Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của tài khoản
Chưa xemBởi Dianichi
Chương I – Khái Niệm về Mật Giáo
Giáo Chủ Bí Mật

TAM THÂN PHẬT:
Đây là một lý thuyết của Phật Giáo, và luôn luôn khi chúng ta đọc một lý thuyết nào trong bất cứ tôn giáo nào, nó vẫn chỉ là một lý thuyết, là một tư tưởng về đạo chứ không phải là sự thật hay chân lý. Ai cũng có quyền suy nghĩ về đạo và đưa ra suy nghĩ của mình mà không bắt buộc ai phải tin cái suy nghĩ đó là đúng. Thuyết Tam Thân của Phật giáo được nhiều trường phái giải nghĩa một cách khác nhau vì nó rất trừu tượng. Ở đây ta sẽ nói theo cách dễ hiểu nhất. Và có ai không hiểu thì cũng không có sao, vì lý thuyết cũng không ảnh hưởng gì đến phước, nghiệp trong đời sống của chúng ta. Cho nên có biết chỉ để biết mà thôi, không phải để đi tranh luận đúng sai với đời.

Thuyết Tam Thân Phật nói: Một vị Phật có thể hiện thân qua ba cách khác nhau: Đó là Thân Pháp (Pháp Thân), Báo Thân và Ứng Thân.

Pháp Thân: Có thể hiểu là thân của Đức Đại Nhật Như Lai, cũng có thể hiểu là Phật Tánh. Phật Tánh hay Pháp Thân hiện diện ở khắp mọi nơi, là sự giác ngộ hoàn hảo, tuyệt đối, không thể nghĩ bàn.

Báo Thân: Có thể hiểu báo thân là những vị Phật trong vô hình, là hệ thống các Thánh, Thần, Thánh Linh...

Ứng Thân (Ứng hóa Thân): Là thân thể dưới thế gian được sanh ra và chết đi. Thí dụ như Đức Phật Thích Ca. Tuy nhiên các trường phái cũng cho rằng Phật Thích Ca cũng đại diện cho Tam Thân, vừa là Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân.

Qua Tam Thân mà những vị Phật vừa có thể thể hiện là chân lý tuyệt đối (Pháp Thân), vừa có thể hóa hiện thân thụ hưởng ở các cõi Tịnh Độ (Báo Thân), và vừa thể hiện là một con người bằng xương bằng thịt, có sanh, lão, bệnh, tử hay có thể hóa thân thành thường dân để giúp đỡ người khác (Hóa Thân).

Thuyết Tam Thân của Phật Giáo cũng giống như thuyết "Ba ngôi" trong Thiên Chúa Giáo. Thuyết này cho rằng Đức Chúa Trời (Đức Chúa Cha), Đức chúa Giê su (Đức Chúa con) và Đức Chúa Thánh Thần (Thánh linh) tuy ba nhưng là một. Đây chỉ là một trong những giáo điều của Thiên Chúa Giáo. Giáo điều là những điều mà Giáo Hội bắt buộc tín đồ phải tin là sự thật.
Chưa xemBởi VTHB
Chú giải các thuật ngữ, khái niệm của Phật giáo, một số từ Hán Việt, từ cũ ít dùng.

Chương I – Khái Niệm về Mật Giáo

Phần I. Giáo Chủ Bí Mật

  1. Siêu việt tri kiến: Tri kiến là thấy biết, trải nghiệm thực tế, trực tiếp qua giác quan và ý thức. Siêu việt tri kiến là kinh nghiệm vượt lên trên hẳn những hiểu biết thông thường.

  2. Thường tịch quang Tịnh độ: Cõi Tịnh Độ nơi Đức Đại Nhựt Như Lai an trụ, không sanh diệt (nên gọi là Thường), không phiền não nhiễu loạn (nên gọi là Tịch), và có ánh sáng trí tuệ (nên gọi là Quang).

  3. Tự thể: Bản chất cốt lõi có sẵn.

  4. Pháp Tánh: Là thể tánh chân thật, tự nhiên bất biến của hết thảy chúng sanh, sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Nói cách khác, Pháp Tánh chính là chơn lý của vũ trụ.

  5. Bát-nhã: Nghĩa là cái biết siêu việt. Bát Nhã là khái niệm chỉ một thứ trí huệ không phải do suy luận hay kiến thức đem lại, mà là trí huệ của sự hiểu biết một cách toàn triệt.

  6. Kiến giải: Nhận thức, ý kiến hiểu biết đối với một vấn đề gì.

  7. Thể nhập: Chỉ trạng thái hòa nhập, hòa hợp

  8. Thể nhập: Nhập vào trạng thái bất di bất dịch.

  9. Đại Linh Quang: Đây là cách mà đạo Cao Đài gọi Đức Thượng Đế. Cao Đài cho rằng linh hồn là do Thượng Đế tạo ra. Đấng Thượng Đế là Đại Linh Quang (Đại Hồn), còn con người là Tiểu Linh Quang (Tiểu Hồn).

  10. Thọ dụng: Thụ hưởng, nhận để dùng.

  11. Ba-la-mật: Còn gọi là Ba la mật đa, được dịch các nghĩa là: Đáo bỉ ngạn (đến bờ bên kia), Độ vô cực (đến nơi không giới hạn), Sự cứu cánh. Thuật ngữ này chỉ các công hạnh của một vị Bồ Tát trong quá trình tu tập theo Phật Giáo Đại Thừa để đưa chúng sanh đến bờ giải thoát.

