dễ dàng khỏi bị vọng động. Đarani có 4 loại:
-Văn Đarani: Giúp chúng ta luôn nhớ đến Phật pháp.
-Nghĩa Đarani: Giúp chúng ta nhớ nghĩa lý của Phật pháp.
-Chú Đarani: Hay chơn ngôn giúp chúng ta trừ khử các sự độc ác cùng với mọi phiền não chướng97 hay sở tri chướng.98 Chú Đarani thường đi chung với Pháp Ấn và Linh Phù. Đarani là ngữ mật, Pháp Ấn là thân mật, còn Linh Phù là ý mật.
-Nhân Đarani: Hay Đarani cao nhất của Mật Giáo, chính ngay mình biến thành thật tướng99 của các pháp: nhẫn nhục, an trụ,100 thân tâm siêu thoát,101 ở đây phương tiện Đarani đã biến thành cứu cánh Niết Bàn.102
Chú và Nhân Đarani là phương tiện của Mật Giáo, còn Văn và Nghĩa Đarani là phương tiện của Hiển Giáo.

Người tu theo Mật Giáo, Khẩu thì đọc những câu chơn ngôn. Chú Đarani có sức huyền diệu vô cùng tận, vốn của chư vị thành đạo, Phật, Bồ Tát, và các Thánh Thần truyền trao cho loài người. Chơn ngôn tông rất chú trọng về huyền lực của những câu chơn ngôn, tức là câu phép tóm tắt và yếu lược. Đarani gốc ở Thiên Trước,103 được lưu truyền từ ngàn xưa. Người ta không dịch chú Đarani ra tiếng bản xứ, e mất sức mạnh đi, nên cứ theo tiếng Phạn mà đọc. Người ta gom vào một câu niệm các sức linh hoạt nhiệm mầu trong vũ trụ. Phật nhờ hoàn toàn tinh thông nên ra công thu nhặt và sắp xếp các sức linh ấy mà truyền trao cho tín đồ. Ngoài ra chú còn là những kí hiệu, lời hứa khả104 của chư vị Phật Thánh đã lập nguyện độ sanh cho những ai phát tâm chí thành trên đường đạo đức. Đó là những nguyện lực mà các Ngài để lại trước khi tịch diệt. Ai đọc trúng những biểu hiệu đó và có tâm ý thực hiện theo hạnh đạo của các Ngài, các Ngài sẽ gia trì sức linh ấy đến hỗ trợ và ủng hộ cho. Người ta niệm chơn ngôn để cầu thỉnh Phật Thánh hộ niệm gia trì và triệu thỉnh chư vị thần linh, sứ giả của Phật Thánh đến để giúp mình trong những dịp cần yếu.

2. Pháp Ấn (YANTRA). Về thân, bàn tay bắt thành Pháp Ấn làm cho nhà Đạo mật tiếp với Phật Thánh và tạo được huyền năng pháp thuật mạnh mẽ vô cùng. Kẻ bắt tay Ấn cũng ví như thâu càn khôn105 vào tay mình: Ngón cái chỉ về không gian. Hư không, ngón trỏ. Ngón giữa, lửa. Ngón áp út, nước. Ngón út chỉ về đất.


Biết niệm chơn ngôn và bắt Ấn thì kết quả không thể nào sai chạy. Chữ Ấn người Pháp dịch là “Sceau”, con dấu. Ấn là quyết định xong rồi, cũng như kẻ đã quyết định, ký tên và đóng dấu vào tờ hiệp ước. Có nhiều cách bắt Ấn khác nhau và mỗi đạo Ấn có một công dụng riêng, tùy theo sở cầu của nhà đạo mà ám tay quyết. Có khi một tay Ấn mà dùng nhiều việc. Từ việc lớn đến việc nhỏ và bất kỳ giờ nào, dùng Ấn và niệm chơn ngôn cũng được hết. Gặp kẻ hung bạo Ấn mà trừ. Có yêu quái tà mị, Ấn mà đuổi. Xẩy ra nạn rủi, Ấn mà thoát. Triệu thỉnh quỷ-thần Ấn mà gọi. Mong ước điều chi Ấn mà xin. Thức dậy, ăn uống, mặc áo, đi đứng, tụng kinh, nhà đạo cũng dùng Ấn và Chú nguyện cho mình và chúng sanh.









3. Linh phù: Về ý thì tham thiền. Nhờ tham thiền nhà Đạo hiểu những luật vĩ đại trong trời đất. Người sắp xếp những luật ấy theo trật tự của chúng nó, làm ra linh phù, định đặt các phép và bài trí ăn khớp với các sức mạnh tự nhiên chung quanh ta từ lớn chí nhỏ.

Linh phù theo con mắt của kẻ bất tín106 là một sự dị đoan,107 theo người thiện niệm108 là một vũ trụ thu hẹp mà nơi ấy Đức Đại Nhật Phật ngự trên trước và ở trung tâm và xoay vần chung quanh là chư vị Thánh, Thần hầu cận theo Ngài. Thấy linh phù tức là thấy biểu tượng của Phật, bao giờ tư tưởng về Phật cũng ở luôn nơi mình.

Nhờ có đức tin đối với các vị thờ trong linh phù, nhờ lời cầu nguyện và khấn xin, nhờ hoài bão học tập theo hạnh lành của Phật Thánh; sức linh của chư vị sẽ biểu hiện nơi mình, bây giờ nhà Đạo muốn chi cũng được và thực hiện được nhiều việc kỳ bí thần thông để cảm hóa chúng sanh. Những bậc tu theo linh phù cần phải dày công nghiên cứu và tham thiền về nó, vì đây là một môn học rất rộng và khó khăn. Cho đến mấy vị cao tài về Chơn Ngôn cũng chưa dễ thông suốt hết các đạo linh phù.

