Trang 1 trong tổng số 2 trang

Tài Phiệt Thế Giới*

Chưa xemĐã gửi: Thứ 2 Tháng 9 23, 2013 12:54 pm
gửi bởi Oligarch
Ai là người thống trị nền kinh tế, chính trị của thế giới và tạo lập các chánh phủ trên quả địa cầu này?

Đề tài tham khảo sau khi đọc loạt bài về gia tộc tài phiệt dưới đây:
Gia tộc tài phiệt có phải là người nắm thiên mệnh, làm việc cho thiên cơ hay không? Hay là người chống Trời?
Mời các bạn đọc đóng góp ý kiến.

Tóm tắt từ Wikipedia và các trang mạng khác.

Gia tộc Rothschild là một gia tộc gốc Do thái, định cư bên Đức. Rothschild cha và năm người con của ông đã tạo nên một đế chế Tài chính - ngân hàng tại châu Âu bắt đầu từ cuối thế kỷ 18, được hoàng đế nước Đức và nữ hoàng Victoria nước Anh phong làm quý tộc.
Tên của gia tộc này gắn liền với 5 chi nhánh ngân hàng Rothschild ở 5 nơi là đầu tàu của châu Âu do 5 người con của Meyer Rothschild nắm giữ: Con trai cả Amschel điều hành ngân hàng gia tộc Rothschild tại Frankfurt - Đức. Người con thứ hai, Salomon Rothschild, đi xây dựng chi nhánh khác của gia tộc ở Vienna - Áo (S.M Rothschild & Sons). Nathan, người thứ ba, đi khai phá chi nhánh ngân hàng Rothschild tại London. Calmann, người con thứ tư xây dựng chi nhánh Napoli - Ý và con trai thứ 5 xây dựng chi nhánh thứ 5 tại Paris. Gia tộc này đã biết lợi dụng các cuộc chiến tranh ở châu Âu và chiến tranh thế giới để tạo dựng cơ đồ bằng sự thôn tính các ngân quỹ quốc gia ở châu Âu.

Trong những năm 1800, khi lên đến đỉnh cao danh vọng, người ta cho rằng gia đình Rothschild đã sở hữu một khối tài sản lớn nhất thế giới khi đó nói riêng và trong toàn bộ lịch sử thế giới hiện đại nói chung. Tài sản của họ là các công cụ tài chính, xoay vòng trên toàn thế giới như cổ phiếu, trái phiếu và nợ.

Nhà Rothschild đã thu lời đáng kể từ trước cuộc chiến tranh Napoleon (1803-1815), họ cũng giành vị thế số một về buôn bán vàng trong thời kỳ này.
Tại London từ năm 1813-1815, Nathan Mayer Rothschild đã độc lập hỗ trợ tài chính trong cuộc chiến tranh với quân Anh, tổ chức chu cấp tài chính bằng đường biển cho quân đội Anh xuyên qua châu Âu, cũng như thu xếp cho tài chính của các công ty con tại lục địa của vương quốc Anh.

Mạng lưới tình báo riêng của gia tộc Rothschild cung cấp cho họ những thông tin chính trị và tài chính cũng như những lợi thế trên thị trường. Thí dụ như Nathan R. ở London đã nhận thông tin về chiến thắng của trận Waterloo một ngày trước khi chính phủ Pháp và Anh nhận tin. Lợi dụng điều này Nathan Rothchild đã mua hết thị trường trái phiếu của chính phủ Anh với giá rất thấp. Sau khi chiến thắng của quân Anh được phổ biến cho công chúng, các trái phiếu được bán lại với giá rất cao, chỉ sau hai năm khoảng tiền lời lên đến 40% giá trị mua vào, một khoản tiền khổng lồ vào thời đó.
Sau đó những năm 1825-26, Nathan Rothchild có khả năng cung cấp đủ tiền cho ngân hàng Anh để tránh một cuộc khủng hoảng thị trường thanh khoản (thiếu tiền mặt).

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 2 Tháng 9 23, 2013 1:17 pm
gửi bởi LeNguyen
Con kính cảm ơn Thầy Oligarch đã đưa ra đề tài về giới nắm giữ kinh tế, và chính trị thế giới hiện nay.
Con kính xin được đóng góp tài liệu về gia tộc R.

Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing
“CHIẾN TRANH TIỀN TỆ” đề cập đến một cuộc chiến khốc liệt, không khoan nhượng và dai dẳng giữa một nhóm nhỏ các ông trùm tài chính - đứng đầu là gia tộc Rothschild - với các thể chế tài chính kinh tế của nhiều quốc gia. Đó là một cuộc chiến mà đồng tiền là súng đạn và mức sát thương thật là ghê gớm.

Nhóm tài phiệt ngân hàng này đã tạo ra một cơ chế kiểm soát nguồn cung ứng tiền tệ xuyên quốc gia, thực hiện các chính sách bơm tiền vào các nền kinh tế đang tăng trưởng để rồi chích nổ quả bong bóng kinh tế để thu lợi. Nguồn tài sản họ thu được có thể là dầu khí, bất động sản, nền công nghiệp quốc phòng, đất nông nghiệp… Tất cả có thể được quy đổi thành vàng hay tiền mặt tuỳ theo vận trù của họ. Kết quả là sau mỗi lần “xén lông cừu” các nhà tài phiệt này lại giàu có hơn, uy lực càng ngày càng được củng cố hơn trên thị trường tài chính quốc tế...

Việt Nam vừa mới hội nhập vào nền kinh tế thế giới và mặc dù đồng tiền chưa được chuyển đổi tự do nguồn vốn đầu tư quốc tế còn hạn chế nhưng tình trạng lạm phát kinh tế hiện tượng bong bóng trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản đang xuất hiện và đang tạo ra tình trạng bất ổn trong đời sống xã hội. Theo ước tính, trong vòng mấy tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007 đã có tới 10 tỷ đô-la Mỹ được rót vào thị trường chứng khoán, kéo theo hơn 350 nghìn tỉ đồng của các nhà đầu tư trong nước nhập cuộc. Khi hai thị trường chứng khoán và bất động sản được bơm vốn quá lớn tạo ra hiện tượng bong bóng và gây lạm phát cao, chính phủ buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ. Và đây cũng là lúc các tổ chức tài chính nước ngoài thu hồi vốn đầu tư khiến thị trường chứng khoán mau chóng suy sụp và thị trường bất động sản đi vào giai đoạn đóng băng nặng nề nhất.