  12. Đại kiếp: Là một đơn vị tính thời gian theo quan điểm của Phật Giáo. Một đại kiếp tương đương với 1,4 tỷ năm. Ba đại kiếp sẽ tương đương 4,2 tỷ năm.

  13. Hoá Thân Phật: Đây là thân tướng do các Bồ Tát tạo ra, bằng xương bằng thịt trên thế gian để giáo hóa chúng sanh.

  14. Lý thể: Nền tảng, bản thể của muôn sự muôn vật.

  15. Đại Bi: Lòng trắc ẩn rộng lớn, yêu thương bình đẳng, xem mọi chúng sanh đều như nhau.

  16. Hồi hướng: Dùng thiện căn công đức tu hành của mình để hướng về mục đích hoặc tự làm lợi ích cho chính mình, hoặc làm lợi ích cho người khác.

  17. Loài bò, bay, máy, cựa: được dùng để chỉ tất cả các loài sinh vật trong thế gian này, không sót loài nào. Bò: những loài bò trườn như rắn, giun,…. Bay: những loài có cánh, biết bay (muỗi, ruồi, ong, bướm…). Máy: nghĩa là ngọ nguậy, động đậy – chỉ những loài nhỏ li ti như vi trùng, ấu trùng,… Cựa: những loài có chân cựa quậy, cào bới như dế, cào cào, châu chấu.

  18. Kiềm toả: Xiềng xích ràng buộc.

  19. Vô minh: Sự thấy lầm, sự mê lầm, không sáng suốt, không thấy rõ thực tướng của pháp, của vạn hữu.

  20. KAMAKURA: Là một thời kỳ kéo dài từ năm 1192 tới năm 1333 trong lịch sử Nhật Bản.

  21. Vân du: Đi nay đây mai đó, không có cố định. Cho nên người ta mới so sánh như đám mây bay vô định.

  22. Quan Âm Hóa Ngư Lam: Tích Quan Âm Bồ Tát hóa thành thiếu nữ xinh đẹp tay cầm giỏ đựng cá chép.

  23. Rắp ranh: Ý đồ, liệu tính sẵn chờ có dịp là thực hành.

  24. Bắn sẻ: Chỉ việc cầu hôn. Tích xưa ghi: Đậu Nghi thời nhà Đường có cô con gái muốn kén rể, bèn hoạ hình chim sẻ trên tấm bình phong, ai bắn được trúng mắt chim sẽ gả con gái cho. Lý Uyên (sau trở thành hoàng đế Đường Cao Tổ) bắn trúng nên được cưới con gái Đậu Nghi.

  25. Bát-nhã Tâm kinh: Còn được biết đến với tên gọi là Bát Nhã Ba la mật–đa Tâm Kinh, là bài kinh ngắn nhất trong hệ thống kinh Bát Nhã Ba la mật gồm 600 cuốn.

  26. Thường trụ: Vĩnh cửu, bất diệt, không ngừng.

  27. Tam Mật: Gồm Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Đức Đại Nhựt Như Lai bản thể khắp thời gian không gian là Thân mật. Tiếng nói khắp thời gian không gian là Ngữ mật. Thức đại khắp thời gian không gian là Ý mật.
Chưa xemBởi VTHB
Chương I - Phần 2: Gia Trì Lực (ADHISTANA)

  1. Bồ Tát Đạo: Con đường tu hành mà mục đích chính là lợi mình lợi người, giúp đạt được sự giác ngộ, thành tựu quả Phật.

  2. Thúc bách ban sơ: Các bản năng sanh tồn cơ bản nhất của con người: nhu cầu ăn uống, ngủ nghỉ, sanh sản và tự vệ.

  3. Vạn hữu: Muôn vật, vũ trụ

  4. Vô Tận Tạng (AKSAYA): Tàng trữ vô biên vô tận không giới hạn. Vô Tận Tạng thường được dùng để chỉ công đức, trí tuệ và lòng từ bi của Phật và Bồ Tát là vô tận, không bao giờ cạn kiệt và không thể bị phá huỷ.

  5. Thiết định: Thiết lập, xác lập.

  6. Tam-Thập-Tam-Thiên: Là tầng trời có ba mươi ba cõi do Thần Đế Thích cai quản, còn gọi là Đao Lợi Thiên.

  7. Bản nguyện (bổn nguyện): Lời thệ nguyện, nguyện vọng ấp ủ từ lâu.

  8. Gia: Gia cố thêm, cho thêm vào, tăng thêm.

  9. Phương tiện (UPAYA): Còn gọi là phương tiện thiện xảo. Phương tiện có nghĩa là các phương pháp tiện dụng, các cách thức phù hợp với trình độ, căn cơ của chúng sanh mà Bồ Tát dùng để giáo hoá, hướng dẫn chúng sanh đi đến giác ngộ.

  10. Mông muội: Ngu dại, tối tăm, u mê

  11. Cảnh khống chế tột cùng: Là sự tham vọng (quyền lực, danh vọng, tiền tài...) một cách mù quáng và bất chấp hậu quả.

  12. Trang nghiêm thần biến: Thần thông, năng lực tạo ra các phép lạ.

  13. Đạo vô thượng: hay còn gọi là Đạo Vô Thượng Bồ Đề, chỉ sự giải thoát toàn diện, không chỉ cho bản thân mà còn cho tất cả chúng sanh. Đạo Vô Thượng Bồ Đề là trạng thái giác ngộ cao nhất trong Phật Giáo.

