Chưa xemBởi viêndung
Nguyên văn tiếng Hán - Chung M. Đức lược dịch:
...

Tính ra đức Phật sinh vào năm 565 BC nhập diệt năm 486, thọ 80 tuổi, 35 tuổi thành đạo. Thời kỳ của sử phật học kéo dài khoảng 1500 năm bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 (trước Công Nguyên) đến thế kỷ thứ 11 (sau Công nguyên) được chia ra là 6 giai đoạn.

Giai đoạn đầu là thời kỳ Nguyên Thủy Phật Học: 530-370 BC (trước CN)

Học thuyết nguyên thủy Phật học chủ yếu xuất xứ là "Kinh" và "Luật". "Kinh" có 2 loại: Bắc Truyền gọi là "A-hàm" và Nam Truyền gọi là "Nikaya (kinh bộ)". Ngoài "Tứ Đại Bộ" (Trường Bộ, Trung Bộ, Tạp Bộ và Tăng Nhất Bộ), Bắc Truyền còn có một "Tạp Tạng Bộ"; Nam Truyền trừ bốn bộ tương đương với Bắc Truyền còn một Tiểu bộ.
Nội dung cơ bản của "Luật Bộ" là Giới điều, sau này thêm phần giải thích rộng, các sự việc và phụ chú thêm nguyên nhân có giới điều, cộng thành ba bộ phận. Sau khi Phật nhập diệt có rất nhiều bộ phái, các bộ phái lưu truyền Kinh và Luật và thêm bớt vào đó để làm nổi bật nét riêng của mỗi tông phái.

Muốn tìm ra nguyên thủy của Phật học, tất phải làm rất nhiều công việc nghiên cứu phân tách và không phải là chuyện dễ.
Các học giả Tây phương Đức và Anh không dùng những bản tài liệu Hán dịch (tài liệu Bắc truyền) mà là tin tưởng văn bản Pali. Khi nghiên cứu các bản văn Pali thì dùng phương pháp tìm các khác biệt giữa các Kinh, Luật cũ và mới để từ đó tìm ra nguyên thủy Phật thuyết. Người Nhật thì nghiên cứu nguyên thủy Phật học bằng cách đem Kinh và Luật của Nam và Bắc để so sánh nhận định những điểm tương đồng trong hai bộ ấy tức là nguyên thủy lời Phật nói. Tuy có điểm tương đồng cũng không thể coi đó là Nguyên thủy lời Phật nói vì các bộ phái đã trãi qua mấy lần phân liệt, những tư liệu được lưu lại qua bao lần phân liệt đó ảnh hưởng lẫn nhau, mô phỏng lẫn nhau với những bổ sung liên tục.

Hiện tại nguyên bản của giảng thuyết này chỉ dùng những học thuyết được lưu hành từ ông Thích Ca mà rút ra và sắp xếp lại những trung tâm điểm của vấn đề xem như là nguyên thủy Phật học, chứ không tái lập sự tìm kiếm nhỏ nhặt như các phân tích gia Phật học thời trước.

Tiết Nhất. Thời Đại Thích Ca

Thích Ca ở vào thời đại thế kỷ thứ 6 đến thứ 5 BC. Lúc bấy giờ xã hội Ấn là một chế độ chiếm hữu nô lệ, đã kiến lập quốc gia, thành thị và cũng phát triển thương nghiệp. Nhưng chế độ nô lệ của Ấn và Tây phương có sự khác biệt. Nô lệ không bị áp bức vào các sự sản xuất vĩ đại, và cũng không bị bốc lột thái qúa như Tây Phương, do đó không có bộc phát hay sanh ra những sự bạo động lớn của người nô lệ.

Trong tập 1, tập 4 của Tăng Nhất Bộ thuộc văn Pali, Trì Trai kinh trong Trung Hàm, quyển 5 thuộc Hán dịch, và trong giáo điển của Kỳ-na Giáo đều ghi thời đó có 16 Đại quốc. Đến thời đại của Thích Ca tình thế 16 nước đó cũng có biến chuyển rất lớn, trong đó nước lớn hùng mạnh nhất là ở phía nam sông Hằng là Ma Kiệt Đà; bên Tây Bắc là Kiều Tát La, Đông bắc là Bạt Kỳ (Kinh Duy Ma lấy bối cảnh của nước này).
Cộng hòa thể chế chỉ tồn tại ở Đông bắc như Ương Già, Bạt Kỳ, Mạt La và Ca Tỳ La Vệ thuộc dòng tộc Thích Ca hiện đang ở vào hoàn cảnh vị trí dễ bị hoàn toàn tiêu diệt (Bản sanh kinh và những câu chuyện về đức Phật phản ảnh tình trạng lúc bấy giờ). Trong các nước có chế độ tộc tính có dân tộc Nhã Lợi An sắc da trắng chiếm địa vị thống trị thổ dân da đen nên xã hội có 2 tầng lớp giai cấp. Về sau trong tộc của Nhã Lợi An lại chia ra những 3 dòng tộc tánh khác như Bà La Môn, Sát Đế Lợi, và Phệ Xá.

