- Thứ 6 Tháng 11 21, 2025 9:14 pm
Truyền thuyết kể rằng Quan Hoàng Bảy là con trai đức vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh vua cha, ông hạ phàm và trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn thời Lê.
Nhân dân truyền tụng nhau rằng cuối thời Lê (1740 - 1786), khắp nơi tại phủ Quy Hóa, nhất là châu Thủy Vĩ và châu Văn Bàn (nay là tỉnh Lào Cai), thường xuyên bị giặc cướp từ Vân Nam (Trung Quốc) sang quấy phá. Chúng giết người không gớm tay khiến người dân lầm than. Triều đình Lê Trung Hưng lúc bấy giờ cử một vị tướng là Nguyễn Hoàng Bảy, con trai thứ bảy trong gia đình trung thần, lên trấn giữ miền biên. Ông dũng cảm, thông minh, vừa giỏi thao lược vừa thương dân. Ông lập doanh trại, chiêu mộ nghĩa sĩ và nhiều lần đánh tan giặc, giữ yên bờ cõi. Dân gian kính trọng gọi ông là Ông Hoàng Bảy.
Nhưng trong một trận chiến lớn, lực lượng giặc quá mạnh, ông bị bắt và hy sinh. Tương truyền khi ông bị giặc sát hại, trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình Ngựa Thần, thi thể ông phát ra đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình "tứ linh chầu hội". Người dân thương tiếc lập đền Bảo Hà, từ đó ông trở thành vị thánh trấn biên, phù hộ dân lành, bảo vệ mùa màng và ban ơn tài lộc.
Quan Hoàng Bảy và tín ngưỡng Tứ phủ
Theo sách “Hưng hoá lục”, đền thờ Quan Hoàng Bảy ở Bảo Hà được xây dựng từ cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng. Sau khi ông mất, ông được nhân dân thần thánh hóa thành một trong các vị “Quan Hoàng” trong hệ thống Tứ Phủ. Ông Bảy là ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, bởi vì trong hàng Tứ Phủ thì ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà có căn Ông Bảy thì thường rất thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa,…).
Khi ngự về đồng, ông thường hay mặc áo lam hoặc tím chàm (áo được thêu rồng kết uốn thành hình chữ Thọ), đầu đội khăn xếp, cài chiếc kim lệch có màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi lại cầm đôi hèo, cưỡi ngựa để đi chấm đồng. Đến giá, Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như là ông đã chấm đồng người đó.
Vua Minh Mạng (1820-1840) và vua Thiệu Trị (1841-1847) sắc phong cho ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc - Quan Hoàng Bảy Bảo Hà”. Đến năm 1997, đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chứng nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2016, lễ hội đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Nhân dân truyền tụng nhau rằng cuối thời Lê (1740 - 1786), khắp nơi tại phủ Quy Hóa, nhất là châu Thủy Vĩ và châu Văn Bàn (nay là tỉnh Lào Cai), thường xuyên bị giặc cướp từ Vân Nam (Trung Quốc) sang quấy phá. Chúng giết người không gớm tay khiến người dân lầm than. Triều đình Lê Trung Hưng lúc bấy giờ cử một vị tướng là Nguyễn Hoàng Bảy, con trai thứ bảy trong gia đình trung thần, lên trấn giữ miền biên. Ông dũng cảm, thông minh, vừa giỏi thao lược vừa thương dân. Ông lập doanh trại, chiêu mộ nghĩa sĩ và nhiều lần đánh tan giặc, giữ yên bờ cõi. Dân gian kính trọng gọi ông là Ông Hoàng Bảy.
Nhưng trong một trận chiến lớn, lực lượng giặc quá mạnh, ông bị bắt và hy sinh. Tương truyền khi ông bị giặc sát hại, trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình Ngựa Thần, thi thể ông phát ra đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình "tứ linh chầu hội". Người dân thương tiếc lập đền Bảo Hà, từ đó ông trở thành vị thánh trấn biên, phù hộ dân lành, bảo vệ mùa màng và ban ơn tài lộc.
Quan Hoàng Bảy và tín ngưỡng Tứ phủ
Theo sách “Hưng hoá lục”, đền thờ Quan Hoàng Bảy ở Bảo Hà được xây dựng từ cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng. Sau khi ông mất, ông được nhân dân thần thánh hóa thành một trong các vị “Quan Hoàng” trong hệ thống Tứ Phủ. Ông Bảy là ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, bởi vì trong hàng Tứ Phủ thì ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà có căn Ông Bảy thì thường rất thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa,…).
Khi ngự về đồng, ông thường hay mặc áo lam hoặc tím chàm (áo được thêu rồng kết uốn thành hình chữ Thọ), đầu đội khăn xếp, cài chiếc kim lệch có màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi lại cầm đôi hèo, cưỡi ngựa để đi chấm đồng. Đến giá, Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như là ông đã chấm đồng người đó.
Vua Minh Mạng (1820-1840) và vua Thiệu Trị (1841-1847) sắc phong cho ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc - Quan Hoàng Bảy Bảo Hà”. Đến năm 1997, đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chứng nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2016, lễ hội đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.