  14. Bồ Tát Hạnh: Là những hạnh nguyện và hành động của một vị Bồ Tát, hướng tới mục tiêu là tự mình đạt giác ngộ và cứu độ chúng sanh.

  15. Cứu cánh: Mục đích cuối cùng, giải thoát

  16. Bảy báu: bảy món báu vật gồm bánh xe vàng; voi trắng; ngựa xanh; thần châu; ngọc nữ; cư sĩ; và chủ binh.

  17. Tự tại: ung dung tự do, không bị ràng buộc. Trong kinh điển Phật Giáo, từ này được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô biên của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của phiền não.

  18. Bất khả tư nghì: Bất khả là không thể, Tư là nghĩ suy, Nghì (nghị) là luận bàn. Bất khả tư nghì nghĩa là không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được, không thể dùng ngôn ngữ, trí óc thông thường để diễn tả được.

  19. Trụ Địa: Nghĩa là "nơi trú ngụ", "chỗ ở" hoặc "căn cứ" của phiền não. Trụ Địa là những trạng thái tâm lý tiêu cực, những thói quen xấu khiến con người bị cuốn vào và không thể giải thoát khỏi luân hồi. Chứng các Trụ Địa là hiểu rõ về phiền não và giải thoát khỏi phiền não.

  20. Thọ ký: Nói trước cho biết về những quả vị mà người tu sẽ được thành tựu trong tương lai.

  21. Thế giới chủ: vị Phật cai quản một cảnh giới, một thế giới trong muôn ngàn thế giới của vũ trụ này.

  22. Khuyến thỉnh: Chí thành cầu thỉnh chư Phật và Bồ Tát quang lâm.

  23. Thập thiện: Mười việc thiện gồm 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không nói lưỡi đôi chiều; 6. Không nói lời ác, lời thô tục, độc địa; 7. Không nói lời phù phiếm vô ích; 8. Không tham dục lạc, sắc, danh, lợi; 9. Không sân giận, buồn chán; 10. Không si mê, lầm lạc, nghiện ngập.

  24. Hộ Thế: vị thần hộ pháp.

  25. Đế Thích (SAKRA): tên của một vị thần theo tín ngưỡng Ấn Độ Giáo. Trong Phật Giáo, Đế Thích là chủ của cõi Trời Đao Lợi.

  26. Phạm Thiên: Phạm Thiên là Thượng Đế – vị thần sáng tạo của vũ trụ này theo quan niệm của Ấn Độ Giáo. Tuy nhiên, Phật Giáo chỉ coi Phạm Thiên là chủ của một cõi trời.

  27. Trời Dạ–ma (YAMA): Đây là cõi trời của quỷ thần.

  28. Nhiếp tâm: Tâm chuyên chú vào một cảnh, tâm không bị tán loạn.

  29. Trời Đâu Suất (TUSITA), trời Hoá Lạc (NIRMITA), trời Tha Hóa Tự Tại (VASAVARTIN): các tầng trời trong cõi Dục. Chư thiên trong các tầng trời này sống trong sự hỷ lạc, vật chất sung mãn.

  30. Ma Vương: Còn gọi là Ma Ba Tuần, là vua của cõi Trời Tha Hoá Tự Tại.

  31. Phạm Vương: Trong Ấn Độ Giáo, Phạm Vương (BRAHMA) là Đấng Sáng Tạo, là Thượng Đế của vũ trụ. Tuy nhiên, Phật Giáo chỉ coi Phạm Vương (BRAHMA) là một vị vua cai quản cõi trời Sắc Giới.

  32. A–tu–la (ASURA): Nguyên gốc là ác thần trong thần thoại Ấn Độ cổ. Trong Phật Giáo, A–tu–la cũng là vị thần có tánh cách nóng nảy, bản tánh hiếu chiến. Nam thì hình dung xấu xa, nữ thì dung mạo rất đẹp.

  33. Như huyễn: Giống như huyễn hoặc, ảo ảnh, không có thiệt.

  34. Đại-Quang-Minh: Sự ánh chiếu, sự ứng hiện năng lực thần thông.

  35. Long Vương (NAGA): Vua loài rồng. Thường được dùng để chỉ các vị thần ở thủy giới như biển, sông, ao hồ.

  36. Dạ-xoa (YAKSA): Là các loài yêu thần, quỷ hung ác, thân hình xấu xí, ghê sợ, đi như bay trong không gian. Có ba loài dạ xoa, loài sống trên mặt đất, loài sống trong hư không và loài sống trên các cõi trời.

  37. La-sát (RAKSA): Loài hung thần ác quỷ, hình tướng và mặt mày rất ghê gớm, chuyên ăn thịt uống máu loài người. Nam La Sát có thân đen, tóc đỏ, mắt xanh; nữ La Sát giống như người phụ nữ xinh đẹp, đầy sức quyến rũ.

  38. Càn-thát-bà (GANDHARA): Quỷ thần chuyên việc tấu nhạc ca hát phục vụ âm nhạc ở cõi trời Đế Thích, nuôi mình bằng mùi hương và thân hình tỏa ra hương.

  39. Ca-lâu-da (GARUDA): Còn được gọi là Kim Sí Điểu. Là một loài thần điểu, nửa người nửa chim.

  40. Khẩn-na-la (KINNARA): Nửa giống người, nửa giống thần, gọi là “nhân phi nhân” có tài tấu nhạc, có âm thanh mỹ diệu, giỏi múa hát, là nhạc thần của Đế Thích.