Ban đầu tộc Bà La Môn là giúp cho Sát Đế Lợi tiến hành thống trị, nắm quyền văn hoá, tôn giáo; đến thời Thích Ca, Sát Đế Lợi đối với đặc quyền của Bà La Môn có những bất mãn nên ủng hộ những tư tưởng phi Bà La Môn, lập ra trận tuyến phản lại Bà La Môn.
Tộc tánh Phệ Xá bao gồm các giai cấp nông, công, thương, bị bóc lột rất nặng, lúc đương thời do thủ công nghệ phát đạt, thương nghiệp phồn thịnh với Miến Điện, Ba Tư, Á Rập... đều có mậu dịch qua lại, thương dân tích lũy tài phú, đối với chính trị có sự yêu cầu mãnh liệt, những lực lượng xã hội hình thành khiến cho Bà La Môn từ từ suy yếu.

Đương thời sanh ra đại biểu các lợi ích của các giai tầng là 6 phái triết học. Kinh Duy Ma--Phẩm Đệ Tử, Trường A Hàm--Sa môn Qủa Kinh (bản đơn hành gọi là Tịch Chí Quả Kinh) đều có những tư liệu về tư tưởng của 6 phái nầy.

Phái thứ Nhất: Đại biểu cho tư tưởng duy vật là A Kỳ Đa (Ajita, Kesa, Kambala) tức là tiền thân của phái Thuận thế sau này. Bọn họ cho rằng địa, thủy, hỏa, phong, bốn đại nguyên tố là trường tồn độc lập, con người và thế giới do bốn đại hợp thành, phủ nhận linh hồn, con người sau khi chết sẽ trở về tứ đại, mục đích sự sống của con người tức là cầu được sự thỏa mãn và khoái lạc. Loại học thuyết này chuyên phản kháng việc nắm quyền tế tự của Bà la môn, đại biểu cho tiếng nói của giai cấp thứ tư.

Phái thứ Hai: Sanjaya vela tthiputta (Tán Nhạ Di) cùng một học phái với chủ nghĩa trực quan: có nghĩa là đối với mọi vấn đề thí dụ như vấn đề có hay không có kiếp sau, có hay không có quả báo v.v... đều không có sự quyết định rõ ràng, mà nhận định rằng nếu nói có tức là có, mà nói không thì tức là không. Vì vậy những người trong học phái nầy bị người ta ví họ như loài lươn trơn nhớt khó bắt dính.
Những người phái này quan niệm tu định để cầu trí huệ chân chánh. Đệ tử Phật: Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất đều có theo học với họ. Học phái này cũng có hàm ý phản đối quan niệm thế giới do Phạm ngã chuyển hóa của Bà La môn.
Đến thời đại Áo nghĩa kinh, Bà La Môn cũng thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi, còn phái Tán Nhạ Di đối với việc này thì vẫn áp dụng không khẳng định, không phủ nhận biểu lộ thái độ bất tín nhiệm.

Phái thứ Ba: Makkhali Gosala (Mạt Già Lê) là phái định mệnh luận, quan niệm không có nghiệp báo, không thân do cha mẹ sanh, tất cả sự tu hành đều là không, là vô dụng. Chỉ cần trãi qua đủ 8 trăm 4 mươi ngàn đại kiếp thì không cần biết là trí hay ngu đều sẽ được giải thoát. Như là khi chọi đi một trái cầu bằng chỉ, khi chỉ hết thì trái cầu hết lăn. Họ cho rằng con người do các loại nguyên tố cấu tạo thành. Và cũng hàm ý một số trình độ của tư tưởng duy vật và tự cho cái thuyết ấy là chánh mạng, sinh hoạt (sống). Tất cả mọi người và Phật giáo đều cho là "Tà Mệnh Ngoại Đạo".

Phái thứ Tư: Purana-kassapa (Bất Lan Ca Diệp), của những người xuất thân nô lệ, đại diện cho giai cấp thứ tư, cũng tương tự như học thuyết phái Mạt Già Lê ở trên, cũng phủ nhận thiện ác nghiệp báo và Bà la môn giáo, quan niệm phóng túng theo dục vọng, là những người hoài nghi luân lý luận.

Phái thứ Năm: Pakudha-Kaccayana (Ba Phù Đà) cũng phủ nhận hành vi của con người có thể phát sanh ra những ảnh hưởng gì, cho thân người là bảy thứ nguyên tố cấu tạo thành, bảy thứ nguyên tố rời ra thì là chết. Nguyên tố vĩnh viễn tồn tại, mang tư tưởng duy vật.