Hoạt động chinh phục Châu Âu:
Nathan (người con thứ ba) chinh phục Anh - 1815.
Trận Waterloo năm đó không chỉ là cuộc quyết đấu giữa Anh và Pháp mà còn là canh bạc lớn của hàng vạn nhà đầu tư, tất cả mọi người đều chờ đợi kết quả cuối cùng của trận Waterloo trong lo âu. Nếu nước Anh thất bại thì giá trái phiếu sẽ rớt xuống đáy vực; còn nếu thắng, trái phiếu của quốc gia này sẽ tăng giá ngút trời xanh. Nathan R. nhờ biết được kết quả trận chiến trước chính phủ Anh và Pháp một ngày nên đã thâu mua tất cả trái phiếu của Anh sau khi đã làm cho nó rớt giá, và bán nó lại với giá cao, kiếm được một lượng tiền lớn, và sau đó đã trở thành chủ nợ của nước Anh, chi phối quyền phát hành công trái của xứ này.
Nathan đã không cần che đậy vẻ kiêu ngạo khi chinh phục được đế quốc Anh:
"Tôi chẳng cần quan tâm con rối Anh nào đang thống trị đế quốc mặt trời không bao giờ lặn này. Ai khống chế được việc cung ứng tiền tệ của đế quốc Anh thì người đó khống chế được đế quốc Anh, mà người này chẳng ai khác ngoài tôi."

James (con út) chinh phục Pháp - 1818:
Năm 1818, dòng họ Rothschild đã ngấm ngầm mua vào các công trái Pháp trên tất cả các thị trường lớn ở châu Âu khiến cho công trái của nước này bắt đầu tăng giá. Sau đó bắt đầu từ ngày 5 tháng 11, họ lại đồng loạt bán các trái phiếu này với số lượng lớn ra tất cả các thị trường châu Âu, khiến giá trị trái phiếu mất giá gây nên sự hoang mang cực độ cho thị trường. Vua Louis 18 cho triệu anh em nhà James đến ngay lập tức. Chỉ với một cái búng tay của anh em James, thị trường trái phiếu đã bình ổn trở lại. Từ đó dòng họ Rothschild đã khống chế được hoàn toàn nền tài chính Pháp.

"Tài sản của các ngân hàng khác tại Pháp cộng lại vẫn thấp hơn 150 triệu francs so với khối tài sản của James. Và nguồn tài sản này đem lại cho ông quyền lực cao siêu đến mức bất cứ lúc nào cũng có thể khiến cho nội các chính phủ tan vỡ”

Salomon (người con thứ 2) chinh phục Áo - 1848:
Năm 1848, Salomon đã trở thành ông trùm kinh tế và tài chính của Áo. Ngân hàng Rothchild đã hỗ trợ cho việc Áo đưa quân đi khắp nơi gọi là để "bảo vệ hoà bình". Ảnh hưởng của Salomon tại Áo mạnh đến nỗi người Áo có câu: Nước Áo có một hoàng đế Ferdinand và một quốc vương Salomon.

Amschel (con trai cả) - Đức
Amschel nắm giữ vùng Frankfurt và được bầu làm Bộ trưởng tài chính đầu tiên của nước Đức liên bang, năm 1822 được hoàng đế của Áo phong làm Nam tước. Ngân hàng Rothschild ở Frankfurt trở thành trung tâm tài chính của nước Đức.

Calmann (con thứ 4) - Ý:
Calmann xây dựng ngân hàng tại Napoli của Ý. Calmann không những giúp sức cho Metternich phái quân đội đến Ý đàn áp cách mạng mà còn dùng những mánh khóe chính trị xuất sắc buộc chính phủ địa phương của nước này phải thừa nhận đã sử dụng chi phí của quân đội. Calmann dần dần trở thành trụ cột tài chính trong hoàng cung của nước Ý, và quan hệ giao thương với Vatican.

Một quy chế gia tộc hà khắc, lý trí lạnh lùng sáng suốt, tham vọng quyền lực và tiền tài vô hạn, sự hiểu biết thấu đáo về tiền bạc và của cải cũng như khả năng dự đoán thiên tài đã giúp cho dòng họ Rothschild xây dựng nên một đế chế tài chính lớn nhất trong lịch sử loài người..., cho dù vương quốc đó đã từng nằm trong vòng xoáy khốc liệt và tàn bạo của tài chính, chính trị và chiến tranh suốt hơn hai trăm năm qua.

Đến đầu thế kỷ 20, tổng số của cải mà dòng họ Rothschild khống chế đã bằng một nửa tổng của cải thế giới lúc bấy giờ.


(còn tiếp)

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 2 Tháng 9 23, 2013 2:16 pm
gửi bởi LeNguyen
Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing

Đối với các ngân hàng, chiến tranh là một thông tin vô cùng tốt lành. Bởi các sản phẩm hay các thiết bị đắt tiền phải khấu hao dần dần trong thời bình sẽ tan thành mây khói trong tức khắc, các bên tham chiến sẽ không tiếc bất cứ giá nào để đạt được thắng lợi cuối cùng, đến khi chiến tranh kết thúc, chính phủ dù là của bên thắng hay thua đều bị lún sâu vào vòng nợ nần của các ngân hàng.
Việc giật dây gây chiến và tài trợ cho chiến tranh phù hợp với lợi ích căn bản của ngân hàng nhất là của dòng họ Rothchild. Từ cuộc đại cách mạng Pháp (1789) đến chiến tranh thế giới lần thứ hai, hầu như đằng sau cuộc chiến tranh cận đại nào cũng đều thấp thoáng bóng dáng của họ. Dòng họ Rothschild hiện là chủ nợ lớn nhất của các quốc gia phát triển ở phương Tây.

Trước khi qua đời, phu nhân của Rothschild cha nói rằng: “Nếu các con trai của ta không thích có chiến tranh, thì sẽ chẳng có ai còn nhiệt tình với chiến tranh nữa”.

Đến giữa thế kỷ 19, quyền phát hành tiền tệ của ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Áo, Ý đều lọt vào tầm khống chế của Rothschild, “Quân quyền thần thánh đã bị kim quyền thần thánh thay thế”, và họ bắt đầu đế ý đến Châu Mỹ.

Nắm quyền tại Mỹ
Khi thấy thực lực của nước Mỹ ngày càng mạnh, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế bắt đầu kích động nội chiến và chia cắt nước Mỹ.

Bismarck - Thủ tướng Đức, người có dây mơ rễ má với dòng họ Rothschild - đã nói rất chính xác rằng “Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc nội chiến chia tách nước Mỹ làm hai nửa liên bang có thực lực tương đối yếu đã được các thế lực tài chính châu Âu hoạch định từ rất sớm”.

Để kích động nội chiến, họ hợp tác với chính trị bản địa tạo ra đủ loại tin tức và dư luận để miền Nam tách khỏi liên bang, và đã thành công tạo mâu thuẫn về vấn đề nô lệ không thể dung hòa giữa hai miền Nam Bắc. Trong quá trình kích động nội chiến, chiêu thức quen dùng là 'bắt cá hai tay', bất kể ai là kẻ chiến thắng, họ đều có lợi. Ngân hàng Rothschild bên Pháp hỗ trợ tài chính cho miền Nam, ngân hàng Rothschild bên Anh tài trợ cho miền Bắc. Quốc khố của nước Mỹ đã thâm hụt kể từ khi cuộc chiến tranh với Anh kết thúc năm 1812, mọi khoản thâm hụt của chính phủ Mỹ đều được đem bán cho ngân hàng dưới hình thức công trái, và ngân hàng lại chuyển tiếp cho Ngân hàng Rothschild ở Anh và ngân hàng Paris (đây là một hình thức mua bán nợ chính phủ). Như vậy, chính phủ Mỹ phải chi trả lợi tức khá cao, và những khoản nợ tích luỹ nhiều năm như thế này đã tạo ra gánh nặng nợ nần cho chính phủ.