  41. Ma-hầu-la-già (MAHARAYA): Rắn thần, vua các loài rắn, cũng thuộc về Nhạc Thần, hình dáng mình người đầu rắn.

  42. Nhân (MANUSYA): Người, con người, loài người.

  43. Phi-nhân: Danh từ chung chỉ cho những loài chúng sanh không thuộc loài người, như các loài Dạ-xoa, La-sát, Càn-thát-bà.

  44. Thanh-Văn (SRAAVAKA): Những người nghe hiểu Phật pháp, tu hành theo Tứ Diệu Đế mà chứng quả vị cao nhất là A-la-hán.

  45. Duyên-Giác (PRATYEKABUDDHA): Những bậc tu hành tự mình giác ngộ nhờ quan sát và suy tư đúng đắn mà thông đạt lý nhân duyên sinh, xuất hiện vào thời không có Phật và Phật pháp. Còn được gọi là Bích Chi Phật, Độc Giác Phật.

  46. Cứu cánh: Quả vị Phật cao nhất trong Phật Giáo Đại Thừa. Địa vị cứu cánh có nghĩa đắc được Phật quả tối thượng.

  47. Nhập Tam Muội: Chỉ trạng thái đại định, tự tánh như như bất động, chuyên tâm ở một cảnh không tán loạn.

  48. Năng lực thần biến: Năng lực thần thông biến hiện ra các thứ hình tướng và vạn vật.

  49. Vô tỉ: Rộng lớn vô cùng, không gì sánh được.

  50. Bí nhiệm: Bí mật và mầu nhiệm.

  51. Căn cơ: Nền tảng, nền móng. Nghĩa rộng ra căn là gốc rễ, cội nguồn và cơ là cơ duyên. Có căn cơ là có gốc rễ tâm linh tốt.

  52. Quyền thiệt: Chỉ dạy tùy thuận theo hoàn cảnh thế tục, tư chất và phong tục của con người.

  53. Thừa tiếp: Tiếp nhận nối tiếp nhau.
Chưa xemBởi VTHB
Chương I - Phần 3: Phép Quán Đảnh (ABHISEKHA):

  1. Gia bị: Là nhận được oai lực hộ trì của chư Phật và Bồ Tát.

  2. Dẫn độ: Tiếp dẫn, độ trì, dẫn dắt.

  3. A-xà-lê: Người có đủ phẩm hạnh và thành tựu làm thầy dạy đạo.

  4. Pháp khí: Những dụng cụ dùng trong lễ nghi tôn giáo. "Kham làm pháp khí" nghĩa là có thể tu hành được, có thể hoằng dương đạo pháp, cứu giúp cho chúng sanh bá tánh.

  5. Trần cấu: Nghĩa đen là bụi dơ. Trong Phật Giáo, trần cấu là những sự mê lầm, phiền não ở cõi trần tục. Xa lìa trần cấu là rời xa các nguồn gốc gây ra phiền não, quyết tâm tu hành tìm chân lý.

  6. Lợi tha: Đem lại ích lợi cho người khác.

  7. Khuyến phát: khuyến khích, giúp cho tăng trưởng, phát triển.

  8. Bậc đại-thừa căn khí: Người có khí chất có thể tu hành.

  9. Đạo tràng: nơi tu hành của sư tăng.

  10. Bí tạng: Kho kín đáo. Giấu kín không truyền cho người, gọi là bí; chứa đựng ở bên trong, gọi là tạng. Bí tạng có nghĩa là pháp mầu nhiệm của chư Phật, được chư Phật khéo giữ gìn, không tuyên nói một cách cẩu thả bừa bãi.

  11. Mật ngữ: Cũng gọi là Chơn Ngôn mật ngữ, hay Thần chú, Mật chú, Cấm chú. Mật ngữ là những âm thanh bí mật có khả năng hiển hiện thần oai linh nghiệm.

  12. Nhất Thế Chủng Trí: Trí huệ chỉ có Đức Phật chứng được. Đây là loại trí tuệ giác ngộ cao nhất, biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sanh.

  13. Bí ấn: Ấn khế bí mật do Mật Giáo lưu truyền.

  14. Cam lồ trí thủy: Cam lồ hay cam lộ, nghĩa là giọt sương ngọt. Trí là trí tuệ, còn thuỷ là nước. Cam lồ trí thuỷ ý chỉ Phật pháp được so sánh như dòng nước mát lành có thể rửa sạch các cấu bẩn phiền não của chúng sanh, giúp trí huệ tăng trưởng.
Chưa xemBởi VTHB
Chương I - Phần 4: Các Ký Hiệu Tạo Pháp Thuật:

  1. Chủng tử: Là mầm sống, hạt giống. Theo Phật Giáo, chủng tử là căn cốt, là cốt lõi, bản chất của một con người.

  2. Phiền não chướng: Tất cả phiền não do bảy thứ tình cảm (mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham thích) và sáu thứ dục vọng của sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác và ý nghĩ) tạo ra. Phiền não là chướng ngại sự giải thoát.

  3. Sở tri chướng: Trí thông thường của thế gian do bộ óc nhận thức được. Do trí này bị hạn chế bởi các giác quan của thể xác, nên con người chỉ thấy được cái bên ngoài, mà khó có thể nhìn thấy được tâm tánh, bản tánh thật của chính mình.