Đarani, Pháp Ấn, Linh Phù là những phương tiện thiện xảo, những kí hiệu mật truyền để tạo pháp thuật nhiệm mầu, nói chung là dùng để giữ gìn thiện pháp và ngăn ngừa ác pháp.

Nhà học đạo thấu được ý nghĩa của Đarani, Pháp Ấn và Linh Phù thì tay bắt ấn, miệng đọc chú, ý quán tưởng linh phù thì thấy được ba cái mật: thân mật, khẩu mật, ý mật và hành theo 3 cái mật đó mà giữ mình và cứu đời. Người còn truyền dạy cho hàng đệ tử nữa. Trong lúc hành 3 cái mật đó, nhà Đạo có thể ở vào một cảnh với Phật là cảnh Bồ Đề và đạt được nhiều quyền năng pháp thuật nhiệm mầu và thông đạt được ý nghĩa của Phật trong ta, ta trong Phật tức là hiệp một với Thượng Đế trong phép nhập định Du già của Mật Giáo.



-Đây là hai lá Khăn Ấn của Mật Tông Phật giáo Nam Tông. Có giá trị như là một Đại Linh Phù hộ mạng, may mắn, hạnh phúc, trừ tà và tiến triển tâm linh (Hình 1và 2).
-Đây là lá Phép hội dùng để vô kim có giá trị trừ tất cả ếm đối, thư phù và các tai họa do chư Thiên tác hại (Hình 3).
-Đây là lá Phép của tông phái chư vị Năm Ông (Năm Phương Phật và Năm Đạo Binh Trời) dùng để tĩnh tâm tham thiền (Hình 4).


Lá cờ Phép, một loại linh phù đem lại sự may mắn cho sức khỏe, thể xác, đời sống và tâm linh


Linh phù dùng để tăng thêm tuổi thọ


Linh phù dùng để ngăn ngừa trộm cướp và các loại thú dữ


Linh phù trừ bệnh quỷ ám


Linh phù Hộ-mạng Tam Đin


Linh phù này có công năng bảo vệ nhà cửa, tài sản


Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
V. ĐÀN PHÁP:
Mandala có nghĩa là Đàn hay Đạo Tràng, rắc rối hơn nhiều. Trong kinh Đại Nhật, Kim Cang Thủ Bồ Tát hỏi: “Bạch Thế Tôn: sao gọi là MANDALA?” Đức Phật bảo: “Phát sanh chư Phật gọi là MANDALA, không chi hơn được, pháp vị109 không chi sánh bằng gọi là MANDALA. Tiếng MANDALA thường không được phiên dịch, nhưng cũng có nói phiên dịch là Đàn hoặc gọi là Luân Viên Cụ Túc.

Ở Tây Vực, khi tế trời, chỗ đất được dọn sạch sẽ và bằng phẳng nơi đó được gọi là Đàn. Chữ Đàn như vậy chưa diễn tả đủ ý nghĩa của chữ MANDALA của Mật Giáo vì nó còn thiếu nhiều nghi thức khác như Khế Ấn,110 Tam Mật,111 Tứ Trí112 v.v… Còn chữ Luân Viên Cụ Túc có nghĩa là cái bánh xe, nó gồm luôn đầu trục, chốt, căm, vành, niền xe, lại còn thêm chữ “Cụ Túc” để chỉ “không chi hơn” “pháp vị không chi sánh bằng”. Như vậy Luân Viên Cụ Túc diễn tả được đầy đủ ý nghĩa của chữ Phạn MANDALA. Nhưng người ta ít gọi là Luân Viên Cụ Túc vì nó quá dông dài.

Vì những lý do vừa kể chữ MANDALA ít khi được phiên dịch. MANDALA có nhiều thể tướng113 khác nhau. Kinh Đại Nhật nói có 4 loại MANDALA: Đàn vuông, đàn tròn, đàn tam giác, đàn hình bán nguyệt. Còn Kinh Kim Cang Đảnh thì nói có 5 loại: Đàn tròn, đàn vuông, đàn tam giác, đàn hình hoa sen và đàn hình kim cang.

Theo Kinh Đại Nhật thì đàn vuông phối hợp với Địa Đại; đàn tròn phối hợp với Thủy Đại, Không Đại; đàn tam giác phối hợp với Hỏa Đại; đàn bán nguyệt phối hợp với Phong Đại. Đàn vuông có nghĩa là bình đẳng vì tướng đất vuông. Đàn tròn có nghĩa là viên mãn vì hư không và nước tròn. Đàn tam giác có nghĩa là hàng phục vì tướng lửa bốc lên hình tam giác. Đàn bán nguyệt có nghĩa là diệt trừ tai nạn vì gió hay xô ngã các vật. MANDALA còn có nhiều danh gọi khác nhau nữa. Đàn tràng có những bức vẽ Chư Tôn, Bồ Tát cầm đao, kiếm, bánh xe… gọi là bình đẳng MANDALA. Đàn tràng có những tôn tượng do tô đắp, khắc chạm hoặc do đúc mà thành gọi là Sự Nghiệp Oai Nghi MANDALA. Đàn tràng có những chủng tử tượng trưng cho Chư Tôn bên tôn vị, gọi là pháp MANDALA.

Sở dĩ gọi là Đại MANDALA vì những tôn tượng đó do 5 màu sắc chánh: Vàng, Trắng, Đỏ, Đen, Xanh; các màu ấy lại theo thứ lớp phối hợp với ngũ đại là Đất, Nước, Lửa, Gió và Hư Không.

Gọi là Bình Đẳng MANDALA vì Chư Tôn tiêu biểu cho các loại hữu tình,114 Đao, Kiếm, Bánh xe tiêu biểu cho loài phi tình.115 Đây có nghĩa là ngũ đại: Đất, Nước, Gió, Lửa lan khắp hư không để thành lập các loại hữu tình và phi tình một cách bình đẳng.

Gọi Sự Nghiệp Oai Nghi MANDALA vì những tượng do đúc hoặc chạm ấy thầm nói lên sự nghiệp và oai nghi của Chư Phật và Bồ Tát một cách sống động.