Phái thứ Sáu: Nigantha nata Putta (Ni Kiền Tử) sau này phát triển ra Kỳ na giáo. Trước họ đã có Hiếp Chủ quan niệm thất cú nghĩa. Lúc khởi thủy chia thế giới làm 2 loại, Hữu sinh mệnh và Vô sinh mệnh. Sinh mệnh không giải thoát được là do nghiệp lậu, trói buộc, bởi vậy cho nên phải ngăn chận, diệt trừ, giải thoát để tiêu diệt nghiệp. Họ cho là nghiệp báo quá nặng, muốn cho nghiệp báo mau chóng đến kết thúc thì cần khổ hạnh, cho nên chủ trương khổ hạnh. Loại tư tưởng này trên thực tế là đã ủng hộ thuyết nghiệp báo của Bà la môn giáo.
Ni Kiền Tử xuất thân dòng Sát đế lợi, mẹ là con của quốc vương, em gái họ là Vương phi. Học thuyết cũng đại biểu cho lợi ích của giai cấp thống trị. Phái này cùng với học thuyết của Thích Ca đối lập nhau, và hai bên từng có sự xung đột. Tuy họ ủng hộ Bà La Môn nhưng trên phương diện giải thoát cũng không giống như Bà La Môn giáo.

Về nguồn gốc quốc gia và gia tộc tính của Thích ca thì không được tường tận. Có người cho rằng ông không phải là giống Nhã An Lợi, mà là giống người Mông Cổ. Ngụ tại ngày nay là Ni Bà Nhĩ (Nepal) phía Nam và Đông bắc bộ sông La Bá Đề (Rapti) giao giới với Ấn Độ, và từ Hy Mã Lạp Sơn trở xuống.

Tương truyền có mười thành nhỏ và một thành lớn nhất có tên là Ca tỳ la vệ, do đó gọi tên quốc gia này là Ca tỳ la vệ. Theo truyền thuyết Ca tỳ la vệ không liệt vào 16 nước lớn mà là thuộc quốc của nước Kiều Tát La, di tích còn ở Ni Bà Nhĩ.
Huyền Trang đã từng đến đất này và căn cứ theo Tây vực ký phế vực, cửa thành vẫn còn, toàn quốc có tám vạn hộ (80,000), 50 vạn người (500,000) theo chánh thể Cộng Hòa. Đương thời đang bị xứ Kiều Tát La uy hiếp. Chính do nguyên nhân nầy mà chuyện Thích Ca Mâu Ni xuất thế là mang một trách nhiệm giúp quốc gia mình thoát khỏi xâm lấn của ngoại bang, đó cũng là nguyện vọng của vua cha là Tịnh Phạn Vương, hy vọng con mình ít nhất là duy trì hay tiếp tục sự thống trị của vương tộc.
Bản thân ông Thích Ca thì không muốn dùng chính trị để thống trị nên ông đã rời gia đình để học tập theo các tư tưởng gia thời đó, và sau cùng là tự mình cấu thành học thuyết và truyền bá rất rộng. Truyện ký của Thích Ca ngày càng được thần thoại hóa để phát triển thành một tôn giáo.


Truyền thuyết về Phật một phần được bảo tồn trong "Kinh" và đại bộ phận được bảo tồn trong "Luật". Có nhiều bộ phái bất đồng về Luật do đó liên quan về truyền thuyết của Phật cũng bất đồng.
Đại chúng bộ đem Phật truyện phân ra làm "Đại Sự"; Pháp tạng bộ thì gọi là "Bổn hạnh kinh" (Luật của bộ phái này gọi là "Tứ phần luật", đó là nguồn gốc trực tiếp luật của Phật bằng Hán dịch).
Trong Phật điển Hán dịch còn có 1 bộ Phật truyện hoàn chỉnh: "Phật Bản Hạnh Tập Kinh" 60 quyển, đời Tùy dịch, đem Phật truyện không giống nhau của năm bộ tập trung làm một. Phật truyện trong Luật của các bộ phái đều theo cách bắt đầu từ gia thế của Phật, xuất gia đến 6 năm sau thành đạo và trở về nhà là hết, tất cả các hoạt động về sau đều không được ghi tải lại (Phật bổn hành tập kinh cũng như vậy). Mã Minh viết bộ "Phật Sở Hành Tán" cũng là trích từ các loại truyền thuyết và viết đến Phật nhập diệt (chết) thì dừng. (Ngoài ra, Mã Minh còn viết phần tụng Quy kính trong một tác phẩm khác là "Đại Trang nghiêm luận kinh"; Quy Kính không chỉ là một bộ phái mà trong đó bao gồm Độc tử bộ, cho thấy là truyện được thu thập rộng trong quần chúng mà thành).