  4. Thật tướng: Bản chất chân thật. Thật tướng của các pháp có nghĩa là bản chất chân thật của mọi hiện tượng trong vũ trụ.

  5. An trụ: Tâm trí không thể bị tác động bởi ngoại cảnh.

  6. Thân tâm siêu thoát: Thân thể và tâm trí đã được thoát khỏi những trói buộc của sanh tử luân hồi, thoát khỏi khổ đau của đời sống.

  7. Niết Bàn: Được dịch nghĩa là Khổ diệt, Diệt độ, Tịch diệt, Viên tịch... Ý chỉ sự diệt bỏ được hết tất cả tham, sân, si để đạt đến trạng thái bình lặng tuyệt đối. Đây cũng là mục đích tối cao trong đạo Phật nên Niết Bàn cũng thường được hiểu là Giải thoát.

  8. Thiên Trước: Hay còn gọi Thiên Trúc, là tên gọi xứ Ấn Độ cổ đại.

  9. Hứa khả: Chấp nhận. Trong Mật Giáo, “hứa khả” là sự chấp nhận của Phật Thánh cho hành giả được tu học một phần Mật Giáo.

  10. Càn khôn: Quẻ Càn và quẻ Khôn trong kinh dịch, tượng trưng cho trời đất, vũ trụ.

  11. Bất tín: không tin tưởng, thiếu đức tin.

  12. Dị đoan: Mê tín dị đoan, tin mù quáng vào những điều mơ hồ nhảm nhí, không có căn cứ khoa học.

  13. Thiện niệm: Là những suy nghĩ, ý niệm mang tính chất tích cực tốt đẹp, hướng đến điều thiện lành.
Chưa xemBởi VTHB
Chương I - Phần 5: Đàn Pháp

  1. Pháp vị: Cũng gọi Phật pháp vị, hay Pháp trí vị. Pháp vị có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là hương vị của diệu pháp. Với nghĩa này, ý muốn nói Phật pháp rất sâu xa, cao thâm, phải nghiền ngẫm một cách tinh tế mới thể nhận được và sinh ra an lạc. Nghĩa thứ hai, chữ vị được hiểu là vị trí, địa vị. Pháp vị ở đây muốn nói là địa vị trong các pháp.

  2. Khế Ấn: Theo nghĩa hẹp, chỉ các hình tướng của các Chư Tôn được vẽ ở trên đàn pháp. Nhưng theo nghĩa rộng, khế ấn không chỉ là hình tướng của các Chư Tôn, mà còn là các thủ ấn. Thông thường khế ấn được làm bằng đất, hoặc được vẽ dưới đáy lư đàn pháp.

  3. Tam Mật: Tu ở trong đàn Hộ ma, phải có đủ 3 thứ: Tượng Bản tôn, lư hương, hành giả. Trong đó, tượng Bản tôn tượng trưng cho Ý mật, lư hương tượng trưng Khẩu mật, còn tự thân của hành giả thì tượng trưng cho Thân mật.

  4. Tứ Trí: Bốn Mạn đà la của phép Du già biểu thị cho bốn Trí Bồ Tát bên trong của Tỳ Lô Giá Na Phật là: Kim Cương, Quán Đỉnh, Liên Hoa, Yết Ma.

  5. Thể tướng: Bản thể và hình tướng, có thể hiểu là cấu trúc và hình dạng.

  6. Hữu tình: Trong Phật Giáo, “hữu tình” chỉ các loài có tình cảm, có cảm xúc, có khả năng cảm nhận như con người và động vật.

  7. Loài phi tình: Chỉ các loài không có tình cảm, cảm xúc như cỏ cây, sông núi, đất đá…

  8. Chủng tử tự: Chủng tử nghĩa là hạt giống, mang ý biểu trưng là bản tánh sâu xa, căn cốt của một linh hồn được hình thành và tích tụ nhiều đời nhiều kiếp. Tự là một ký tự, là chữ cái. Trong Mật Tông và Ấn Độ Giáo, “chủng tử tự của Chư Tôn” là một chữ cái (thường dùng chữ Phạn) để đại diện cho chư tôn Phật, Bồ Tát. Thí dụ, trong Kim Cang Giới, chủng tử tự của Đức Đại Nhựt Như Lai (VAIROCANA) là chữ ÚM.

  9. Quỹ trì: Quỹ là nề nếp, mẫu mực, phép tắc, khuôn phép, khuôn khổ. Trì là giữ gìn, giữ vững. Quỹ trì nghĩa là giữ gìn khuôn phép, biết luật và giữ luật không sai chạy.

  10. Lễ sám: Lễ sám hối, ăn năn hối cải về tội lỗi của mình.

  11. Nghi quỹ: Nghi thức, luật lệ, lề lối cách thức phải theo.

  12. Hoàn vũ: Cả vũ trụ; toàn thế giới.

  13. Anh linh: Sự huyền linh, cao quý thiêng liêng.
Chưa xemBởi VTHB
Chương I - Phần 6: Phép Hộ Ma

  1. Du-già: Tiếng Phạn “yoga”, âm Hán Việt là “du–già”, nghĩa gốc là chỉ cho cái ách, hay sự cột trói. Du-già là cách tu khổ hạnh xác thịt, để làm cho tinh thần hoàn toàn trong sạch. Ngoài ra Du–già còn có nghĩa hòa nhập, kết hợp. Đây là phương pháp tu hành của người Ấn Độ từ nhiều ngàn năm trước thời Đức Thích Ca ra đời, với mục đích làm cho cái tiểu ngã của cá nhân hòa nhập vào cái đại ngã của vũ trụ.