Gọi Pháp MANDALA vì những chủng tử tự của Chư Tôn có tính cách quy tắc116 và quỹ trì.117

MANDALA hay Đạo Tràng như vậy là nơi thờ cúng, chú nguyện và tu hành của những tu sĩ Mật Giáo. Đạo Tràng thay đổi rất nhiều theo từng loại kinh điển và các nghi điển thần bí. Có lúc người ta đắp Đàn bằng đất trộn với bột hương thơm, có khi người ta vẽ những bức tranh rộng lớn, trên đỉnh thượng có hình Phật Đại Nhật Như Lai, thứ nữa là vẽ hình của Chư Tôn Bồ Tát, tùy theo cấp bậc để thờ phượng. Với Chư Tôn Mật Giáo có thuyết giảng về quyền năng pháp thuật của riêng từng vị một. Mỗi vị có tay Ấn, tay Quyết riêng biệt và đều có vẻ riêng rẽ trên mỗi bức họa để khi Pháp sư cầu cúng đến vị nào là cứ y theo kiểu vẽ mà ám tay Quyết. Có nơi dùng kính hình tròn, hình vuông… để làm Đàn Pháp.

Cảnh vật nơi cầu nguyện, tham thiền cũng dùng làm biểu hiệu để trợ lực và tiếp ứng cho nhà Đạo để đạt được sở nguyện. Cuộc đất, đền thờ, phương hướng, ngày giờ, y phục, màu sắc, thức ăn, đồ cúng, đồ chưng cũng có ý nghĩa và tác dụng linh thiêng đối với tâm ý nhà Đạo và tùy thuộc vào từng loại nghi điển.

Để dứt trừ những ảnh hưởng tội lỗi, lễ sám118 được gọi là Tức Tai Pháp “SOKUSAIHO”, để làm gia tăng hạnh phúc, có Tăng Ích Pháp “ZOYAKOHO”, để kêu gọi những quyền năng thiên có Câu Triệu “KUYO”, để bẻ gãy những ác cảm của địch thủ và kẻ thù, có hàng phục “GOFUKU”, để cầu Phật và Bồ-tát gia hộ thì có Kính Ái Pháp “KYOAIHO”, và để kéo dài tuổi thọ thì có Diên Mệnh Pháp “YEIMMEIHO”. Tất cả những nghi quỹ119 thần bí này được coi như hoàn toàn hiệu nghiệm mang lại những gì mà hành giả ước ao.

Tóm lại tất cả những nghi quỹ nói trên là những biểu hiện cho ngôi thứ và sự xoay vần trong hoàn vũ120 và ảnh hưởng đến cuộc đời ta. Dù vậy sự phức tạp của việc bài biện khi hành lễ có thể được giản dị hóa mà hành giả Mật Giáo vẫn đạt tới các sự anh linh121 trong vũ trụ, đó là biết thể hiện hạnh đạo của mình cho phù hợp với nguyện lực của Trời Phật.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
VI. PHÉP HỘ MA:
Hộ ma, Trung Hoa dịch là hỏa thiêu, hỏa tế để chỉ cho cảnh lửa cháy lẫy lừng hay sự cúng tế bằng lửa. Hộ ma còn có nghĩa là thiêu ám để chỉ cho lửa trí tuệ thiêu đốt nghiệp. Về phép hộ ma, trong Du-già122 Hộ Ma Nghi Quỹ123 nói: “Tức tai Kiết Phật Ấn.124 Tăng ích cờ xí báu.125 Hàng phục Kim Cang nộ.126 Câu triệu Kim Cang câu.127 Thỉnh mời liền ứng nhau. Kính ái liên hoa bộ.128 Năm Du-già như thế nên làm phép Hộ ma”.

Có 2 loại Hộ ma: Ngoại Hộ ma và nội Hộ ma.
-Ngoại Hộ ma là dùng phép hỏa tế cúng dường tất cả thân Phổ Môn129 để tăng ích thế lực không thể nghĩ bàn của mật chú và khiến cho chân ngôn mau được thành tựu.
-Nội Hộ ma là dùng lửa trí tuệ đốt sạch cỏ rác phiền não bên trong, cần phải lấy Bồ Đề tâm130 làm động lực căn bản.

Trong Kiến lập Hộ ma nghi quỹ có nói: “Vì nghiệp chướng che lấp, quán nơi môn chữ A,131 dùng trí tuệ mãnh liệt, tưởng chung quanh thành lửa, như kiếp hỏa lẫy lừng, thiêu đốt nghiệp phiền não, và củi gỗ vô minh, không còn sót vật chi, tuôn chảy bạch cam lồ,132 tươi mát mười phương cõi, những nhiệt não133 chúng sanh, giúp lớn mầm Bồ Đề, thứ lớp sanh các chữ, đây chính là pháp thân, bí mật nội hộ ma”.

Thật sự pháp ngoại hộ ma chỉ có tác dụng diệt tội sanh phước trong sanh tử giới,134 phép nội hộ ma thì có công năng dứt trừ phiền não khiến cho siêu thoát luân hồi. Nếu bậc chơn ngôn hành giả chỉ làm phép ngoại hộ ma theo thế đế135 mà không hiểu ý nghĩa về nội hộ ma thì cũng đồng với hạng người thờ cúng lửa mà thôi.

Tóm lại trên hết thảy Chư Tôn Bồ Tát, Mật Giáo thờ Pháp Thân của Đức Thích Tôn hay còn gọi là Đại Nhật Như Lai, Phạn ngữ là Tỳ-lô-giá-na Phật (MAHAVAIROCANA). Tổ chức của giáo đoàn Mật Giáo cũng chia thành cấp bậc để tôn xưng lẫn nhau. Nhưng các thuật bí truyền đều đóng cửa cài then, dấu kín cho những người ngoại đạo không biết đến.