Sau khi thành đạo, Thích Ca đã tổ chức thành một đoàn thể, sáng lập ra nhiều quy chế, trong đó có 1 quy chế gọi là "An Cư". Từ trong các tư liệu hiện tồn tại, sau khi thành đạo trong vòng 45 năm, mỗi địa điểm trong kỳ An Cư đều có ghi tải hợp lý. Thứ nhất, Phật thường ở tại thành Vương Xá (thủ đô của Ma kiệt đà); thứ hai, hơn 20 năm ở tại thành Xá Vệ (thủ đô nước Kiều Tát La). Như thế căn cứ theo sử ghi lại, có thể biên soạn đại khái về hành sự của Phật trong 45 năm. Ðiều này chứng minh Truyện Ký của Thích Ca là có tính chân thật.

Ngang qua tác phẩm "Ấn độ Phật học sử lược" chúng ta có thể thấy phần nào về những việc làm trọng tâm trong cuộc đời của đức Phật, đại khái như: Thuở thiếu thời được giáo dục một cách nghiêm túc, khi trưởng thành lập gia đình, sinh con, năm 29 tuổi xuất gia, đến nước Ma Kiệt Ðà tìm thầy học đạo nhưng không thoả mãn, trải qua 6 năm khổ hạnh vẫn không hài lòng, cuối cùng tự ngài tư duy sáng lập học thuyết mới vào năm 35 tuổi. Từ đó, đức Phật bắt đầu tuyên dương giáo pháp, trải qua tròn 45 năm. Những nơi mà đức Phật thường nói pháp là 3 nước trung tâm: Ma Kiệt Ðà, Kiều Tát La và Bạt Sa; phía đông đến Chiêm Ba, phía tây đến Ma Thâu La, phạm vi khá rộng.

Tại sao Thích Ca xuất gia? Học thuyết của ông ta phản ảnh gì nội dung của xã hội?
Đương thời sự tự do tư tưởng ở Ấn Độ rất phát triển, không ít những tư tưởng gia xuất thân từ Sát Đế Lợi. Bà La Môn có rất nhiều vấn đề không hiểu còn phải thỉnh giáo với Sát Đế Lợi. Và như thuyết "Luân Hồi" là do vua Bát-phược-ha-na thuộc giai cấp Sát Đế Lợi sáng lập, những lời dùng để cúng tế của Bà La Môn cũng do từ thuyết này, và phát triển thành lý luận "nghiệp lực", được xem như là "bí thuyết" để tôn thờ. Lúc bấy giờ cảnh ngộ của Thich Ca là nếu không thể đề cao được địa vị chính trị của nước nhà thì cá nhân phải dành được quyền lãnh đạo trên học thuật và tư tưởng.

Theo truyền thuyết, sau khi Thích Ca sanh ra, thì các nhà tướng số đoán rằng ông ta trong tương lai nếu không làm Chuyển luân vương, tất thành nhà đại tư tưởng, phản ảnh đúng với đương thời của ông ta đối diện với hiện thực là phải áp dụng chọn lấy con đường là "nếu không cái này thì phải cái kia."

Ngoài nguyên nhân Thích Ca xuất gia đó, cũng có những nguồn thuyết khác như nói ông ta thấy sự khổ đau của người bệnh, người già, người chết và đồng thời thấy đời sống tự do tự tại của vị Sa môn mà khởi lên ý niệm xuất gia. Còn có thuyết cho rằng ông ta nhìn thấy nông dân cuốc đất và những côn trùng trong đất bị chim ăn, nhưng người nông phu vẫn thản nhiên, không mãy mai nghĩ đến sự cao quí của sinh mệnh. Cảnh tượng ấy khiến ông ta có cảm nghĩ rất sâu sắc về vô thường và bất hạnh v.v.., có phải chăng ông ta cũng thấy được sự thống khổ của người nông dân cày ruộng? Trung Quốc có một số tư liệu ghi chép: khi ra khỏi hoàng cung, tiếp xúc những hiện tượng sinh hoạt của xã hội khiến ông ta khởi sinh khái niệm "thế giới là khổ đau". Sự ghi tải này không được thiết thực và minh bạch lắm, nhưng nói nông vụ là khổ, là có liên quan đến học thuyết của ông ta. Theo ghi tải ủng hộ học thuyết của Thích Ca có vua Tần Bà Sa La nước Ma Kiệt Đà rất kính phục ông ta và còn cúng dường cho một nơi để tuyên truyền giáo pháp là tịnh xá Trúc Viên. Về sau ông lại được dòng tộc ủng hộ, sau đó được vua Ba Tư Nặc (Thắng Quân) nước Kiều Tát La ủng hộ. Ngoài ra các đại phú thương như Tu Đạt Đa (Cấp Cô Độc) v.v... và một số người đều là những thí chủ đắc lực của Thích Ca. Căn cứ truyền thuyết, giảng đường Đông viên Lộc Tử Mẫu là do một cô dâu mới giàu có bán những tư trang (của hồi môn) quý để cúng dường dựng nên. Sau này Thích Ca có đi đến thành Phệ Xá Ly, ở đây nguyên là vùng phạm vi thế lực của Kỳ Na giáo, hoạt động rất khó khăn, nhưng Thích Ca cũng đương nhiên được Am Ma La Vệ hiến cúng cho một tịnh xá (kinh Duy Ma có đề cập đến tịnh xá này). Về thân phận của Am Ma La Vệ thì có thuyết cho là một trưởng giả và cũng có thuyết cho rằng là một kỷ nữ, nhưng bất luận thế nào, tiền tài đều đến từ các giai cấp phú hào.