  2. Du-già hộ ma nghi quỹ: Những cách thức làm phép Du–già Hộ ma.

  3. Tức Tai Kiết Phật Ấn: Tức Tai (hay còn gọi Tiêu Tai) là phép giúp tai ách dần tiêu trừ, dứt được phiền não tham, sân, si. Thực hiện phép Tức Tai, ngoài đàn tràng, pháp khí thì còn kiết ấn, thệ nguyện tu hành theo các hạnh của chư Phật, Bồ Tát.

  4. Tăng ích cờ xí báu: Phép Tăng Ích giúp gia tăng những lợi ích trong đời sống như tuổi thọ, sức khỏe, sự thành đạt, tăng trưởng công đức. Làm phép Tăng ích, đàn tràng sắp xếp như dựng phướn báu.

  5. Hàng phục Kim Cang nộ: Phép Hàng Phục (Giáng phục, Điều phục) dùng để trừ tà, diệt ma, phá vỡ vô minh, những thế lực xấu ác vô hình gây tổn hại cho con người. Thực hiện phép này thì pháp đàn có vẽ những hình tướng Phẫn Nộ Vương, Hóa Thân phẫn nộ của Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát và các quyến thuộc, hộ pháp.

  6. Câu triệu Kim Cang câu: Phép Câu Triệu giúp tập trung những năng lực tinh tế của vũ trụ, từ các cảnh giới cao diệu khiến các điều thiện lành sanh khởi. Thực hiện phép Câu Triệu, trong đàn Hộ ma có vẽ Kim
    Cang Câu (móc câu Kim Cang), người tu quán tưởng dùng móc câu Kim Cang để kêu gọi những quyền năng từ chư Thiên.

  7. Kính ái Liên Hoa bộ: Tu luyện Phép Kính Ái để được người, trời, quỷ thần kính trọng và quý mến, cầu được chư Phật, Bồ Tát hộ trì. Trong phép kính ái, đàn Hộ ma có để ảnh tượng Phật A Di Đà và các quyến thuộc của Liên Hoa bộ.

  8. Thân Phổ Môn: Còn gọi là thân Pháp Giới, thân Kim Cang Giới. Vì muốn tiếp độ chúng sanh, Đức Đại Nhật dùng thần lực gia trì, hiện tướng thân khẩu ý khắp trong đường sanh tử để dẫn dắt những kẻ hữu duyên. Tất cả MANDALA đều là một thân không sai khác, là một thể của Phật Đại Nhật. Đó chính là thân Phổ Môn.

  9. Bồ Đề tâm: Là tâm hướng về sự giác ngộ.

  10. Quán nơi môn chữ A: Đại Nhựt Kinh Sớ giảng rằng chữ A là chủng tử của tâm Bồ Đề, người trì tụng chữ A đều có tâm Bồ Đề, và nhờ đó đạt đến Bồ Đề cao tột. Quán nơi môn chữ A có nghĩa là tập trung quán tưởng vào chủng tử tự A để đạt giác ngộ.

  11. Bạch cam lồ: Ý chỉ Phật pháp trong sáng, tốt lành, có thể rửa sạch phiền não, nuôi dưỡng thân tâm, tăng trưởng trí huệ.

  12. Nhiệt não: Những sự khổ não dày vò thân tâm, khiến chúng sanh bức rức, bồn chồn, đau đớn như bị nung nấu.

  13. Sanh tử giới: Vòng sanh tử, lục đạo luân hồi.

  14. Thế đế: "Thế" là thế tục, phàm tục, "đế" là chân thật, chân lý. Thế đế (còn gọi là Tục đế) nghĩa là chân lý của thế gian.
Chưa xemBởi VTHB
Chương II - Sự Truyền Thừa

    Chương 2: Phần - Sự Truyền Thừa

    1. Đoạn này hơi khó hiểu vì quá cô đọng. Chỉ cần tạm hiểu đại khái là: Đức Đại Nhựt Như Lai là giáo chủ của Mật Giáo và Ngài đã truyền dạy giáo pháp bí mật cho thị giả của Ngài là Bồ Tát Kim Cang Tát Đỏa.
      Kinh điển Phật Giáo đời sau lại ghi thêm rằng: Trong lúc Phật Thích Ca thiền định thọ hưởng pháp lạc ở những ngày đầu tiên vừa giác ngộ, thì Pháp Thân Phật (là Đức Đại Nhựt Như Lai) trên Trời đã thuyết giảng giáo pháp bí mật cho chư Bồ Tát, đứng đầu là vị Kim Cang Tát Đỏa. Và vị Kim Cang Tát Đỏa này cũng chính là Bồ Tát Phổ Hiền. Còn Đức Thích Ca là Ứng thân của Đức Đại Nhựt Như Lai.

    2. Ước: Đoán định một cách đại khái, áng chừng, ước chừng.

    3. Gió nghiệp: Sức nghiệp như gió. Ý nói chúng sinh bị trôi dạt trong biển sanh tử bởi nghiệp lực.

    4. Các căn đều đầy đủ: Chỉ các giác quan của con người.

    5. Chơn Ngôn Môn: Là pháp môn tu trì Chơn Ngôn thần chú. Chơn Ngôn Môn là một trường phái Mật Tông Phật Giáo của Nhật Bản, ra đời vào thế kỷ thứ 9, và được sáng lập bởi đại sư Không Hải.