Sở dĩ như thế là vì Mật Tông là Tâm pháp bí truyền hay còn được gọi là mật pháp tâm truyền, vì đây là một pháp môn bí nhiệm, không được truyền ra quảng đại quần chúng và khi truyền pháp này các hành giả chỉ dùng lối khẩu khẩu tương truyền.

Xưa nay các tâm pháp thường thường là bí pháp và ít khi được phổ truyền. Vì sao tâm pháp hay mật pháp lại phải bí truyền?

Ngày xưa, vào học đạo, khi một vị Thầy hay Tổ muốn truyền Tâm pháp cho đệ tử, thường vị ấy phải theo dõi học trò, xem trong số các đệ tử có người nào hạnh tốt, nghiệp trần nhẹ rồi và có tâm trí quyết cầu giải thoát, dứt bỏ trần ai, thì sẽ gọi riêng đứa đó lại, dùng lối khẩu khẩu tương truyền để dạy riêng cho nó, trao cho nó cái bí pháp quý giá để nó tu luyện cầu giải thoát.

Mục đích lựa chọn như vậy là để ngăn ngừa vì tâm pháp là báu vật, nếu trao nhằm kẻ không xứng đáng hoặc không biết giữ gìn, chẳng khác nào vứt báu vật xuống sông biển mà thôi.

Nếu hành giả thọ tâm pháp mà nghiệp còn nặng, trần còn mê, tánh còn nặng trược, tâm chưa muốn vứt bỏ, ý chưa quyết giải thoát, thì nhận được pháp báu phỏng có ích gì? Chỉ khiến phá pháp hư hoại đi thôi! Dù nếu không giữ tính cách bí truyền, những nghi thức hành lễ của Mật Giáo cũng mang nhiều bí ẩn phức tạp, nếu có phô bày ra cho thiên hạ trông thấy thật đấy, nhưng người ngoài cũng khó mà lường được ý nghĩa trình bày.

Vì các lý do trên, tông này mới có danh gọi là “Bí Mật Phật Giáo” gọi tắt là Mật Giáo. Mật Tông còn có một danh gọi khác là Chơn Ngôn Tông vì là biểu thị cho con đường của nguyên ngôn, ở đây thay vì ngôn ngữ nói mà lại chính là con người nói. Con người nói bằng nguyên ngôn nghĩa là bằng Mantra hay là chú, Yantra hay là Ấn, Mandala hay là Đàn Pháp và Maithuna hay là Tình Thương.

Hình đại diện của tài khoản
Đã xemBởi Dianichi
CHƯƠNG II: SỰ TRUYỀN THỪA


Mật Giáo được thuyết minh do Đức Thích Tôn Như Lai hay Đại Nhựt Như Lai, chuyển danh là Đại Tỳ-lô-giá-na Phật (Phạn ngữ: MAHAVAROCANA) Pháp thân của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát (SAMANTABHADRA), thị giả của Đức Thích Ca Mâu Ni, thì trở thành Kim Cang Thủ Bồ Tát hay Kim Cang Tát Đỏa (VAJRAPANI), thị giả của Đức Đại Nhựt. Pháp thân Phật, Đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, ở tại cõi trời MA HÊ THỦ LA THIÊN, tức Kim Cang Pháp Giới Cung, qua ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích Ca ở tại cõi ta bà này, sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, đang lúc thọ hưởng pháp lạc, đã vì Ngài Kim Cang Tát Đỏa và các vị Đại Bồ Tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà xiển dương giáo pháp bí mật. Đó là thời gian khởi nguyên của Tông Chơn Ngôn vậy.1


Đức Phật Thích-ca đang thiền định

Ngài Kim Cang Bồ Tát đích thân chịu làm lễ “Quán Đảnh”, kế thừa pháp mầu nhiệm của Đức Đại Nhựt Như Lai, lãnh thọ lời Phật dạy, đem giáo pháp ra hoằng hóa và kiết tập thành hai bộ kinh: Kinh Đại Nhựt và kinh Kim Cang Đảnh lập thành Thai Tạng Giới MANDALA và Kim Cang Giới MANDALA. Tại sao hai MANDALA này được gọi là Thai Tạng và Kim Cang?

–“Đại Nhựt Kinh Sớ” giải thích: “Ước2 về Thai Tạng do nhân duyên cha mẹ giao hợp, thần thức mới gá vào trong thai, rồi do gió nghiệp3 tượng thành lần lần lớn lên. Đến khi đứa bé được sanh ra thì gân xương, chi tiết đã hoàn thành, các căn đều đầy đủ.4 Từ đó đứa bé lấy theo tộc tánh cha mẹ. Cũng thế, hành giả y theo “Chơn Ngôn Môn”5 học tập Đại bi muôn hạnh,6 tịnh tâm7 lần lần hiển hiện.
Do tâm Đại bi, những việc làm đều vì kiến lập chúng sanh,8 khiến cho thành tựu sự vui trong pháp giới vô tận. Rồi từ đó, công quả viên mãn, lên ngôi Vô thượng Bồ Đề, được vào dòng giống của Như Lai. Cho nên Đại bi Thai Tạng là ước theo dụ9 mà đặt tên. Đó là y theo thánh thai bi trí của chư Phật vào nơi đạo tràng tam mật tương ứng, nương phương tiện khéo để thành tựu chủng tử Bản giác10 của mình và tất cả chúng sanh vậy.

–Còn “Kim Cang Đảnh Sớ” có nói: “Kim Cang bao gồm 2 ý nghĩa “bền chắc” và "năng dụng11 cứng bén”. Bền chắc nên không thể phá hoại, cứng bén nên có thể phá hoại các vật khác.