Trong các đệ tử Phật, khởi thủy với năm vị tỳ khưu, kế đến là thương nhân Da Xá. Da Xá một lần dẫn lại 60 môn đồ. Xét từ những người ủng hộ Phật, đều là Sát Đế Lợi, Đại phú hào, học thuyết của Thích Ca là đại biểu cho lợi ích giai cấp là điều khỏi nói mà rõ rồi.
(còn tiếp)
Chưa xemBởi viêndung
Tiết Thứ Hai: Sự Cấu Thành của Phật Học Nguyên Thủy.

    - Hình thức tổ chức học thuyết khi Thích Ca còn tại thế.
    - Một số kệ tụng còn lại trong Tạp Tạng.
    - Quá trình giải thích luận A Tỳ Đạt Ma của Nguyên thủy.
    - Truyền thuyết cuộc kiết tập lần thứ nhất sau Phật nhập diệt.
    - Sự truyền thừa Kinh Luật.
    - Căn nguyên xã hội và nội dung của học thuyết.
    - Khuynh hướng phản bác tư tưởng Duy vật.
    - Việc lấy và bỏ các học thuyết đương thời.
    - Phân biệt luận và Trung đạo.
Kết cấu của Nguyên thủy Phật học có 2 phương diện: hình thức và nội dung.
Một số tín đồ hậu thế tin tưởng rằng "Kinh", "Luật" được bảo tồn hiện tại đã có trong thời đại Thích Ca. Như thế thì hình thức của nó như thế nào? Thích Ca tuyên dương thuyết của ông, trước sau 45 năm khu vực truyền bá cũng tương đối rộng. Ông cũng cho phép đệ tử của ông dùng tiếng địa phương để truyền tập. Lúc tuyên dương cần phải có một hình thức biểu đạt nhất định, theo tập tục lúc bấy giờ là khẩu truyền, dựa vào sự ghi nhớ các đệ tử ông chọn lấy hình thức kệ tụng để truyền dạy lẫn nhau, vì hình thức kệ tụng ngắn gọn có vần điệu, tiện cho khẩu tụng và dễ dàng nhớ lâu.

Trong Luật tạng của các bộ phái còn bảo tồn một số tư liệu nói về sự tụng kinh của đệ tử Phật. Những bản kinh đó là: Nghĩa Túc Kinh (bản Hán dịch thành 1 bản lưu hành riêng, còn văn Pali thâu lại trong "Kinh tập"); Ba La Diên kinh, Đại Trí Độ luận, Du Già Sư Địa luận (bản Hán dịch trong các kinh ấy đều có trích dẫn, văn Pali thì gom lại trong Kinh tập); kinh Pháp Cú (trong tạng Hán và Pali đều có bản riêng) v.v... tất cả đều là hình thức kệ tụng. Những kệ tụng ấy có một số thuộc loại không ai hỏi mà tự Phật nói, một số thì vấn đáp lẫn nhau. Ngoài ra tại thời gian nào, tại địa điểm nào, nói với những đối tượng nào v.v... đều có ghi chép lại, gọi là "Duyên Khởi".