    6. Muôn hạnh: Vô số các hạnh nguyện, hành động, việc làm thiện lành, tích cực của một vị Bồ Tát để cứu độ chúng sanh, giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau.

    7. Tịnh tâm: Bản tánh thanh tịnh của con người vốn đầy đủ. Tâm thanh tịnh thì thân nghiệp và khẩu nghiệp cũng thanh tịnh.

    8. Những việc làm đều vì kiến lập chúng sanh: Hành động lợi lạc cho chúng sanh, việc làm mang lại lợi ích cho nhân loại.

    9. Ước theo dụ: Nói một cách đại khái theo thí dụ.

    10. Bản giác: Tâm của chúng sanh vốn sẵn có tính giác ngộ sáng suốt, nhưng bị che bởi vô minh từ khởi thủy tới nay. Nhờ công tu hành mới tỏ rõ được tính giác ngộ sáng suốt đó, nên gọi là Bản giác hay Bổn giác.

    11. Năng dụng: Có công năng sử dụng, có công dụng thực tế.

    12. Thật tướng: Là một khái niệm chỉ bản chất chân thực của vạn vật. Đó là chân lý tối hậu, là mục tiêu hướng tới của người tu Phật Giáo.

    13. Hoặc chướng: Đồng nghĩa với phiền não chướng, là chướng ngại do mê mờ, do si mê.

    14. Thù thắng: Tính cách siêu tuyệt, hiếm có đặc biệt, ưu tú nổi bật.

    15. Chiến cụ: Là các loại khí giới, binh khí, dụng cụ được sử dụng trong chiến đấu.

    16. Đệ Nhất Nghĩa Không: Phật Giáo Đại thừa cho rằng nghĩa lý về Niết bàn và thật tướng các pháp là "Đệ nhất nghĩa cùng tột". Theo đó, "Đệ nhất nghĩa không" là cái lý về Tánh Không của "Đệ nhất nghĩa cùng tột". Nó hàm ý rằng trong Niết bàn cũng không có tướng Niết bàn, hay thật tướng các pháp đều là không. (Xem thêm "Lập trường Không Lý" bên dưới)

    17. Nam Thiên Thiết Tháp: Tòa tháp bằng sắt ở Nam Thiên Trúc. Thiết tháp xưa nay được giải thích bằng hai thuyết: Thuyết thứ nhất là Thiết tháp không có thiệt, chỉ mang nghĩa biểu tượng cho nội tâm của ngài Long Thọ, cũng tức là chỉ cho tâm tánh sẵn có của chúng sanh. Thuyết thứ hai tin rằng Thiết tháp có thiệt, tồn tại trong lịch sử.

    18. Đại Pháp: Pháp Đại Thừa, Pháp lớn lao

    19. Chú phúc: Chú nguyện và ban phước lành.

    20. Lập trường Không Lý: Còn gọi là lập trường về Tánh Không. Ngài Long Thọ chỉ ra rằng bản chất của tất cả các pháp hoàn toàn do duyên khởi mà có, và vì duyên khởi nên nó không chân thật, nó chỉ là như huyễn, không thật có, không có tự tánh riêng, là giả danh. Với tư tưởng này, Ngài Long Thọ khai sáng tông phái Trung Quán và viết ra tác phẩm Trung luận.
Chưa xemBởi VTHB
Chương II - Phần 1: Lược Sử Mật Tông Tây Tạng


  1. Thủ cựu: Bảo thủ, không chịu đổi mới.


  2. ATIYOGA: Đây là cấp độ cao nhất, còn gọi là Tối thượng thừa, trong chín cấp độ tu hành theo giáo lý của phái Cổ Mật.

  3. Trai giới đạo hạnh: Ăn chay và giữ giới, trau dồi đức hạnh.

  4. Hậu đại: Thời đại sau này.

  5. Lạt-ma: Giống như nghĩa Đạo sư (guru) của Ấn Độ. Ngày nay, Lạt-ma được dùng gọi các sư Tây Tạng, không kể trình độ chứng đạo của họ.

  6. Đạt-lai Lạt-ma: là danh hiệu nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng, có nghĩa là "Đạo sư với trí tuệ như biển cả".

  7. Phật La-hán: Chỉ Thánh nhân đã giác ngộ, đạt Niết-bàn.

  8. Nghiêm từ vinh diệu: Nghiêm trang, an lành, đầy vẻ vang, danh tiếng.

  9. Ban thiền: Nghĩa là một "Đại học giả".

  10. Tu định: Tu luyện tĩnh tâm tham thiền để đạt đại định.

  11. Đại Thủ Ấn: là một trong những giáo pháp của Kim Cang Thừa. Đại Thủ Ấn có nghĩa là tâm ấn của sự chứng ngộ được tính Không, của việc giải thoát khỏi luân hồi và sự thông hiểu rằng hai mặt đó không hề rời nhau.

  12. Bác học tăng: Nhà sư có hiểu biết rộng trên nhiều lãnh vực, có thể áp dụng nhiều mảng tri thức để giải quyết vấn đề.

  13. Ca-lăng-tần-già: Tên một loài chim, có nghĩa là tiếng hót vi diệu. Trong kinh điển Phật giáo, tiếng chim này thường được dùng để ví dụ cho âm thanh mĩ diệu của chư Phật và Bồ Tát.