Nói “bền chắc” là ví cho chân lý bí mật chẳng thể nghĩ bàn của thật tướng,12 luôn luôn vẫn thường còn, không thể phá hoại. “Năng dụng cứng bén” là dụ cho trí dụng của Như Lai có công năng dẹp phá hết hoặc chướng,13 làm hiện rõ chân lý thật tướng. Lại theo thế gian, Kim Cang có ý nghĩa không thể phá hoại, chất báu trong các thứ báu và là vật thù thắng14 trong các chiến cụ.15 Đây là tiêu biểu cho Pháp Thân. Nói không thể phá hoại là tiêu biểu cho Pháp Thân của tất cả Như Lai: không sanh, không diệt, không trước, không sau, bền bỉ thường còn không hư hoại. Nói chất báu trong các thứ báu là tiêu biểu cho thật tướng “Trung Đạo” đầy đủ hằng sa công đức. Nói vật thù thắng trong các chiến cụ là tiêu biểu cho lý “Đệ Nhất Nghĩa Không,"16 tất cả phiền não không thể đối địch. Đạo lý ấy như thế, không phải Trời, Người, hay chư Phật tạo tác ra được, nên gọi là Kim Cang.


Thai Tạng Giới (Garbhadhatu) Mandala


Kim Cang Giới (Vajrdhatu) Mandala

Ngài Kim Cang Bồ Tát đã viết 2 quyển kinh Đại Nhựt và Kim Cang Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài lưu pháp lại trong một cái tháp sắt được gọi là “Nam Thiên Thiết Tháp."17 Về sau, Ngài Long Thọ Bồ Tát khai tháp sắt Nam Thiên này, nhờ thần lực gia trì, chính Ngài thấy Ngài Kim Cang Tát Đỏa mật truyền cho Đại Pháp18 và chú phúc19 lại hai bộ kinh Đại Nhựt và Kim Cang.

Ngài Long Thọ Bồ Tát (NAGARJONA 150-250 D.L) là người mạn Nam Ấn Độ, cực thông minh đỉnh ngộ. Ông là bậc thầy tổ của tám tông phái Đại Thừa Phật Giáo, ngoài ra còn quán triệt đạo lý của mỗi tôn giáo khác trên đất Ấn lúc bấy giờ. Lập trường thuyết giáo của Ngài vững chắc cho đến nỗi không có một học phái Đại thừa nào sau Ngài vượt qua nổi khi giải thích về những giáo lý căn bản của Phật dạy. Mật Tông Phật Giáo cũng như các tông phái Đại Thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường Không Lý20 của Ngài (Trung Quán). Ngài được so sánh như là Phật Thích Ca tái thế. Ngài Long Thọ về sau truyền pháp này cho Ngài Long Trí, là một cao tăng tại viện Đại học NALANDA.

Đại học đường NALANDA là trường Phật giáo lớn nhất ở Ấn Độ. Nơi đây rèn đúc các vị cao tăng Mật Giáo và các tông phái Đại Thừa khác. Chư vị Tổ Sư nối nhau mà truyền đạo phần nhiều đều dạy học tại trường ấy. Các Ngài Vô Trước, Thế Thân đều từng là giáo sư tại viện đại học đầu tiên này của Phật Giáo. Giới Hiền Luận Sư cũng đã nối tiếp làm Thượng tọa tại đây. Lúc ông đã trên trăm tuổi, Huyền Trang ở Trung Quốc sang vào năm 633 và đã thụ pháp với ông. Các cao tăng hoằng truyền Mật Pháp ở các nước khác sau này đều xuất thân từ đây.


Long Thọ (Nagarjuna), vị Tổ thứ I
(Tranh vẽ Nhật Bản giai đoạn thế kỷ 13 - 14)



Bức tường cũ của tu viện Nalanda


Long Trí A-xà-lê (Nagabodhi), vị Tổ thứ II
(Tranh vẽ Nhật Bản giai đoạn thế kỷ 13 - 14)

Ngài Long Trí sau khi thọ pháp với ngài Long Thọ, đã truyền pháp và giáo hóa các nước miền Nam Thiên Trúc và Tích Lan. Ngài Long Trí đã thọ hơn bảy trăm tuổi.

Mật Giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản và về hướng Nam để qua mấy xứ Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Cao Miên, Lào… để trở thành hai ngành Mật Giáo chính: Mật Tông Nam Tông và Mật Tông Bắc Tông.


I. LƯỢC SỬ MẬT-TÔNG TÂY-TẠNG
Trước khi Mật Giáo được truyền sang Tây Tạng, dân chúng nơi đây chưa có tôn giáo đứng đắn. Đạo Bon, một tôn giáo có tính cách thấp hèn là nền đạo giáo cổ truyền của dân bản xứ. Thời đó người ta chỉ biết kính trọng và sùng mộ chư thần, kể cả hung thần và ác quỷ. Họ van vái khẩn cầu bất cứ ai để kêu gọi sự giúp đỡ cho những tham dục tối tăm. Các nhà đạo tại đây thì sanh sống bằng cách cho mua bùa, thỉnh phép, lãnh mướn thư phù, ếm đối và có trăm, ngàn cách chước khác nhau mà dối gạt dân ngu và tạo nhiều điều mê tín thấp kém.

Sử Tây Tạng còn ghi lại rằng, vào năm 137 trước D.L., Phật giáo đã bắt đầu được truyền bá vào đây. Nhưng với căn trí thấp thỏi, dị đoan nên dân chúng còn lạt lẽo thờ ơ với đạo Phật. Tại Tây Tạng bấy giờ đã có một ngôi chùa đầu tiên. Nhưng vì giáo thuyết của Phật quá cao siêu khó hành so với căn cơ của phần đông dân chúng và phần thì họ còn ưa chuộng những tham dục thấp hèn, nên công cuộc hoằng hóa Phật pháp tại đây lần đầu đã thất bại.

Kế đó năm 371 sau D.L, có một số nhà truyền giáo khác lại vào Tây Tạng. Các Ông truyền bá đạo lý Từ, Bi, Hỷ, Xả của đạo Phật. Kỳ này cũng chưa được mấy kết quả. Dân chúng tin theo Phật cũng còn rất ít.