Các ngân hàng đã đề xuất ra một kế hoạch tài chính trọn gói và đưa ra điều kiện của mình. Khi nghe đến khoản lãi yêu cầu từ 24% đến 36% của các ngân hàng, tổng thống A. Lincoln đã mời ngay các ngân hàng ra khỏi cửa trong cơn tức giận bầm gan tím mật. Đây là một chiêu độc nhằm đẩy chính phủ Mỹ rơi vào cảnh phá sản hoàn toàn, và Lincoln biết rằng người dân Mỹ mãi mãi không thể trả hết khoản nợ hàng nghìn tỉ này.

Việc hoàn trả hết các khoản nợ cũng đồng nghĩa là đã phá huỷ toàn bộ sự lưu thông tiền tệ, âm mưu của các ngân hàng quốc tế trong việc thiết lập một mô hình ngân hàng ở Mỹ theo kiểu Ngân hàng Anh cuối cùng đã trở thành hiện thực. Từ đây, lợi tức lâu dài từ các khoản nợ của chính phủ Mỹ sẽ chảy vào túi các ngân hàng, và nó chẳng khác nào một sợi thòng lọng ngày càng siết chặt vào cổ nhân dân Mỹ.

Tại Mỹ, “quyền lực thần thánh của đồng tiền cũng dần làm tan rã dân quyền thiêng liêng”. Sau những cuộc đối đầu kịch liệt kéo dài hàng trăm năm với chính phủ dân cử của nước Mỹ, các ngân hàng quốc tế đã chiếm thế thượng phong.

Năm 1963, sau khi tổng thống Kennedy bị ám sát, chính phủ Mỹ cuối cùng đã mất đi quyền phát hành “đô-la Mỹ bạc trắng”. Muốn có được đồng đô-la, chính phủ Mỹ cần phải đem công trái của người dân Mỹ thế chấp cho Cục Dự trữ Liên bang, còn “phiếu dự trữ liên bang” do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ phát hành chính là đồng “đô-la Mỹ”.

(còn tiếp)

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 2 Tháng 9 23, 2013 2:28 pm
gửi bởi LeNguyen
Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing

"Chỉ cần khống chế được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia, tôi sẽ không phụ thuộc bất cứ thứ pháp luật nào do ai đặt ra". Đây là lời nói của Meyer Rothschild, ông tổ của hệ thống ngân hàng liên quốc gia hiện đại ngày nay.

Chiến tranh luôn cần đến tiền. Do chính phủ Âu - Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ nên nguồn tiền tất yếu chỉ có thể được vay từ ngân hàng. Bởi vậy mà một điều dễ hiểu là tại sao chiến tranh luôn là đề tài yêu thích nhất của các ngân hàng. Họ hoạch định chiến tranh, kích động chiến tranh, đầu tư cho chiến tranh, và những lâu đài hoa lệ của các ngân hàng quốc tế lại thường được xây trên đống đổ nát chồng chất tang thương của chiến tranh.

Năm 1812, việc Ngân hàng thứ nhất của nước Mỹ bị giải thể đã dẫn đến sự báo thù của gia tộc Rothschild đồng thời làm bùng phát cuộc chiến tranh giữa Anh và Mỹ. Cuối cùng chính phủ Mỹ chịu nhượng bộ và lập nên ngân hàng thứ hai.

Năm 1837, tổng thống Jackson xoá bỏ Ngân hàng thứ hai của Mỹ. Các nhà tài phiệt ngân hàng lập tức bán đổ bán tháo công trái Mỹ trên thị trường London, thu hồi các khoản cho vay, khiến cho nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái nghiêm trọng và tình trạng này kéo dài mãi cho đến năm 1848.

Trong các năm 1857, 1870, 1907, vì muốn ép chính phủ Mỹ xây dựng lại ngân hàng Trung Ương tư hữu, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế lại một lần nữa cùng nhau tạo nên khủng hoảng tài chính. Cuối cùng, họ đã thành lập nên ngân hàng trung ương tư hữu - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - từ đó hoàn toàn khống chế quyền phát hành tiền tệ của Mỹ.
(Lenguyen: Tuy tên gọi là Cục Dự Trữ Liên bang nhưng thực chất nó là một ngân hàng tư nhân, thuộc về bảy nhà tài phiệt, tay chân của họ Rothschild, là thế lực chủ yếu khống chế nước Mỹ):

Bảy nhà tài phiệt phố Wall: Những người điều khiển hậu trường của Cục Dự trữ Liên bang
J.P. Morgan, James J. Hill, George Berk (Chủ tịch First National Bank) trực thuộc Tập đoàn Morgan; bốn người còn lại gồm John Rockefeller, William Rockefeller, James Stillman (Chủ tịch National City Bank), Jacob Schiff (công ty Kuhn Loeb) trực thuộc Tập đoàn Standard Oil Cities Bank. Sự phối hợp nhịp nhàng bí mật giữa họ với gia tộc Rothschild của châu Âu cuối cùng đã tạo nên một phiên bản của Ngân hàng Anh tại Mỹ.

Dòng họ Morgan:
Năm 1880, J.P. Morgan đầu tư một lượng lớn vốn nhằm tổ chức lại hoạt động kinh doanh của công ty đường sắt. Năm 1901, J.P. Morgan đã mua lại công ty gang thép Carnegie với giá 500 triệu đô-la, sau đó cơ cấu lại toàn bộ tổ chức này và biến nó thành Công ty gang thép Mỹ (United States Steel Corporation) có giá thị trường hơn 1 tỉ đô-la.

Rockefeller: Vua dầu mỏ
Việc buôn bán dầu mỏ của John Rockefeller bắt đầu từ thời kỳ nội chiến Mỹ (1861 - 1865), và mãi đến năm 1870, khi công ty dầu mỏ được thành lập thì quy mô làm ăn của ông vẫn thuộc vào hàng thường thường bậc trung. Thông qua ngân hàng Morgan và công ty Kuhn Loe, Rothschild đã khống chế 95% thị phần vận chuyển đường sắt Mỹ, đồng thời Jacob Schiff đang có dự định thành lập công ty South Improvement Company nhằm cung cấp dịch vụ vận chuyển giá rẻ cho công ty dầu mỏ của Rockefeller, mà dưới sự khống chế giá cước vận chuyển này, chẳng có mấy công ty luyện dầu có thể tiếp tục sinh tồn. Rockefeller đã nhanh chóng lũng đoạn hoàn toàn ngành dầu mỏ của Mỹ, trở thành “Vua dầu mỏ” thật sự cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Jacob Schiff: Chiến lược gia tài chính của Rothschild
Năm 1865, tròn 18 tuổi, Jacob Schiff đến Mỹ sau một thời gian thực tập ở ngân hàng Rothschild. năm 1875, Jacob liên kết với công ty Kuhn Loeb và trở thành thành viên chủ chốt của công ty.
Dưới sự ủng hộ của đế chế Rothschild hùng mạnh, cuối cùng công ty Kuhn Loeb đã trở thành một trong những ngân hàng đầu tư nổi tiếng nhất cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

