- Chủ nhật Tháng 10 26, 2025 4:35 pm
Ngoài Bắc có đền thờ thần Long Đỗ (rốn rồng) còn được gọi là thần Bạch Mã. Ông là vị thần coi giữ vùng đất Đại La, sau nầy là thành Thăng Long.
Thần Long Đỗ và Cao Biền
Năm 866, Cao Biền bên Tàu qua cai trị dân ta. Khi Cao Biền đang cho đắp thành Đại La thì thấy trời đất tối đen, giữa đám mây, hiện ra một người đầu đội mũ kết hoa đỏ, mặc áo màu tím, váy lụa, đi giày đỏ, đang bay lượn giữa mây mù, chung quanh tỏa hương thơm ngát, tiếng đàn sáo hòa quyện. Cảnh ấy kéo dài khoảng nửa tiếng khiến Cao Biền run sợ, vội đem vàng và đồng đúc thành một tượng theo hình dáng vị thần ấy. Sau đó còn dùng bùa để trấn yểm. Đêm đó, Cao Biền nằm mơ thấy vị thần ấy nói: “Ta là thần Long Đỗ, tinh anh của khí thiêng sông núi nơi đây, việc gì mà ngươi phải trấn yểm”. Sáng hôm sau, Cao Biền sai người đi xem lại những chỗ đã trấn yểm thì thấy đồng sắt đều tan nát. Biền kinh hãi than rằng: "Xứ này có thần linh, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ". Sau đó thì Cao Biền được vua Tàu triệu về và bị giết.
Sự tích tên đền Bạch Mã
Gần 200 năm sau, năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Khi nhà vua đi thuyền từ Hoa Lư ra đến thành Đại La, thuyền vừa cập bến thì vua thấy rồng vàng bay lên nên đổi tên Đại La thành Thăng Long. Nhưng khi cho đắp thành Thăng Long thì cứ đắp xong thì bị sụt lún. Nhà vua đến đền thần Long Đỗ cầu khẩn. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi một con ngựa trắng từ đền chạy ra, rồi chạy một vòng quanh thành Thăng Long rồi trở lại đền. Thần Long Đỗ dặn vua cứ theo dấu chân ngựa mà đắp thành. Sáng ra vua cho đắp thành theo vết chân ngựa thì không bị sụt lún nữa, nên Ngài cho tạc một con ngựa trắng và sắc phong cho thần Long Đỗ làm Quốc Đô Định Bang Thành Hoàng Đại Vương. Từ đó đền có tên là Bạch Mã.
Năm 1285, vua Trần Nhân Tông sắc phong hai chữ “Thánh hựu”. Năm 1313, vua Trần Anh Tông gia phong hai chữ "Phù Ứng", tấn tước "Đại Vương", phẩm trật "Thượng Tướng Thái Sư".
Ngày nay, cứ mỗi mùa xuân, đền Bạch Mã lại có lễ hội Nghênh Xuân, được bắt nguồn từ thời Lý thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa.
Thần Long Đỗ và Cao Biền
Năm 866, Cao Biền bên Tàu qua cai trị dân ta. Khi Cao Biền đang cho đắp thành Đại La thì thấy trời đất tối đen, giữa đám mây, hiện ra một người đầu đội mũ kết hoa đỏ, mặc áo màu tím, váy lụa, đi giày đỏ, đang bay lượn giữa mây mù, chung quanh tỏa hương thơm ngát, tiếng đàn sáo hòa quyện. Cảnh ấy kéo dài khoảng nửa tiếng khiến Cao Biền run sợ, vội đem vàng và đồng đúc thành một tượng theo hình dáng vị thần ấy. Sau đó còn dùng bùa để trấn yểm. Đêm đó, Cao Biền nằm mơ thấy vị thần ấy nói: “Ta là thần Long Đỗ, tinh anh của khí thiêng sông núi nơi đây, việc gì mà ngươi phải trấn yểm”. Sáng hôm sau, Cao Biền sai người đi xem lại những chỗ đã trấn yểm thì thấy đồng sắt đều tan nát. Biền kinh hãi than rằng: "Xứ này có thần linh, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ". Sau đó thì Cao Biền được vua Tàu triệu về và bị giết.
Sự tích tên đền Bạch Mã
Gần 200 năm sau, năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Khi nhà vua đi thuyền từ Hoa Lư ra đến thành Đại La, thuyền vừa cập bến thì vua thấy rồng vàng bay lên nên đổi tên Đại La thành Thăng Long. Nhưng khi cho đắp thành Thăng Long thì cứ đắp xong thì bị sụt lún. Nhà vua đến đền thần Long Đỗ cầu khẩn. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi một con ngựa trắng từ đền chạy ra, rồi chạy một vòng quanh thành Thăng Long rồi trở lại đền. Thần Long Đỗ dặn vua cứ theo dấu chân ngựa mà đắp thành. Sáng ra vua cho đắp thành theo vết chân ngựa thì không bị sụt lún nữa, nên Ngài cho tạc một con ngựa trắng và sắc phong cho thần Long Đỗ làm Quốc Đô Định Bang Thành Hoàng Đại Vương. Từ đó đền có tên là Bạch Mã.
Năm 1285, vua Trần Nhân Tông sắc phong hai chữ “Thánh hựu”. Năm 1313, vua Trần Anh Tông gia phong hai chữ "Phù Ứng", tấn tước "Đại Vương", phẩm trật "Thượng Tướng Thái Sư".
Ngày nay, cứ mỗi mùa xuân, đền Bạch Mã lại có lễ hội Nghênh Xuân, được bắt nguồn từ thời Lý thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa.