Chưa xemBởi Hạt Dẻ
Truyền thuyết kể rằng Quan Hoàng Bảy là con trai đức vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh vua cha, ông hạ phàm và trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn thời Lê.

Nhân dân truyền tụng nhau rằng cuối thời Lê (1740 - 1786), khắp nơi tại phủ Quy Hóa, nhất là châu Thủy Vĩ và châu Văn Bàn (nay là tỉnh Lào Cai), thường xuyên bị giặc cướp từ Vân Nam (Trung Quốc) sang quấy phá. Chúng giết người không gớm tay khiến người dân lầm than. Triều đình Lê Trung Hưng lúc bấy giờ cử một vị tướng là Nguyễn Hoàng Bảy, con trai thứ bảy trong gia đình trung thần, lên trấn giữ miền biên. Ông dũng cảm, thông minh, vừa giỏi thao lược vừa thương dân. Ông lập doanh trại, chiêu mộ nghĩa sĩ và nhiều lần đánh tan giặc, giữ yên bờ cõi. Dân gian kính trọng gọi ông là Ông Hoàng Bảy.

Nhưng trong một trận chiến lớn, lực lượng giặc quá mạnh, ông bị bắt và hy sinh. Tương truyền khi ông bị giặc sát hại, trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình Ngựa Thần, thi thể ông phát ra đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình "tứ linh chầu hội". Người dân thương tiếc lập đền Bảo Hà, từ đó ông trở thành vị thánh trấn biên, phù hộ dân lành, bảo vệ mùa màng và ban ơn tài lộc.

Quan Hoàng Bảy và tín ngưỡng Tứ phủ

Theo sách “Hưng hoá lục”, đền thờ Quan Hoàng Bảy ở Bảo Hà được xây dựng từ cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng. Sau khi ông mất, ông được nhân dân thần thánh hóa thành một trong các vị “Quan Hoàng” trong hệ thống Tứ Phủ. Ông Bảy là ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, bởi vì trong hàng Tứ Phủ thì ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà có căn Ông Bảy thì thường rất thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa,…).

Khi ngự về đồng, ông thường hay mặc áo lam hoặc tím chàm (áo được thêu rồng kết uốn thành hình chữ Thọ), đầu đội khăn xếp, cài chiếc kim lệch có màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi lại cầm đôi hèo, cưỡi ngựa để đi chấm đồng. Đến giá, Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như là ông đã chấm đồng người đó.

Vua Minh Mạng (1820-1840) và vua Thiệu Trị (1841-1847) sắc phong cho ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc - Quan Hoàng Bảy Bảo Hà”. Đến năm 1997, đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chứng nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2016, lễ hội đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Chưa xemBởi Tuệ Phúc
Dạ thưa Đức Thầy, khi con đọc đến đoạn: "các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: Thần Vệ Quốc - Quan Hoàng Bảy Bảo Hà", con chợt nhớ đến bài Khảo sát lễ hầu đồng bằng thần nhãn của huynh thachanhtrang cũng có mô tả khá chi tiết về nhân vật Ông Hoàng Bảy trong siêu hình như sau:

Người thanh niên này đứng ở một thảo nguyên rộng mênh mông nằm ở vùng biên giới phía bắc, tay cầm một chiếc sáo trúc và sau đó đưa lên miệng, thổi những điệu nhạc đồng quê dìu dặt. Thế rồi đột nhiên phía biên giới bên kia xuất hiện rất nhiều các bóng đen cả người cả thú, đông đặc tụ tập sát biên giới. Đám người đen đặc đó biểu trưng cho một thế lực xâm lăng chuẩn bị tràn qua biên giới. Rồi "ùng" một cái, cả một đám đông dày đặc đó vượt qua biên giới và tràn hết sang bên này, ban đầu chúng còn băng qua chỗ người thanh niên mặc áo dài xanh trắng đó.

Từ trên cao nhìn xuống con thấy bóng đằng sau lưng vị thần này là hình chữ V, tức họ tràn qua ở hai bên, riêng chỗ vị thần này thì mắc lại và không qua được. Người thanh niên áo xanh lúc này không thổi sáo nữa, mà đưa hai tay ngang ra, rồi lật ra sau lưng, một lúc thì lại “ùng” một cái, vị thần này làm hai tay bắt các ấn rộng biên độ, đưa hai tay từ sau ra trước rất mạnh. Lập tức toàn bộ các bóng người đen đặc, cả người cả ngựa, cờ mũ áo xí rợp trời đó bị dồn ngược trở lại phía bên kia biên giới. Đám người bóng đen đó lại đứng dày đặc theo đường biên, nhưng không dám bén mảng sang phía bên này. Còn phía bên này thì lại trở lại vùng thảo nguyên yên ả và trong sạch.

Người thanh niên áo xanh này lại dùng những lá bài phép của mình, dựng lên một cái tháp cao, sau đó ông nhảy lên trên đỉnh tháp đó và trấn giữ, đưa mắt nhìn rộng ra khắp vùng biên giới. Phía bên dưới chân tháp, xuất hiện mấy người tùy tùng cưỡi ngựa nữa. Trên đỉnh tháp, ông lại đưa tay bắt ấn, tung các lá bài phép bay vù vù, các lá bài này bay đến đường biên giới và cắm phập xuống đất. Tự nhiên đường biên giới nổi lên một hàng rào bằng ánh sáng vàng, không cao lắm nhưng rất dài, dài khắp cả thảo nguyên đồi núi. Linh ảnh này cho con hiểu biên giới mỗi nước quả thật đã được “phân định ở sách trời” như trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, (hay trong bài thơ thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư - 1077).


Con kính viết.
Chưa xemBởi Hạt Dẻ
Kính lễ Tổ, Thầy,
Kính chào huynh tỷ trưởng.

Thưa Tổ, Thầy, khi con viết bài này thì có gặp vài chi tiết còn thiếu, được hướng dẫn và con có tìm hiểu thêm nhưng không biết lấy thông tin ở đâu và bổ sung thế nào. Con có khấn xin Chư Vị giúp con hoàn thành bài viết thì con nghe có tiếng nói "Được. Ta giúp con". Chư vị gia trì lực vào tay con gõ vào Google lệnh tìm kiếm "Hiển linh Quan Hoàng Bảy trong dân chúng" rồi kích chọn bài để con lọc thông tin. Có chỗ con muốn thêm ý thì Chư Vị nói: "Như vậy được rồi con", nên con không thêm chi tiết nào nữa và hoàn thành bài viết này.

Con kính báo cáo.
Đệ tử, Hạt Dẻ.