James J. Hill: Vua đường sắt
Năm 1873, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đột ngột siết chặt nguồn tài chính đối với Mỹ đồng thời bán tháo công trái của nước này. Điều đó khiến cho công trái đường sắt Mỹ lâm vào cảnh chợ chiều. Ngay khi cuộc khủng hoảng kết thúc vào năm 1879, dòng họ Rothschild lập tức trở thành chủ nợ lớn nhất của ngành đường sắt Mỹ. Chỉ cần cao hứng một chút, nhà tài phiệt này có thể bóp chết mạch máu tài chính của bất kỳ công ty đường sắt nào của Mỹ.
Trong bối cảnh đó, James J. Hill - một thương gia khởi nghiệp với nghề vận chuyển đường sắt bằng hơi nước và than đá - buộc lòng phải đầu quân dưới trướng của các nhà tài chính để có thể sinh tồn và lớn mạnh trong sự cạnh tranh khốc liệt của ngành đường sắt. Với sự ủng hộ của Morgan, James J. Hill đã thực hiện kế hoạch thôn tính hàng loạt công ty đường sắt đang lâm vào cảnh phá sản sau cuộc khủng hoảng năm 1873.
Đến năm 1893, giấc mơ được nắm giữ ngành đường sắt xuyên Mỹ của James J. Hill cuối cùng đã trở thành hiện thực.

Anh em nhà Warburg (1868-1932), đại diện cho gia tộc R. tại Mỹ là Paul Warburg, chủ tịch FED đầu tiên.
Anh cả Max Warburg là cục trưởng cục tình báo Đức, Felix Warburg - em trai thứ ba có cổ đông cao trong Kuhn Leob Co. Người em út là Fritz - Nắm chủ tịch sở giao dịch vàng Hamburg-Đức. Toàn bộ bốn anh em đều là những nhân vật chóp bu trong dòng tộc ngân hàng Do Thái.

Kể từ khi thành lập vào năm 1913 đến nay, FED -Cục Dự trữ Liên bang đã cho thấy một sự thật không thể bao biện rằng các nhà tài phiệt ngân hàng đang thao túng mạch máu tài chính, công thương nghiệp và chính trị của nước Mỹ.

(còn tiếp)

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 3 Tháng 9 24, 2013 11:21 am
gửi bởi LeNguyen
Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing

Chiến Tranh Và Suy Thoái: Mùa Bội Thu Của Ngân Hàng Quốc Tế

Thông qua việc khống chế nguồn cung ứng tiền tệ để dễ bề điều khiển chính phủ, các nhà tài phiệt ngân hàng càng có cơ hội để bóc lột người dân và cướp bóc nguồn tài nguyên của quốc gia. Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế này cũng như gia tộc Rockefeller chính là thế lực khống chế phần lớn báo chí của đất nước. Họ sử dụng những chuyên mục bình luận trên các báo này để kiềm chế các quan chức chính phủ. Những người không quy thuận sẽ bị họ tống khứ ra khỏi cơ cấu chính phủ (Lenguyen: thậm chí ám sát!)

Trên thực tế, các nhà tài phiệt ngân hàng đã khống chế cả hai đảng Cộng hoà và Dân chủ, kiểm soát cương lĩnh chính trị của hai đảng, khống chế các nhân vật lãnh đạo, tin dùng các ông trùm của các công ty tư nhân. Nói chung, họ không từ bất cứ thủ đoạn nào để sắp đặt nhân sự trong các cơ quan cấp cao của chính phủ theo ý của họ

Câu lạc bộ Bilderberg - Nơi đào tạo chính phủ thế giới

Câu lạc bộ Bilderberg được lấy tên từ một khách sạn của Hà Lan, do ông hoàng người Hà Lan, Bernhard sáng lập vào năm 1954. Câu lạc bộ Bilderberg là “phiên bản quốc tế” của Hội đồng quan hệ quốc tế Mỹ, do các nhà tài phiệt ngân hàng, chính trị gia, lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà báo và các học giả nổi tiếng tạo nên. Tất cả các thành viên này đều do Rothschild và Rockefeller chọn ra. Trong đó rất nhiều người còn là thành viên của Hội đồng quan hệ quốc tế Mỹ, hiệp hội Pilgrims Society, hiệp hội bàn tròn và cả uỷ ban ba bên. Câu lạc bộ Bilderberg này hầu như đã kiểm soát hết toàn bộ hệ thống tổ chức của hiệp hội châu Âu hiện có trong liên minh châu Âu. Mục đích cuối cùng của họ chính là xây dựng một chính phủ thế giới.

Các nhân vật tinh anh trong những tổ chức này bao gồm những nhân vật có thế lực đủ để làm xoay chuyển cục diện thế giới như Henry Kissinger - cựu Bộ trưởng ngoại giao Mỹ, D. Rockefeller của uỷ ban quốc tế J.P. Morgan, Nelson Aldrich Rockefeller, hoàng tử Phillip của Anh, McNamara - Bộ trưởng quốc phòng Mỹ thời tổng thống Kennedy và sau này là Giám đốc điều hành của Ngân hàng thế giới, bà Thatcher - cựu Thủ tướng Anh, Valéry Giscard d’Estaing - cựu tổng thống Pháp (chính là người đã lên kế hoạch cốt yếu về hiến pháp châu Âu), Donald Rumsfeld - Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Brzezinski - cựu cố vấn an ninh quốc gia, Alan Greenspan - Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, và Keynes - nhân vật nổi tiếng trong giới ngân hàng một thời. Ông chủ Ngân hàng quốc tế chính là ông chủ đứng đằng sau tất cả những tổ chức này.

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 3 Tháng 9 24, 2013 12:42 pm
gửi bởi LeNguyen
Theo wikipedia.org/wiki/Illuminati

Illuminati, Freemasons và Gia tộc Rothschild (R)
Illuminati (Tiếng Latin "giác ngộ, khai sáng" - hay "Những người được thần linh khai sáng") là tên của một số tổ chức liên hiệp bí mật có thật trong lịch sử và được khai thác nhiều trong các tác phẩm giả tưởng. Trong lịch sử, hội Illuminati chính thống phát sinh từ ngày 1 tháng 5 năm 1776 tại khu Bavaria vào thời kỳ Khai sáng ở châu Âu. Trong nhiều tiểu thuyết và phim ảnh ngày nay, tổ chức Illuminati thường được nêu lên như những thế lực bí mật nằm sau các chính quyền và công ty thương mại khổng lồ, điều khiển mọi lĩnh vực của thế giới từ tôn giáo đến kinh tế và chính trị. Những người tin vào giả thiết âm mưu rằng Hội Illuminati là động lực tạo nên phong trào Trật Tự Thế Giới Mới.