Đến thế kỷ thứ 7, vua Tây Tạng SRONG TSAN GAMPO bắt đầu mến mộ Phật pháp, nên phái sứ sang Ấn để tham khảo về Phật giáo, thỉnh kinh và rước chư tăng sang Tây Tạng để giảng giải Phật pháp và dịch kinh chữ Phạn ra tiếng bản xứ.


Tượng Bồ tát Quán Thế Âm tại Nālandā, Ấn Độ, thế kỷ 9

Tương truyền vua nằm chiêm bao thấy Bồ-tát Quan Thế Âm hiện đến nhắc nhở tiền căn, nên từ đó vua dốc lòng theo đạo và muốn Phật pháp được lưu truyền sâu rộng trong xứ.
Nhà vua còn có 2 vị hoàng hậu rất mộ đạo, một người là công chúa Bạch Ly người Nê-bạc-nhĩ (NEPALAISE) và một người là công chúa Văn Thánh, con vua Đường Thế Tôn. Cả 2 Bà đều có công lớn trong việc xây dựng nền Phật pháp tại Tây Tạng. Sau này các ngôi chùa ở Tây Tạng đều có thờ vua SRONG TSAN GAMPO và 2 bà hoàng hậu của ông để tưởng niệm công đức hỗ trợ ngôi Tam bảo của các Ngài.

A. PHÁI CỔ MẬT:
Đến thế kỷ thứ 8, vua TI SONG DE TSEN (740-786) có rước về Tây Tạng 2 nhà cao tăng Ấn Độ là SANTARAKSHITA và PADMA-SAMBHAVA.


Đạo Sư Antarakshita


Đạo Sư Padma-Sambhava và tám hóa thân của ông

Hai vị này là những nhà sư đắc đạo vừa có tài biện luận, tuyên truyền Pháp lý vừa có phép thần thông biến hóa cao siêu. Cả hai ông đều làm cho dân chúng và các đạo sĩ bản xứ thủ cựu21 rất kính mộ. Hai Ngài đã truyền bá đạo lý rất đắc lực. Từ đây trở về sau Tây Tạng mới ưng chịu văn minh nhà Phật. Nền học thuật và đạo lý ở trong nước đã được mở mang rất sâu rộng. Lúc đó Trường phái Cổ Mật tông ATIYOGA22 đã được thành lập. Tông phái này chính thức được sáng lập bởi nhà hiền triết Ấn PADMA-SAMBHAVA vào năm 749. Người Tây Tạng sau này gọi ông là GURU-RIMPOCHE (vị Đạo sư quý báu) hay PADMA JUNGNE (Liên Hoa Sanh). Ngài là một giáo sư danh tiếng về các khoa học thần bí ở viện đại học NALANDA Phật giáo.
Được lời mời của nhà vua, ông đến Samye Tây Tạng vào năm 747 và lập một tu viện ở đó, dạy những giáo lý Mật Thừa của Đại Thừa cho người Tây Tạng. Nước Tây Tạng được tấn bộ rất nhiều, Phật lý được đa số dân chúng học hỏi, tinh thần đạo đức của dân chúng phát triển rất cao, văn minh học thuật trong nước tiến bộ nhanh chóng. Cứ như vậy trải qua thời gian hơn năm trăm năm, nước Tây Tạng đã tiến hóa rất nhiều nhờ ảnh hưởng của đạo Phật.

B. PHÁI HOÀNG MẠO (MADHYAMIKA)
Vào thế kỷ 14, một nhà sư đứng ra cải cách nền đạo. Ngài tên là TSONGKHAPA, quê ở tỉnh Am Đô, miền bắc nước Tây Tạng. Kể từ khi đạo Phật hưng thịnh kéo dài đến năm trăm năm, nhất là trong một trăm năm sau cùng, đạo Phật càng lúc càng suy vi đến mức độ lo ngại. Tăng lúc bấy giờ không giữ mình trong sạch, bận bịu với đoàn thê nhi. Họ ít tham thiền, tưởng đạo mà trong Phật pháp nhờ có tham thiền con người mới được thông minh giải thoát. Thay vì để tâm vào đạo, họ chuyên về phù phép, ếm quỷ, trừ tà, vẽ bùa, vấn niệt, xem vận mạng, đoán thiên cơ, không phải nương phương tiện khéo để cứu nhân độ thế, cảm hóa lòng người mà lại dùng chước tà mê muội người thế để thiên hạ nể sợ, khẩn cầu và cúng dường, biến giáo pháp của Như Lai thành tín điều huyễn hoặc. Nhà sư thì như thế, còn cư sĩ thì kém học, lầm lạc, tham lam, bạc nhược. Thật là kẻ tăng và người tục đều làm sai lạc đạo lý của Đức Thích Tôn.


Đạo Sư Tsongkhapa

Thấy tình hình nhà Phật tiêm nhiễm lắm sự mê muội, mờ ám, Ngài TSONGKHAPA tự mình suy xét và nảy ý chỉnh đốn, quyết ra tay dẫn dắt kẻ tăng, người tục trở về với chánh giáo.
Ngài khuyên kẻ nhà thiền nên ăn ở trong sạch, giữ luật đạo nghiêm chỉnh. Ngài kích bát cách thờ phượng và tế lễ chư Thần vô lối, không cho bày bố những điều tà mị, bài bác những hủ tục, khuyên nhủ các sư nên tinh tấn tu hành, tham thiền hỏi đạo, trai giới đạo hạnh.23Hết dùng lời nói hùng hồn, lời biện luận sâu xa, tiếng cảnh tỉnh dịu hòa khôn khéo, Ngài TSONGKHAPA lại dùng đến huyền bí thần thông để cảm kích lòng người. Bấy giờ dân chúng thấy Ngài đạt được nhiều hiển hách anh linh, thấy Ngài có tư tưởng cao sáng, nên họ theo về với Ngài càng lúc lại càng đông. Sự trật tự trong nhà chùa, sự tu hành thanh tịnh được duy trì trở lại.

