- Thứ 6 Tháng 1 28, 2011 1:26 pm
Đây là quyển kinh do thượng tọa Thích Viên Đức dịch và trao cho Sư Tổ vào lần đầu gặp mặt khoảng 30 năm về trước cùng với quyển: Hiển mật viên thông, Kinh Chuẩn Đề Đà la ni và Mạt pháp nhất tự Đà la ni. Bốn quyển này đã có ấn tống tại Việt nam, ngoài ra còn có những bản kinh khác chỉ là quay roneo và đóng tập, không in thành sách.
Trong 30 năm qua Sư Tổ đã không ấn tống kinh này để tránh mọi hiểu lầm vì bản kinh đề cao việc cúng dường qua câu chuyện đức Phật nhắc nhở cho Trừ Cái Chướng Bồ tát mang lễ vật quý nhất đến dâng cúng cho một vị pháp sư tại gia để cầu cho được thần chú Om mani padme hum của Quan Thế Âm.
Thần chú Om mani padme hum thường được trì tụng cùng với ấn Liên hoa: “Hai ngón tay út, hai ngón tay cái dựa dính nhau, còn sáu ngón kia buông thả mở ra, hơi cong như bông sen nở” (kinh Chuẩn đề).
Dịch ra tiếng Việt, ý nghĩa chánh của câu chú là: “Viên ngọc quý báu trong hoa sen dâng lên cho ngài Quan Thế Âm”. Tuy nhiên người tu mật nếu chỉ tu theo hình thức, tay kiết ấn Liên Hoa, miệng niệm chú một cách máy móc thì sẽ không thể đạt được những công năng của thần chú như ghi trong kinh sách.
Để chứng đắc, đạt được công năng của thần chú "Om mani pad me hum" (hay những thần chú khác) người tu phải được chư Phật mười phương, cũng như Quan Thế Âm chấp thuận ban cho ân phước, vì Om mani padme hum chính là lời cầu nguyện, xin ân phước nơi Quan Thế Âm, chư Phật.
Thượng đế, Thánh thần, và chư Phật mười phương là những vị có đủ quyền uy và phước báu để trợ độ cho con người - không những là trong mọi khía cạnh của đời sống hiện tại - mà còn tiếp dẫn cho linh hồn được về cõi Niết bàn (Thiên đàng) hay các cõi Tịnh độ của chư Phật.
Mật tông thuộc về Đại thừa, chủ trương nương nhờ tha lực của chư Phật bởi vì con người nhỏ bé không thể tự lo cho đời sống ở thế gian thì càng không thể tự lo cho đời sống của linh hồn mình ở cõi sau. Kinh sách cũng nói thế gian là biển khổ, ai sống trên thế gian cũng phải trôi nổi, bị chìm đắm bất chợt, thì không thể có ai tự mình tìm được đến cõi Niết Bàn.
Cho nên đa phần các tôn giáo đều cầu nguyện ơn trên phù hộ ngoại trừ một số nhỏ con người tự cao tự đại, không nhìn nhận mình chỉ là một con kiến trong vũ trụ mà cho rằng mình có cách tự giải thoát lấy mình để bay về trời. Con kiến mà tự giải thoát khỏi thân phận kiến cỏ của nó thì sẽ không ai trên đời này cần phải tu hành hay cầu nguyện với Thượng Đế, chư Phật.
Thiên chúa giáo, cũng như Đại thừa Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh con người phải cầu xin ân cứu rỗi của Thượng Đế , vì chỉ có ân cứu rỗi thì con người mới có được một phần nào an vui tại thế gian, phải có được ân sủng của Thượng đế thì con người mới được lên Thiên đàng-Niết bàn... chứ không thể chỉ dựa vào phẩm hạnh, đạo đức của bản thân hay tu luyện các pháp này nọ.
Vấn đề ở đây là nếu như tất cả mọi người đều cầu xin ân sủng của Thượng Đế, chư Phật thì Thượng Đế, chư Phật sẽ chứng cho ai? và phải làm thế nào thì mới được chư Phật chứng minh, ban phước?
Bản Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh hàm ý cho biết: Nếu hành giả chỉ đọc Om mani padme hum mà không hiểu ý nghĩa là xin dâng lên viên ngọc quý để cầu Quan Thế Âm thì câu niệm đó chỉ là lời nói suông, vì miệng xin dâng lên ngọc quý mà thực chất là bản thân không có được ngọc quý để dâng. Thật ra thì dù cho con người có dâng ngọc quý, hay những châu báu gì khác cũng không thể làm động lòng trời Phật ban phước cho mình vì tất cả những của cải thế gian đều hoàn toàn vô giá trị đối với Thượng Đế và chư Phật, tất cả chỉ là rơm rác mà thôi.
Cho nên ý nghĩa chánh của bản kinh là dạy cho người tu khi trì Om mani padme Hum là phải biết dâng tấm lòng thành kính, sự tin tưởng tuyệt đối và lòng khẩn khoản hết mực của mình. Quan trọng nhất là tấm lòng thành kính của hành giả phải được hành giả chứng minh qua hành động cụ thể, chứ không thể chỉ nói bằng miệng mà có thể cầu được ân phước lớn của chư Phật trong đời này và đời sau cho bản thân hay gia đình.
Do đó mà trong Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh, đức Phật đã chỉ cho Trừ Cái Chướng Bồ tát phải chứng minh lòng thành kính bằng cách mang lễ vật quý giá nhất của mình để dâng cho vị pháp sư tại thế, là người đã chứng đắc và sở hữu thần chú của Quan Thế Âm, có thể đại diện cho Quan Thế Âm để thử thách lòng thành của người tu.
Ngoài ra còn có những bản kinh khác dạy cho người tu là phải chẻ xương lóc thịt, khổ hạnh tu luyện, hy sinh thân mạng, tài sản, tâm huyết… để cầu đạo của Trời Phật; Ý nghĩa là người tu phải vượt qua những thử thách, phải có buông bỏ, có hy sinh, mới thật sự chứng minh được lòng thành của mình, chứ không thể chỉ dùng miệng lưỡi gian dối để gạt Trời, Phật. Nếu người tu chỉ niệm thần chú mà không hiểu được ý nghĩa thì đó là thuần túy cầu xin không khác gì người hành khất; mà hành khất, kẻ ăn xin thì chỉ có thể nhận được bố thí vài đồng bạc lẻ, không được ai mời vào nhà.
Hiểu được như vậy thì người tu nên tự lượng lấy mình, nên có tự trọng và liêm sỉ để đừng ảo tưởng vọng cầu những ân phước to tát của Trời Phật trong khi bản thân chẳng có lòng thành khẩn hay chút hy sinh nào cho đạo. Điều nầy lý giải vì sao Om mani padme Hum xưa nay là quốc chú của Tây tạng, mọi người dân Tây Tạng đều tụng đọc, thờ phượng qua mọi hình thức mà Tây Tạng lại bị sát nhập với Trung Hoa. Đó là do sự cầu xin chỉ có một chiều, đọc tụng 'dâng ngọc quý' lên Quan Thế Âm nhưng không được Quan Thế Âm chấp nhận.
Sau 30 năm truyền đạo, Sư Tổ có rất nhiều đệ tử được điểm đạo và được nhận kinh sách làm phương tiện tu học miễn phí, quan điểm của Sư Tổ là để cho mọi người y theo kinh mà tự tu hành không cần phải liên lạc hay gặp lại.
Vừa qua có một người ở Colorado được Sư Tổ điểm đạo và được phát cho quyển kinh Chuẩn đề, Mật tông quyển thượng, quyển trung, cách đây 27 năm, từ đó đã không hề gặp lại Sư Tổ. Hiện ông là chủ một nhà hàng, nơi Sư Tổ có vào ăn nhiều lần, nhưng ông ta không nhìn ra Sư Tổ, còn Sư Tổ thì đã hoàn toàn quên hẳn ông ta. Ngày hôm đó bỗng ông như sực nhớ ra nên đến hỏi Sư Tổ có phải là Thầy Phước không? Khi nhìn ra Sư Tổ, ông rất cung kính và không dám ngồi để tiếp chuyện, mặc dù đó là nhà hàng của ông. Ông cho Sư Tổ biết 27 năm qua ông vẫn tu tập và thường thấy đức Quan Thế Âm bằng thần nhãn.
Câu chuyện này cho thấy quan điểm của Mật tông là truyền đạo vô vụ lợi, điểm đạo không cần phải gặp gỡ, không cần phải tụ họp, và không cần bắt buộc phải tôn kính vị đạo sư. Nhưng theo quan điểm của các kinh Đại thừa thì nói rõ là muốn đạt được hiệu quả linh ứng của câu Om mani padme hum hay những câu thần chú khác thì cần phải thấy có sự hy sinh nào đó từ người tu. Nếu như người tu chưa thật sự dám hy sinh một phần lớn đời sống cho việc hành đạo và một phần lớn tài sản của mình cho việc cầu đạo thì họ vẫn còn đứng bên ngoài cửa chánh của tòa lâu đài Mật pháp, đó cũng là kho tàng ân sủng của Thượng đế và chư Phật mười phương dành cho những ai đã bước vào trong.
Phần trên là sự khai thị của bản Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh về việc cầu đạo và hành đạo của Mật tông.
Mời các bạn đọc tham khảo nguyên văn bài Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh sẽ được tuần tự đăng lên ở mục Kinh Sách.
Hạnh Đạo