Tổng hợp trên các mạng:
*Các hội viên đều được tuyển chọn trong những phần tử trí thức và quyền quí. Mỗi hội viên khi gia nhập đều phải qua 1 nghi lễ rửa tội và nhận 1 con vật làm hộ mệnh. Mục tiêu của hội này là triệt hạ tất cả những tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo để xây dựng 1 tòa nhà lý tưởng cho nhân loại.
Không dừng lại thời xa xưa đó, Illuminati ngày nay còn được xem là đã xâm nhập tận trong các trung tâm quyền lực ở Mỹ. Marcus Allen của tờ Nexus Magazine cho rằng toàn bộ hệ thống chính trị ở Hoa Kỳ và Anh là do… một nhóm trí thức ưu tú thuộc Illuminati kiểm soát.

*Illuminati tỏa ra khắp các nước châu Âu dưới dạng nhóm bán công khai. Ở Anh có hội Fabian và hội Round Table; ở Mỹ có Hội đồng Ngoại giao. Illuminati còn được xem là có chân trong Câu lạc bộ Rome mà đằng sau các tổ chức này là một thành phần cốt yếu gồm các nhà băng quốc tế; đặc biệt là các tập đoàn tài chính Rothschild và Rockefeller.


(Wikipedia) Nhiều tác giả đưa ra chủ thuyết Âm mưu cho rằng những biến cố xảy ra trên thế giới - từ kinh tế, tôn giáo đến chính trị, quân sự - là do những tổ chức có thế lực kín đáo nằm sau các chính phủ gây ra theo kế hoạch bí mật. Họ còn cho rằng Winston Churchill, và gia đình tổng thống Bush, Barack Obama, gia đình Rothschild, David Rockefeller và Zbigniew Brzezinski thuộc về tổ chức bí mật này.

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 5 Tháng 9 26, 2013 1:36 pm
gửi bởi thanhson
Rothschild đến Việt Nam và những suy nghĩ
sưu tầm internet - ngày 14-4-2009

Hôm qua đọc được tin này: Thêm một ngân hàng nước ngoài đến Việt Nam. Lần này là Ngân hàng Rothschild. Tôi chợt nhớ đến một quyển sách mà mình đã đọc cách đây một thời gian, cuốn Currency Wars – Chiến tranh Tiền tệ. Giở quyển sách ra đọc lại, vẫn có cảm giác như lần đầu đọc: một sự pha trộn giữa ngạc nhiên, thán phục và sờ sợ. Bỗng nhiên muốn viết một cái gì đó.

Chúng ta thường hay nghe nói đến Citybank, HSBC hay là… Vietcombank, nhưng chắc là không nhiều người biết đến cái tên NM Rothschild & Sons Ltd. Thật ra đây là một cái tên rất nổi tiếng trong ngành tài chính thế giới, tên của một gia tộc mà sự phát triển của gia tộc này gần như gắn liền với các sự kiện chi phối lịch sử thế giới mấy trăm năm nay.

Nếu chúng ta biết được Cục Dữ Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (FED) bị chi phối bởi những ngân hàng tư nhân, và biết được rằng ai là kẻ đứng đằng sau các cuộc chiến tranh, khủng hoảng tài chính… Như trong quyển Currency Wars đã nói, nếu chúng ta tin rằng Bill Gates là người giàu nhất thế giới thì chúng ta đã là một trong những khán giả của màn kịch lớn nhất thế giới.

Thời điểm đó những điều này làm tôi vô cùng hứng thú và say sưa tìm đọc tất cả những tài liệu liên quan đến vấn này....

Đọc những câu chuyện về sự hình thành của gia tộc Rothschild, một gia tộc đã âm thầm cai quản một ngai vàng quyền lực, chi phối tất cả mọi hoạt động của thế giới. Tất cả những vấn đề vĩ mô nhất, như chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, các chính sách phát triển kinh tế của các vị vua, tổng thống… đều bị sự chi phối của những kịch bản của các tập đoàn tài chính này, mà trong đó Rothschild như là một ông trùm của thế giới ngầm.

Vào đầu thế kỷ 19, khi cuộc chiến giữa Anh và Pháp đang dần đi đến hồi quyết định, trận quyết chiến giữa Napoleon và Wellington ở Waterloo đang bắt đầu diễn ra, kết quả của trận chiến này sẽ quyết định cục diện châu Âu khi đó, nước nào sẽ “thắng làm vua” và nước nào sẽ “thua làm giặc”. Đây cũng là câu chuyện mà tôi thích nhất khi đọc về gia tộc Rothschild. Trong trận chiến này, Rothschild đã xây dựng được những mạng lưới tình báo và gián điệp ở cả 2 phía, và trớ trêu mà mạng lưới tình báo của Rothschild còn hiệu quả hơn cả của quân đội.

Khi đã xác địch được kết quả chiến cuộc ở Waterloo (rằng Napoleon sẽ thua). Các gián điệp của Rothschild tức tốc đưa thông tin này về cho Nathan Rothschild – đầu não của gia tộc này ở London – từ đó ông biết thông tin quý báu này trước tất cả những nhà đầu tư khác ở thị trường chứng khoán London – khi đó đang hồi hộp ngóng chờ kết quả trận chiến. Chính vì sự đi trước này, kết hợp những kỹ năng, chiêu thức (và cả thủ đoạn) của mình, Rothschild đã làm cho mọi người tin rằng nước Anh đã thua trận, khiến người ta bán thốc bán tháo trái phiếu của Anh đi, trước khi chúng biến thành giấy vụn. Đúng thời điểm đó, người của Rothschild đã mua vào tất cả với giá gần như cho không. 1 ngày sau tin tức chiến thắng của Wellington mới về đến và lúc này Rothschild đã gần như thâu tóm tất cả trái phiếu chính phủ của Anh. Rothschild trở thành chủ nợ lớn nhất của nước chiến thắng. Wellington chiến thắng trên chiến trường để đưa Rothschild đi qua khải hoàn môn của quyền lực vô hình. Từ đó gia tộc này xây dựng một tập đoàn tài chính hùng mạnh cho tới tận ngày hôm nay. Và hôm nay, tập đoàn này đến Việt Nam.…

Trước đây tôi thường thắc mắc không hiểu vì sao người ta lại có các khoảng vay ưu đãi cho các nước khác, rằng vì sao có những khoản viện trợ ODA, vì sao World Bank hay IMF lại thường đưa ra những khoản chi hào phóng cho các dự án của các chính phủ nước nghèo… Nhưng càng đọc càng hiểu hơn, và biết rằng đó là những cạm bẫy ngọt ngào mà các nhà tài phiệt thế giới ru ngủ các chính phủ. Để rồi đến một lúc nào đó những chính phủ này phải chịu sự chi phối của tổ chức này.