Thiết tưởng, dùng kệ tụng làm trung tâm nghĩa lý của nó nhất định phải trãi qua quá trình giải thích mà tiếp tục phát triển. Những loại giải thích đó gọi là "A Tỳ Đạt Ma", dịch ý là "Đối pháp", "Kinh phật" tức pháp có tính quy phạm mẫu mực. Giải thích pháp thì gọi là Đối pháp, đối với hình thức của Đối pháp có mấy loại dưới đây:
1. Ưu ba đề xá (nghị luận), nó đơn thuần là giải thích những gì Phật nói, từ đơn giản đến tường tận từng bước đi sâu vào, chính Thích Ca cũng từng sử dụng qua cách giải thích này như trong kinh Đại Duyên Phương Tiện thuộc Trường A Hàm, chính Phật dùng phương pháp này để giải thích lý luận Duyên Khởi.
2. Ma Đát Lý Ca (bản mẫu), đây là những gợi ý về phương thức giải thích những điểm chính yếu của toàn văn, gọi là 'bản mẫu', nghĩa là từ những trọng điểm đơn giản này mà có thể phát sinh ra nhiều đạo lý, như người mẹ sinh con vậy. Loại này có khi chính phật và cũng có khi các đệ tử của phật thực hiện.
3. Quyết trạch, tức là trong các bài pháp khác nhau lựa ra một bài. Đây chủ yếu là đối với phương thức dùng để chọn lựa danh tướng, bởi vì có nhiều ý nghĩa danh tướng tương tự, để quyết định hàm ý của nó phải thiết lập một số môn loại để phân biệt, nói chung là sắp xếp theo thứ tự số chữ từ một pháp đến 10 pháp do đó gọi là pháp 'Thập thướng' hay pháp 'Tăng nhất'. Từ mười pháp trở lên cũng có như 'Mười hai nhân duyên' v.v... nhưng tương đối ít. Làm như vậy vừa thuận tiện cho việc xiển dương truyền bá và vừa dễ nhớ.

Qua những tình huống đã thuật ở trên, có thể thấy hình thức lưu trữ lời Phật nói là dùng kệ tụng làm chính, phụ thêm là phần duyên khởi, từ đó phát triển thành "A Tì Đạt Ma". Sau khi phật nhập diệt, hình thức đó được giữ cố định để truyền lại. Theo truyền thuyết, phật nhập diệt không lâu, tại hang Thất diệp ngoài thành Vương xá, có một cuộc kết tập gồm 500 người, lần kết tập này được ghi chép trong Luật tạng của các bộ phái, nội dung cơ bản giống nhau, nhưng có một số bộ phận nhỏ không giống nhau, vì mỗi bộ phái tự thêm vào hoặc giảm đi. Tham gia trong lần kết tập có đại đệ tử phật là Ca Diếp chủ trì. Phương thức là tụng tập thể, tức là chỉ định một người đọc lại lời phật nói, sau đó mọi người thẩm định lại, công nhận đó chính là lời Phật nói, thì lấy làm cố định để lưu truyền. Phương thức ấy vẫn được sử dụng trong những lần kết tập về sau.

Nội dung kết tập lần này, theo truyền thuyết, gồm có Kinh và Luật, thậm chí có cả Luận (A Tì Đạt Ma). Có Kinh, Luật là có thể có thật nhưng có cả Luận thì trên căn bản không thể tin được. Phải chăng, ngay sau khi Phật diệt độ liền có một cuộc kết tập? Điều này cũng rất là khó nói. Theo lý mà nói là nên có một lần cụ thể như thế. Đặc biệt là vấn đề giới luật do phật nói, chắc chắn cần phải có những điều khoản được tất cả nhất trí công nhận. Trong những bộ Luật mà các bộ phái truyền thừa có thể thấy ra có một loại thống nhất vào lúc đầu, hoặc là nó được sanh ra trong kỳ kết tập đầu tiên.
Kinh điển của lần kết tập đầu tiên có phải là "A Hàm" không? Dường như không phải! Vì trong "A Hàm" có đề cập đến 9 hình thức mà phật thuyết pháp.
1) Kinh, là văn xuôi đơn giản ngắn gọn.
2) Ứng tụng-Trùng tụng, là lập lại văn xuôi.
3) Ký biệt, là giải thích đạo lý lập đi lập lại nhiều lần.
4) Kệ tụng, những bài kệ riêng lẻ.
5) Tự thuyết tụng.
6) Như thị ngữ, là nói về những chuyện quá khứ.
7) Bản sanh.
8) Vị tằng hữu.
9) Phương quảng.
Theo ngài Giác Âm (Buddhagosha) giải thích, chín phần giáo hiện còn là một bộ phận của Kinh (văn Pàli thì xếp vào Tiểu bộ, Hán dịch thì để trong Tạp tạng), cho nên có nhiều khả năng lần kết tập thứ nhất là hình thức của chín phần giáo, về sau mới biên tập lại thành A Hàm.

Tiêu chuẩn của biên tập "A Hàm":
1) Căn cứ vào sự dài ngắn của kinh mà phân loại. Như những kinh văn dài được xếp vào Trường A Hàm; những bài kinh ngắn thì nhập vào Tương Ưng (đem những việc tương tự xếp lại thành một loại. Hán văn gọi là "Tạp A Hàm", Pali gọi là Tương Ưng bộ); những bài kinh trung bình không dài, không ngắn thì vào Trung A Hàm. Ngoài ra còn một loại sắp theo thứ tự số mục, thì cho nhập vào "Tăng Nhất A Hàm".
2) Dựa theo ứng dụng của kinh để phân loại. Hơn phân nửa "Trường A Hàm" là để đối ngoại, như "Sa Môn Quả kinh" là bài kinh có nội dung bài xích Lục sư ngoại đạo; kế đến những kinh chuyên sâu học tập thì được biên tập vào Trung A Hàm; những kinh trình bày đạo lý tu tập thiền định thì biên tập vào Tạp A Hàm; những kinh để truyền bá rộng rãi thì biên tập vào Tăng Nhất A Hàm.