  14. Viên dung: Sự kết hợp hài hòa hoàn hảo giữa tất cả các khác biệt.

  15. Tích trượng: Cây gậy có tra những vòng bằng thiếc hoặc đồng được các sư sử dụng đi khất thực. Tiếng kêu những vòng thiếc báo hiệu cho thí chủ có người đến khất thực và cũng được dùng để đánh động, xua đuổi dã thú.
Chưa xemBởi VTHB
Chương II - Phần 2: Lược Sử Mật Tông Trung Hoa

  1. Mật Giáo Tạp Bộ (Tạp Mật): Đây là thời kỳ đầu tiên của sự hình thành và phát triển Mật Giáo mà lịch sử nhân loại còn ghi lại được. Chữ “tạp” có nghĩa là nhiều thứ, nhiều loại lẫn lộn vào nhau, và thường là có chất lượng không tốt. Tạp Mật là thời kỳ mà Mật Giáo chưa có giáo thuyết thuyết giảng, tất cả sự truyền thụ đều là khẩu truyền, không có văn tự nào ghi chép lại. Việc thực hành Mật Giáo thời kỳ đó vừa có sự pha trộn của các tín ngưỡng dân gian, vừa sử dụng các bí thuật cấm chú của kinh Vệ Đà, vừa thực hiện các nghi thức cúng tế, phép Hộ Ma, và cách thức thiền định Du-già của Bà La Môn Giáo. Chính vì sự pha trộn này, mà người đời sau gọi thời kỳ khởi đầu của Mật Giáo là Tạp Mật.


  2. Mật Giáo Thuần Bộ (Thuần Mật): Chữ “thuần” có nghĩa là chỉ toàn một thứ, một loại, không xen lẫn thứ khác, loại khác vào. Thuần Mật có nghĩa là chỉ chuyên nhứt về Mật Giáo, không pha tạp các loại tín ngưỡng tôn giáo khác.
    Đến thế kỉ thứ 7 sau Tây lịch, khi bộ Kinh Đại Nhựt (tức Đại Tỳ–lô–giá–na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh) được xuất hiện ở Nam Ấn Độ, Mật Giáo mới chánh thức được thành lập. Đây là thời kỳ thịnh vượng của Mật Giáo, với sự xuất hiện của nhiều bậc cao tài về Mật, thi triển được nhiều phép thần thông để cảm hoá dân chúng. Kinh điển của Mật Giáo bắt đầu được ghi xuống một cách có hệ thống hơn vừa có giáo thuyết thuyết giảng, vừa có phần thực hành các bản mật chú, nghi thức tu trì và cúng tế. Sự truyền thừa của Mật Giáo đi khắp các xứ Á Châu được ghi lại rõ ràng, tiện lợi cho việc tra cứu về sau.

  3. Xứ ORISSA: Hiện nay là một tiểu bang ở miền đông của nước Ấn Độ.

  4. Đề-bà: Tiếng Phạn: Deva, có nghĩa là thần tiên, thánh nhân.

  5. Không Tôn: Trường phái chủ trương tất cả đều không. Tương tự như lập trường Không Lý, Tánh Không.

  6. Nhứt Pháp Giới: Hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc có hoặc không, chơn thật hay hư vọng, hoặc đã biết hoặc chưa biết, đều gọi là pháp giới (pháp giới: thế giới của pháp). Nhứt Pháp Giới (còn gọi “nhất tâm pháp giới” hay “độc nhất pháp giới”) là chỉ cho chân lý độc nhất vô nhị, tuyệt đối bình đẳng. Nói cho gọn, Nhứt Pháp Giới là chân lý duy nhứt.

  7. Tác pháp: Cử hành nghi lễ tôn giáo, thi triển pháp thuật.

  8. Thọ đại giới: Thọ nhận giới luật để trở thành Tỳ-kheo, hay Tỳ-kheo ni.

  9. Tướng Tôn: Còn gọi là Pháp Tướng Tông. Trường phái chuyên nghiên cứu về Tướng trạng, hình tướng của các Pháp.

  10. Kiến lập: Xác quyết, thiết lập.

  11. Pháp ngữ: Những lời giảng về pháp tu, ngôn ngữ thuyết pháp.

  12. Pháp Tướng: Tướng trạng, hình tướng của các pháp. Mỗi sự vật có hình tướng riêng biệt hiện ra bên ngoài và thể tánh không hình tướng.

  13. Sa di: Tiểu tăng, tiểu sa-môn, chú tiểu. Sa di là người nam xuất gia trong tăng đoàn của Phật Giáo, tuổi từ bảy tới mười chín tuổi.

  14. Giáo tướng và sự tướng: (Xem Chương V: Phương pháp tu hành)

  15. Đắc pháp: Hiểu biết thấu đáo và thực hành giáo pháp thành công.

  16. Phát kiến: Tìm ra, phát hiện ra.

  17. Minh định: Làm cho sáng tỏ, xác định rõ ràng.

  18. Tam Luận: Tam Luận tông, tên gọi một tông phái của Phật Giáo Trung Quốc.

  19. Thiên thai: Thiên Thai tông, tên gọi một tông phái của Phật Giáo Trung Quốc.

  20. Lịch Số: Bộ môn chiêm tinh, lấy số tử vi, coi ngày lành tháng tốt.

  21. Yếu điển: Kinh điển quan trọng.

  22. Đông Mật, Thai Mật: (Xem phần MẬT TÔNG TẠI NHẬT)