Không cần nhìn đâu xa, mới vừa đây thôi thị trường chứng khoán Việt Nam đã giáp mặt với một cuộc khủng hoảng tương tự. Khi mà người ta bơm tiền vào thị trường để gây nên những giá trị ảo cho các công ty, đẩy những cổ phiếu các công ty đi quá xa so với giá trị thực sự của nó, dẫn đến các nhà đầu tư Việt Nam bỗng một đêm trở nên giàu có – tôi có những người bạn chỉ dành ra 500 triệu để đầu tư và có thời điểm họ có trong tay đến hàng chục tỷ. Đẩy theo các giá trị khác tăng theo, mà điển hình nhất là các giá trị đất đai, khi mà người ta mua nhà ở không phải vì nhu cầu chỗ ở mà là vì những giá trị ảo do chính những người mua đẩy lên. Cho đến một thời điểm thích hợp, khi mà những bàn tay vô hình này rút vốn ra khỏi thị trường thì tất cả những giá trị đó rớt không phanh rơi rớt hơn cả giá trị thật sự của nó, dẫn đến làn sóng thua lỗ, phá sản của hàng loạt người, thậm chí người ta có cảm giác khiếp sợ về chứng khoán, nghĩa là đâm đầu vào thì chỉ có chết. Đó chính là thời điểm đỏ sàn vừa qua.

Thời điểm “huy hoàng ảo” của chứng khoán ấy, tôi từng thấy rất nhiều “nhà đầu tư” xuất thân từ đủ mọi thành phần, từ những công nhân viên văn phòng, những người dân buôn bán rút tiền dành dụm ra đầu tư, đến cả những bà nội trợ cũng đi cầm cố tài sản đi chơi chứng khoán, vì chơi là thắng, mà thắng một thắng mười. Lợi nhuận quá lớn này làm người ta quên đi một điều đơn giản, rằng những khoảng đầu tư nào mà lợi nhuận quá lớn đều có những uẩn khúc của nó, rằng thị trường chứng khoán chỉ là một thị trường luân chuyển tiền tệ, đồng tiền chuyển từ nơi này sang nơi khác, nếu bạn thắng tiền thì tiền đó đến từ đâu? Và ai sẽ mất đi những đồng tiền đó?

Tôi có quen một số người làm việc ở các ngân hàng, một số trong bọn họ đang chinh chiến ở các thị trường như Hongkong, New York… họ được công ty mẹ cử về Việt Nam chỉ để làm một việc là tham gia vào các hoạt động đầu tư của thị trường chứng khoán, dùng các quỹ khổng lồ để kích thích đầu tư. Ngồi nghe họ nói chuyện, tôi tham gia nhiều nhưng chợt rùng mình khi nghĩ đến một điều đơn giản: làm sao những bà nội trợ, những anh công nhân viên chức có thể chiến thắng được những cái đầu này ngay trên chính sân chơi của họ? Thế mà người ta vẫn nghĩ rằng chứng khoán là một mỏ vàng và tất cả mọi người ồ ạt đổ xô đến… nhặt về.

Và kết quả ở thời điểm này, tôi đã chứng kiến không ít bạn bè trắng tay sau canh bạc chứng khoán, và sau đó là địa ốc.

Tôi đứng ngoài những làn sóng này, vì tôi tự xét mình không phải là một chuyên gia tài chính, và tôi nghĩ đơn giản: tôi không thể chiến thắng những cái đầu kia. Tôi dùng tiền của mình để đầu tư vào những lĩnh vực mà tôi hiểu rõ. Có đôi lúc tôi cũng ghen tị khi bạn bè bỗng dưng lên vùn vụt, nhà cửa 2-3 cái, xe cộ bạc tỉ… Nhưng cuối cùng nghĩ đi nghĩ lại, tôi vẫn đứng ngoài. Thế nên bây giờ tôi vẫn sống tương đối khỏe, tôi không phải lo lắng, trầm uất, tiếc nuối…

Nghĩ xa hơn một chút, hàng ngày xem tin tức cứ nhìn thấy những buổi ký kết nhận những khoản vay của chính phủ, những khoản viện trợ mà chính phủ đã nhận từ các nước, các tổ chức trên thế giới. Bỗng thấy lo! Tôi không phải là nhà kinh tế, tôi không hiểu tường tận về kinh tế vĩ mô. Nhưng tôi biết một quy luật đơn giản: không ai cho không ai cái gì, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Chiến lược của các nhà tư bản không phải là vài năm, vài chục năm mà có khi là hàng trăm năm.

Liệu rồi đến một lúc nào đó con cháu chúng ta sẽ chịu sự chi phối của họ? Đến một lúc mà các khoản vay sẽ trở thành khoản vay vĩnh viễn – như vua William Đệ Nhất đã nợ gia tộc Rothschild, để rồi tất cả những khoản đóng thuế của toàn dân Anh chỉ để làm một việc là trả lãi cho Rothschild, để rồi nhà vua đã buộc phải ra những quyết định có lợi cho họ.

Chiến tranh và Hòa Bình *

Chưa xemĐã gửi: Thứ 6 Tháng 9 27, 2013 11:31 am
gửi bởi LeNguyen
Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing

Hoà bình kéo dài, cho dù về mặt lý luận là có thể, nhưng không thể duy trì liên tục. Cho dù có thể đạt được mục tiêu hoà bình, chắc chắn nó cũng không phải là sự lựa chọn tốt nhất của một xã hội ổn định… Chiến tranh là một phương thức đặc biệt khiến xã hội chúng ta ổn định. Trừ khi có được những phương thức mới thay thế, nếu không hệ thống chiến tranh vẫn cần phải được duy trì và tăng cường.

Báo cáo cho rằng, chỉ có trong thời kỳ chiến tranh, hoặc khi bị chiến tranh đe doạ, người dân mới phục tùng chính phủ ở mức độ cao nhất mà không hề oán thán. Sự thù hận đối với kẻ thù và cảm giác lo sợ bị chinh phục cũng như bị kẻ thù cướp bóc khiến cho người dân có thể gánh chịu những khoản thuế và sự hy sinh nặng nề hơn. Chiến tranh còn là liều doping khiến cho người dân càng thêm mạnh mẽ hơn với tinh thần một lòng ái quốc, trung thành và quyết thắng, người dân có thể phục tùng một cách vô điều kiện, bất cứ ý kiến ngược chiều nào cũng sẽ bị cho là hành động phản bội. Ngược lại trong thời bình, người dân sẽ phản đối chính sách sưu cao thuế nặng một cách bản năng và tỏ rõ thái độ chán ghét chính phủ - kẻ can thiệp quá nhiều, quá sâu vào đời sống riêng tư của họ.