Tiếng tăm của Đức TSONGKHAPA vang dội khắp nơi. Trong các cõi Á châu miền Trung, các nhà danh sư khắp nơi và các nước gần đến thọ giáo với Ngài rất đông. Năm 1409, Ngài lập ở LHASSA, một cảnh chùa to tát là chùa GADAN. Sau đệ tử càng đông, Ngài phải dựng thêm hai ngôi chùa nữa ở DREPONG và DERA. Lúc Ngài về Niết Bàn ba nhà chùa ấy hiệp lại có trên ba chục ngàn tăng đồ. Người Tây Tạng và người Mông Cổ đều cho ngài là Phật giáng thế để gây dựng lại nền đạo ở Tây Tạng. Cho đến nay ở Tây Tạng, người ta còn truyền tụng câu này: “Tiền Thích Ca, hậu Tông-Cáp-Ba.”

Cuộc cải cách tôn giáo của TSONGKHAPA có hiệu quả vững bền. Cho đến hậu đại,24 phái của Ngài thành lập được mệnh danh là phái MADHYAMIKA hay “Trung Quán”, phái này phát sanh ra phái KAHDAMPA tức là giáo hội có vị lãnh đạo là Đạt-lai Lạt-ma (DALAILAMA).25
TSONGKHAPA trước khi nhập Niết Bàn đã truyền đạo cho đệ tử là Đức GEDUNGRUBPA nắm giữ giềng mối đạo mà Ngài đã chấn chỉnh và đặt tên là Lạt-Ma giáo. Sau này chức vua ở Tây Tạng do Đức Đạt-lai Lạt-ma26 là người trên trước của Lạt-ma giáo nắm giữ. Vua cầm quyền cai trị dân chúng vừa trông nom nền Đạo. Khi vua gần băng hà, Ngài cho biết trước sẽ chuyển kiếp vào nhà nào, hội Lạt-ma sẽ đi thỉnh ấu chúa về để giao quyền thiên tử cho.

Đức Đạt-lai Lạt-ma được dân Tây Tạng coi như là một Đức Phật sống (Phật La-hán).27 Ngài chưởng quản Lạt-ma giáo và ngự tại điện POTALA nơi thành LHASSA (Lạp-tát), một trong các nghiêm từ vinh diệu.28 Dưới Đức Đạt-lai một bậc có Đức Ban Thiền29 Lạt-ma (PANCHENLAMA) mà người dân cũng coi như là một Đức Phật sống. Ngài trông nom chùa chiền, cai quản các sư để tiếp sức với Đức Đạt-lai. Ngài ngự tại Điện TRASHI LUMPO ở thành SHIGATSE.


Potala – Cung điện của Đức Đạt-lai Lạt-ma

Ở Tây Tạng, quan chức các nơi, trong triều ngoài quận cũng đều từ các sư tuyển ra. Tại kinh đô LHASSA có nhiều ngôi chùa vĩ đại, mà một vài ngôi có cả đến hàng muôn tăng đồ. Người dân Tây Tạng tất cả đều quy y với Tam bảo. Đạo Phật trở thành quốc giáo.

C. PHÁI NHỮNG NGƯỜI ÁO VẢI (KARGYUTPA):
Những người tu định30 của phái KARGYUTPA là những người theo phái MAHAMUDRA hay Đại Thủ Ấn.31 Phái này vẫn sử dụng Chơn Ngôn, pháp ấn và linh phù trong việc tu định.

Theo truyền thống TILOPA sống vào khoảng thế kỷ thứ 2, đã nhận những lời dạy về triết lý Đại Thủ Ấn, nguyên tắc nền tảng của phái KARGYUTPA từ sự gia trì của Đức Phật DORJE CHANG. Đến lượt TILOPA truyền cho NAPORA. NAPORA là một bác học tăng32 về môn Thần Bí tại viện đại học NALANDA và dạy đạo tại đất Ấn.
MARPA, người Tây Tạng đã đến đây để học đạo và được NAROPA truyền trao bí pháp và trở về nước lập nên tông phái KARGYUTPA.


Đạo Sư Naropa

MARPA một Đạo sư đắc đạo, bậc thầy của phương pháp điểm đạo truyền pháp, đã dạy giáo lý Mật Thừa cho người Tây Tạng. Ông đã truyền đạo cho bốn đại đệ tử, tất cả đều đạt được sự giải thoát vinh quang.

Ở phương Đông là TSURTON WANGAY, người sứ DOL, một người bản tánh Sư tử với ngọc như ý của Mật Lý. Với những móng vuốt của quả quyết ông đã nhìn lên và đạt được sự giải thoát.

Ở phương Nam là NGOGDUM CHUDOR được ví như con Hổ với bộ lông rằn Mật Lý, những móng vuốt của ông ta đã đào sâu bốn đại hạnh Bồ Tát, ngước mắt nhìn trời vì đã giã từ những gì hư ảo của thế giới hư giả và dạo chơi tùy thích vì đã giải thoát.

Trụ cao phương Tây là chim ưng vút cánh METON TSOMPO với đôi cánh vươn rộng của Mật Lý, đã vượt qua những hố bẫy trầm tư, vĩnh viễn nói lời giã từ với những gì hư giả của thế giới huyền ảo này và tung cánh tự do vì đã giải thoát.