Sự biên tập A hàm được hình thành vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt. Từ đó về sau có khá nhiều quan điểm khác nhau về sự biên tập A Hàm và Luật bộ, có thể nói sở dĩ có sự bất đồng này, do liên quan đến sự truyền thừa giữa thầy và trò.
Căn cứ vào truyền thuyết, "Kinh" là do "A Nan" tụng, "Luật" là do "Ưu Ba Ly" tụng, đương nhiên mỗi bên đều có hệ thống riêng. Truyền thuyết còn nói đến "Phú Lâu Na" có ý kiến bất đồng với sự kết tập, điều đó cho thấy ông ta cũng có một hệ thống khác. Lần kết tập thứ 2, "A Na Luật" (cũng là một đại đệ tử phật) cũng có một hệ thống kết tập riêng. Những sự việc trên đều có ảnh hưởng đến sự rạn nứt chia rẽ về sau.

Liên quan đến nội dung về lời dạy nguyên thủy của đức Phật, trong "Thích Ca truyện ký" có một số ghi chép. Ông ta từ lúc xuất gia đến đắc đạo, đến truyền giáo đều không thể tách rời lợi ích giai cấp Sát đế lợi, vốn là nơi xuất thân của ông. Ông ta phải thay thế Sát đế lợi để giải quyết những vấn đề nan giải về sự hỗn loạn tư tưởng của xã hội đương thời. Lý luận triết học của ông ta đặc biệt là một triết học thực tiễn (triết học nhân sinh) đã áp đảo được triết học Bà La Môn giáo đương thời, điều này đã khiến cho tổ quốc của ông ta là Ca Tỳ La Vệ dành được địa vị. Do nguyên nhân đó mà được tôn xưng là Thích Ca Mâu Ni (bậc thánh của dòng họ Thích Ca). Trên điểm này, đối với tiền đồ tổ quốc của Thích Ca có được một sự giúp ích rất lớn. Thí dụ như về gần cuối đời, Thích Ca đặc biệt dùng nhiều thời gian truyền đạo tại Kiều Tát La, từ đó hòa hoãn sự uy hiếp của Kiều Tát La đối với Ca Tỳ La Vệ.

Đối với nguồn gốc các loại giai cấp của xã hội, học thuyết của Thích Ca có khuynh hướng phản đối chủ nghĩa duy vật là điều rất tự nhiên. Đối với Lục sư (the six heretical teachers) đương thời ông ta đều phản đối, nhưng có điều tư tưởng của ông ta trên mọi phương diện đều mang sắc thái dung hòa không cực đoan. Đó là điểm ông ta tương đối thành công, cho nên nhận được sự ủng hộ của các chủng tộc đương thời, thậm chí một số tư tưởng gia của Bà La Môn cũng đi theo ông ta. Thí dụ: ông ta một mặt không tán thành Bà La Môn duy trì chủng tánh trị (không phản đối trên căn bản) nhưng mặt khác lại có phần tương đối ủng hộ chủng tánh trị (dòng dõi trị). Lấy quan điểm ngũ giới là căn bản đạo đức của xã hội đương thời để nói, thì Bà La Môn và Kỳ Na Giáo đều dùng 5 giới này làm tiêu chuẩn đạo đức, Thích Ca cũng làm theo nhưng không hoàn toàn đồng ý, nên loại bỏ giới ly dục và thay vào đó là giới không uống rượu.
Lại như Thích Ca chủ trương xuất thế, đối với thế giới ông ta đánh giá là phủ định-"Không" và tuyên giảng niết bàn, điều này tương đối tiêu cực. Mặt khác ông ta giảng cho quần chúng bố thí và giữ giới, cho rằng chỉ cần vui làm việc thiện và ưa thích bố thí, tức có thể đạt được hạnh phúc, lên cõi thiên đàng. Việc này so với sự khổ hạnh, điều kiện tế lễ hà khắc của Bà La Môn thì giản dị dễ làm hơn nhiều, cho nên được quần chúng nhất là giới thương nhân rất hoan nghênh.