Hệ thống chiến tranh không chỉ là nhân tố cần thiết của một quốc gia có hệ thống chính trị tồn tại độc lập mà còn đóng một vai trò thiết yếu đối với sự ổn định chính trị. Không có chiến tranh, tính hợp pháp trong việc thống trị dân chúng của chính phủ sẽ nảy sinh vấn đề. Khả năng xảy ra chiến tranh sẽ tạo cơ sở để một chính phủ có đủ quyền lực. Rất nhiều dẫn chứng lịch sử cho thấy rằng, nếu không bị nguy cơ chiến tranh đe doạ, chính quyền sẽ tan rã. Điều này bắt nguồn từ lợi ích cá nhân, sự oán hận đối với bất công trong xã hội cũng như các yếu tố khác. Khả năng xảy ra chiến tranh có thể trở thành yếu tố tạo ra sự ổn định về chính trị và duy trì kết cấu tổ chức xã hội. Nó duy trì sự phân tầng xã hội rõ ràng, đảm bảo sự phục tùng của nhân dân đối với chính phủ.

Vấn đề là, nếu một khi thế giới thật sự có được “hoà bình vĩnh viễn” thì đâu là lối thoát của xã hội Mỹ? Đây chính là đáp án mà nhóm nghiên cứu bí mật này phải tìm ra. Hay nói cách khác, họ cần phải tìm ra một phương án mới có đủ sức thay thế “chiến tranh” cho nước Mỹ.
Môi trường không ngừng bị ô nhiễm chắc chắn sẽ gây “lãng phí” hết sức lớn về kinh tế; người dân phải cố chịu đựng mức thuế cao và hạ thấp chất lượng cuộc sống, chấp nhận để chính phủ can thiệp vào đời sống riêng tư của cá nhân, tất cả là vì “cứu trái đất”, một vấn đề logic vô cùng.

Hầu hết các khoản vay từ IMF và Ngân hàng thế giới trong thập niên 70 của các quốc gia đang phát triển đều không có tài sản thế chấp, tức là các khoản vay này đều dựa vào tín dụng quốc gia làm bằng chứng, cho nên nếu khủng hoảng nợ xảy ra thì các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế rất khó tiến hành liệu pháp phá sản để thu nợ. Nhưng giờ đây, ngay sau khi những khoản nợ này được chuyển vào Ngân hàng bảo vệ môi trường thế giới, căn cứ vào sổ sách của các nhà ngân hàng quốc tế, những khoản nợ vốn dĩ rất khó đòi này trong chốc lát đã biến thành những tài sản đặc biệt giá trị. Do Ngân hàng bảo vệ môi trường thế giới có đầy đủ đất đai làm vật thế chấp nên một khi các quốc gia đang phát triển không thể hoàn trả nợ thì xét về mặt pháp lý, số đất đai khổng lồ này đã thuộc về Ngân hàng bảo vệ môi trường thế giới, và đương nhiên, các nhà ngân hàng quốc tế kiểm soát Ngân hàng bảo vệ môi trường thế giới sẽ trở thành người chủ thực tế của những vùng đất phì nhiêu này. Nếu nhìn từ quy mô vận động phát triển của nhân loại thì Ngân hàng bảo vệ môi trường thế giới quả thực là có một không hai.

LDĐ:Không có chuyện nước nào vay mà không trả vì đất nước đó đã thuộc về tập đoàn. Liên quan giữa tập đoàn tài phiệt cho các nước vay tiền cũng giống như địa chủ cho nông dân vay lúa giống để trồng lúa, thâu hoạch rồi nộp cho địa chủ. Tất cả các nước đều làm việc cho ngân hàng quốc tế, dân trong nước thì làm việc nộp thuế cho quốc gia để nuôi quốc gia, và quốc gia thì nộp thuế cho ngân hàng quốc tế.

Re: Tài phiệt thế giới

Chưa xemĐã gửi: Thứ 6 Tháng 9 27, 2013 11:53 am
gửi bởi LeNguyen
Bài viết được tóm tắt và viết theo sách: Chiến tranh tiền tệ - Song Hongbing

Đầu những năm 80, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế về cơ bản đã thực hiện được việc “giải thể một cách có kiểm soát” đối với nền kinh tế của các quốc gia thuộc châu Mỹ Latin và các nước phát triển ở Bắc Mỹ.

Nhật Bản được xem là nền kinh tế cất cánh sớm nhất ở châu Á. Xét ở mặt chất lượng tăng trưởng kinh tế, sức cạnh tranh trong xuất khẩu sản phẩm công nghiệp cũng như tốc độ và quy mô tích luỹ tài sản, Nhật Bản là quốc gia phát triển mạnh mẽ khiến cho các nhà ngân hàng quốc tế lo sợ. Và nói như Lawrence Summers - Bộ trưởng tài chính Mỹ dưới thời Bill Clinton thì: “Khu vực kinh tế Đông Á với sự trỗi lên của Nhật Bản đã gây nên sự lo sợ cho đại đa số người Mỹ. Họ lo ngại rằng, nguy cơ từ Nhật Bản thậm chí còn mạnh hơn cả nguy cơ từ Liên Xô”.

Khi cả nước Nhật đang hân hoan với viễn cảnh “Nhật Bản có thể nói không” thì một cuộc chiến nhằm loại bỏ nền tài chính Nhật đã được các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế lập trình sẵn.
Tính từ năm 1990, nền kinh tế Nhật Bản đã rơi vào thời kỳ suy thoái kéo dài mười mấy năm, thị trường chứng khoán sụt giá 70%, giá bất động sản liên tục rớt trong suốt 14 năm liền.
Cuối thập niên 80, họ lại tiếp tục khống chế thành công nền tài chính Nhật Bản. Sau đó, họ lại quay hướng về châu Âu - khu vực trọng điểm cần khống chế - với mục tiêu phá hoại nền kinh tế của các nước Đông Âu và Liên Xô.

Soros là người gánh vác sứ mệnh quan trọng này và đóng vai một nhà từ thiện. Ông ta lập ra rất nhiều quỹ hỗ trợ ở Đông Âu và Liên Xô. Các quỹ này được Soros thành lập dựa theo mô hình của “hiệp hội giải phóng xã hội” mà ông ta khởi xướng ở New York với việc đề cao những khái niệm tự do cá nhân.
Ba Lan, Hungari, Liên bang Nga, Ukraine lần lượt bị cho lên thớt, đến mức nền kinh tế của những quốc gia này 20 năm sau vẫn chưa thể khôi phục hoàn toàn. Điều khác biệt giữa tình hình của các quốc gia Đông Âu so với các quốc gia nhỏ yếu không có sức phản kháng ở châu Phi và châu Mỹ Latin chính là: Liên Xô và Đông Âu đều là các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh đến mức khiến nước Mỹ không thể ngủ yên, vậy mà đành phải bất lực trước cảnh đất nước bị cướp bóc một cách điên cuồng có tổ chức. Điều này quả thực là hiện tượng có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Thế quyền và Giáo Quyền tại Âu Châu *

Chưa xemĐã gửi: Thứ 2 Tháng 9 30, 2013 1:50 pm
gửi bởi Genghis
Nguồn tham khảo: wikipedia, sachhiem.net

Vào thời trung cổ, tại châu Âu, quyền lực của Giáo hoàng bao trùm trên các vua chúa. Các vua muốn lên ngôi cần phải có lễ tấn phong của Giáo Hoàng, Giáo hoàng đứng ra làm lễ, đội vương miện cho thì vua mới được xem là hợp pháp.