Đạo Sư Marpa

Trụ cao phương Bắc với Linh Thứu THOGAPA, đồng thời cũng mang danh là MILAREPA của xứ GUNGTHANG với Mật Lý nhuộm thắm mà cuộc đời đã phải trường kỳ chịu đựng như tảng đá mà nơi Linh Thứu làm tổ. MILAREPA là bậc nam nhi vô song đã nói lời vĩnh biệt với cuộc sống thường tình và đạt được sự đại giải thoát. Chiếc y của MARPA đã trao xuống và môn phái của ông thịnh phát qua người kế thừa chân pháp là MILAREPA. Tiểu sử lừng danh của MILAREPA cũng cần được kể ra đây:

MILAREPA hay còn gọi là MILATHOGAPA (1055-1135). Cuộc đời đại hiệp sĩ phi thường này đã bắt đầu từ khi lên bảy, cái tuổi thơ dại đã thực sự bắt đầu bước vào địa ngục trần gian này: ngục của lòng tham không đáy; ngục của lửa hận thù phụt lên vô bờ vì bị người thân tộc cướp đoạt quyền thừa kế gia tài của dòng họ quý phái giàu sang vì cái chết quá sớm của người cha đáng kính. Cuộc đời bị đày đọa khốn cùng này của cậu bé bảy tuổi MILATHOPAGA kéo dài chịu đựng cho đến năm mười lăm tuổi cái tuổi chập chững nhưng lại quá phong trần; một người một ngựa lên đường tìm thầy học huyền thuật để mong trả thù rửa hận cho thỏa lòng người mẹ già yếu đuối nhưng vẫn gây niềm kiêu hãnh vô biên.

Sau khi học thành tài, MILATHOPAGA đã dùng tài nghệ huyền thuật của mình giết hàng bốn năm chục người có liên hệ với hai kẻ tử thù chính là ông chú và bà thím độc ác của chàng và phá hoại không biết bao nhiêu của cải, hoa màu của người khác…
MILATHOPAGA bị lương tâm cắn rứt, cõi lòng xao xuyến bất an và chỉ mong tìm thầy học đạo mong được giác ngộ, giải thoát đến độ hy sinh bất cứ thứ gì, kể cả thân mạng của chính mình.
Định mệnh của MILATHOPAGA là thứ định mệnh đại hạnh nhưng quá khốc liệt khắc khe. Cuối cùng ông đã gặp được Đạo sư định mệnh của mình, Đại Dịch giả MARPA, sư tổ khai sáng tông phái KARGYUTPA của Phật Giáo Tây Tạng. Sau tám lần được bậc Đại sư ném tận đáy hố tuyệt vọng, MILATHOPAGA đã được Thánh thần tẩy thể, gột sạch ác nghiệp và thọ lãnh tất cả những chân lý tối mật của môn phái để rồi một mình một bóng lang thang trong các vùng thâm sơn cùng cốc để thiền định và tu tập giáo lý giải thoát vô thượng.
Sau khi đã quỳ lạy từ giã Đạo sư với sứ mạng vĩ đại trên vai là phải giác ngộ để cứu độ chúng sanh, MILATHOPAGA khi bước chân vào chốn thâm sơn heo hút đã lập lời đại thề như thái tử Tất-đạt-đa trước đó khoảng mười bảy thế kỷ dưới gốc cây bồ đề xứ Thiên Trúc, nếu không đạt được giác ngộ và giải thoát tại nơi này thì vĩnh viễn không trở lại với loài người.

Sau khoảng mười năm trong thâm sơn cùng cốc tuyết phủ giá lạnh của vùng Hy Mã Lạp Sơn với thân thể suy nhược đến cùng độ vì thiếu thức ăn và quần áo thích hợp, MILAREPA đã hiến dâng trọn vẹn cho chân lý. Phối hợp nhân tâm với thiên tâm, tiểu ngã với đại ngã, thành nhất thể chân như của bản thể vũ trụ kỳ ảo, MILAREPA đã đạt được giác ngộ và giải thoát cho chính mình để rồi cất tiếng hát phổ độ chúng sanh ba cõi.
Tiếng hát của MILAREPA vừa trầm hùng vừa thanh thoát như tiếng chim “Ca-lăng-tần-già”,33 vừa rạt rào như lời cây tiếng lá, vừa cao thâm như lời của đỉnh núi và hố thẳm. Tiếng ca phát xuất đầu tiên trên các triền núi âm u hoang vắng của dãy Hy Mã Lạp Sơn và dần dần lên mãi tuyệt đỉnh Everest tuyết phủ, tiếp giáp với mây trời vần vũ thiên thu. Tiếng hát lời ngâm này phát nguồn từ một loại trí tuệ và nghệ thuật viên dung34 siêu việt của một bậc thánh tăng Bồ Tát Tây Tạng với mảnh vải che thân mỏng manh rách rưới và chiếc tích trượng35 nhỏ bé nhưng rắn chắc vô biên nện vang từng tiếng rõ ràng theo nhịp chân, leo lên từng phiến đá trắng ngần sau hơn mười năm tu luyện các năng lực thượng thừa và tu tập thiền định không ngừng theo các diệu lý của Mật Tông Phật giáo. Giọng hát của JESUN MILAREPA, đại hành giả Du-già Tây Tạng.


Đạo Sư Milarepa

Người kế vị MILAREPA không phải là RECHUNG người đã ghi lại tiểu sử của MILAREPA, mà là người đệ tử thứ nhất của MILAREPA là DVA-GPOLHARJE mà người Tây Tạng thường gọi là JEJAMPOPA. JEJAMPOPA mất năm 1152, hai năm sau ngày thành lập nên tu viện T’SURIKA, tổ đình của phái KARGYUTPA và từ đấy dòng GURU của phái này tiếp tục không gián đoạn.

Phật Giáo Tây Tạng gồm các phái Mật Giáo. Tất cả ba trường phái Cổ Mật ATIYOGA, phái Hoàng Mạo MADHYAMIKA, phái Những Người Áo Vải KARGYUTPA đã thích hợp với môi trường Tây Tạng và sớm sanh sôi nảy nở và ăn sâu vào đầu óc của dân bản xứ và biến Tây Tạng thành một quốc gia Mật Giáo lớn nhất trên thế giới, cho đến giữa Thế Chiến I và II thì đã lần hồi suy vi.