Thích Ca đã từng tham vấn và học tập qua các bậc học giả nổi danh lúc đương thời cho nên học thuyết của ông ta có thể đối với các lý luận thêm phần giám định phân biệt, chọn lọc cái hay, nội dung thì liên hệ rất chặt chẽ với các học thuyết lúc bấy giờ. Lúc đương thời các học thuyết có hai hệ thống:
-Một là, tư tưởng Bà La Môn nhận định rằng vũ trụ là do một nguyên nhân căn bản chuyển biến mà đến, tức là dùng thuyết "Nhân trung hữu Quả" (trong nhân có quả) để chỉ đạo thực tiễn, tức lấy việc tu thiền định làm chủ yếu, thông qua tu định để đi đến nhận thức được cái nhân căn bản thì có thể đạt đến cảnh giới giải thoát.
-Hai là, tư tưởng phi Bà La Môn nhận định rằng sự vật do nhiều nhân kết hợp mà thành, tức là dùng thuyết "Nhân trung vô Quả" (trong nhân không có quả) để chỉ đạo thực tiễn, hình thành làm hai phái: một phái thực hành con đường khổ hạnh, một phái tìm cầu sự khoái lạc.
Thích Ca đối với hai hệ thống tư tưởng trên đều không chấp nhận, nên tự mình đưa ra thuyết Duyên khởi, cho rằng các pháp nương tựa lẫn nhau, cùng làm điều kiện sanh diệt cho nhau, tức không phải một nhân sanh nhiều quả, và cũng không phải nhiều nhân sanh một quả, mà là làm nhân quả cho nhau. Thuyết này, một mặt đả phá thuyết "nhất nhân luận" của Bà La Môn, có khuynh hướng vô thần luận, mặt khác tuy không triệt để nhưng tin tưởng sử dụng thuyết "nghiệp lực", nhìn nhận tác dụng của "nghiệp" là tương đối trọng yếu.

Hai hệ thống vừa nêu trên đều dùng Bản thể luận làm chỗ y cứ, nhưng học thuyết của Thích Ca không đề cập thảo luận những vấn đề liên quan Bản thể luận, như ông ta đề xuất 14 vô ký (ký là phân biệt, tức là 14 vấn đề này không cần phân tích giải thích), đó là: Vũ trụ là thường hay vô thường? Vũ trụ là hữu biên hay vô biên? Sinh mệnh sau khi chết là còn hay không còn? Sinh mệnh và thân là một hay là khác v.v... (3 loại đầu mỗi loại chia làm 4 vấn đề như: thường, vô thường, hữu thường vô thường, phi hữu thường phi vô thường v.v...; loại sau lại phân thành 2 vấn đề tổng cộng 14 vấn đề). Đối với giới học thuật đương thời, các vấn đề này là đề tài được đưa ra cùng thảo luận, nhưng riêng Thích Ca thì ngược lại, không chịu thảo luận, với lý do là các vấn đề đó không liên quan đến đời sống thực tế con người, dầu có thảo luận cũng không giải quyết giúp ích được gì, cho nên trong nhân quả luận, ông ta né vấn đề cái gì là "nhân thứ nhất".

Học thuyết của Thích Ca cũng có đặc điểm riêng, đó là từ đầu đến cuối luôn luôn sử dụng thái độ phân tích so sánh từng vấn đề, nên lựa chọn con đường nào trong hai cực đoan (hưởng thụ và khổ hạnh)?, và cuối cùng ông ta đưa ra thuyết "trung đạo". Như thế quan điểm của ông ta đã có phần nào tiếp cận với Biện chứng pháp. Thuyết Trung đạo của ông ta đặt nặng trên phương diện hành động thực tế. Như ông ta cho rằng quan điểm của những nhà duy vật đương thời lấy khoái lạc làm mục đích cho nhân sinh là không hợp lý, và nhận định Ni Kiền Tử chủ trương khổ hạnh cũng là không hợp lý, chỉ có trung đạo -không khổ không vui- mới là đúng. Về sau, ông ta lại đem tư tưởng ấy phát triển thành hệ thống lý luận, không nghiêng về một bên, không đi về một chiều. Ông ta tự nói rằng: Ta là người phân biệt luận, chẳng phải là người luận bàn thiên về một bên. Tư liệu đề cập đến quan điểm này một cách sớm nhất là phẩm Nê Hoàn trong kinh Pháp Cú, nói như vầy: "Pháp trở về phân biệt, bậc chân nhân hướng về tịch diệt". Như thế đã cho thấy rõ nội dung Phật học nguyên thỉ là phân biệt luận.

Học thuyết của Thích Ca có hay không có sự kế thừa từ Thầy? Có người cho rằng trước Phật còn có Phật, cũng như Phật Ca Diếp vậy, kinh Pháp Cú là do Phật Ca Diếp truyền lại, và cũng có người nói, không phải chỉ có một vị Phật mà là bốn vị Phật. Vua A Dục đã lấy bốn vị Phật này làm đối tượng sùng bái.
(còn tiếp)