Dần dà các vua chúa phát động cải cách về tự do, dân chủ và chống lại Giáo hội công giáo. Để bảo tồn quyền lực và bắt buộc thế quyền phải tôn trọng giáo quyền, Giáo hội công giáo ra tuyên bố GIÁO HOÀNG KHÔNG SAI LẦM (không bao giờ sai) vì ngài là đại diện của Thiên chúa, trong khi vua chúa chỉ là đại diện cho thế gian.

Mặc dù giáo quyền và thế quyền vẫn luôn tranh chấp nhau về quyền thống trị nhưng lại bắt tay nhau trong việc xâm lăng các nước nhỏ trên khắp thế giới để giành đất đai, vơ vét vàng bạc và bắt dân làm nô lệ. Các tu sĩ Thiên chúa giáo còn có nhiệm vụ chinh phục dân bản địa theo đạo thiên chúa bằng cách sát hại tất cả những ai không chịu cải đạo. Qua sự hợp tác với thế quyền Châu Âu đi chiếm các thuộc địa ở khắp nơi mà Thiên chúa giáo phát triển và cùng có mặt với thế quyền Châu Âu ở khắp nơi trên thế giới.

Vào thời huy hoàng nhất của Giáo hội thiên chúa giáo, Nicolo Machiavelli, người Ý thuộc gia đình quý tộc đã bị phá sản, sống vào thế kỷ 15, có viết một quyển sách gọi là Quân Vương, trong đó dạy thuật trị quốc, và ca ngợi những thủ đoạn tàn ác và tinh xảo để chiếm quyền lực của cha con Alexander VI và Cesar Borgia, xem đó là biểu tượng của một quân vương lý tưởng. Quyển sách nầy trở nên nổi tiếng thế giới và là sách gối đầu giường của các lãnh tụ chính trị trên khắp thế giới như: Napoleon, Richelieu, Mussolini, Hitler, Stalin, Bill Clinton …

Alexander VI và Cesar Borgia là ai?
Alexander VI làm Giáo hoàng (thứ 214) do cậu ruột là Giáo hoàng Callitus III (thứ 209) truyền ngôi. Theo Tài liệu của thư viện Anh: với 12 đứa con hoang và vô số nhân tình của Alexander VI, Vatican một lần nữa thành một nhà thổ.
Thế giới La mã thời đó có lời đồn về Alexander VI và hai con trai của ông đã loạn luân với con gái ruột là Lucrece Borgia, sau đó lần lượt gả cô ta cho 3 gia đình quyền lực.
Con trai (ngoại hôn) yêu thích của Giáo hoàng là Cesar Borgia (1475-1507) được ông cho làm hồng y năm 17 tuổi. Năm 18 tuổi thì nâng lên làm chỉ huy quân đội Vatican để bành trướng lãnh thổ của Giáo hoàng.
Việc Alexander VI chia châu Mỹ cho Tây ban nha và Bồ đào nha đã khiến 150.000.000 người dân Bắc Mỹ bị giết và bị bắt làm nô lệ qua nhiều thế kỷ, điều nầy được Giáo hoàng thực hiện nhân danh chúa Kitô của Thiên Chúa Giáo.

Hai cha con Giáo hoàng Alexaner VI cũng nổi tiếng về ăn chơi trụy lạc. Các đại sứ đến điện Vatican cho biết: “Vào tối chủ nhật tháng 10 30 [1501], Công tước Cesar Borjia cho cha mình một bữa ăn tối trong cung điện tông đồ, với 50 kỹ nữ trang phục tươi sáng, nhưng sau đó khỏa thân nhảy múa cho Giáo hoàng và mọi người thưởng thức…”

Về thủ đoạn độc ác của Cesar Borgia, sách Quân vương kể:
Sau khi chiếm cứ xứ Romange, Công tước Borgia giao phó cho Messire Ramy D’Orque việc trừ khử những tiểu vương thời trước và người này đã nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên thay vì tưởng thưởng bậc công thần thì Cesar Borgia vì muốn đổ tội cho Messire, đã ra lệnh chặt thây ông ta ra làm đôi, phơi ở giữa công trường, để cho dân chúng thấy việc trừ khử tàn nhẫn đó đều do thú tính của Messire làm ra chứ không do chính Cesar chủ xướng.
Theo Machiavel, biểu tượng của một quân vương tốt là sự tàn độc kiểu Giáo hoàng Thiên chúa giáo Alexander VI và con trai của ông, đức hồng y Cesar Borgia.

Gia đình các Giáo hoàng vẫn luôn tự cho mình là đại diện của Thượng đế, là bậc thánh thiên và vô ngộ (không bao giờ sai lầm) nhưng lịch sử đã cho thấy, họ đã nhân danh Thiên chúa, không phải để mang lại hòa bình và tình thương như lời họ tuyên truyền, mà là tai họa tàn khốc cho nhân loại với những tội ác tày đình của các Giáo hoàng.

"Lịch sử thế giới ghi nhận: Từ ngày đế quốc La Mã lập ra đạo Công Giáo (Katholicos) vào đầu thế kỷ 4 đến nay, nó đã giết hại trên 200 triệu người..." (http://sachhiem.net/...Thanhkinh.php).

Ngày nay, con người văn minh tiến bộ đã thấy được bộ mặt thật, giả nhân giả nghĩa của Thiên chúa giáo nên Thiên chúa giáo đã càng ngày càng mất uy tín và đang trên đà suy đồi. Cuối cùng thế quyền Âu Châu lẫn giáo quyền Thiên chúa giáo đều không còn là kẻ thống trị thế giới, ngược lại là bị khuynh đảo và thống trị bởi tập đoàn tài chánh thế giới (gia tộc Rothchild).

Đây là danh sách các giáo hoàng La mã dâm loạn và tàn bạo được công khai hóa cho mọi người biết, là một trong những lý do khiến giáo hội Thiên chúa giáo phải lụn bại:

1/ Jean XXIII (1410-1415) thường được gọi là tên sát nhân bại hoại hơn hết từng ngồi trên ngôi Giáo hoàng; khi ông làm Hồng y Giáo chủ ở Boulogne, 200 thiếu nữ, nữ tu sĩ và thiếu phụ đã làm nạn nhân cho mối tình thầm vụng của ông. Làm Giáo hoàng, ông đã hãm hiếp nhiều trinh nữ và nữ tu sĩ; ông phạm tội ngoại tình với chị dâu mình; cũng phạm tội vĩ gian (gian ác lớn) và nhiều tật xấu kinh khủng. Ông dùng tiền bạc mua chức vị Giáo hoàng và bán chức Hồng y Giáo chủ cho con cái những gia đình giàu có.

2/ Nicolas V (1447-1455) cho phép vua Bồ đào nha khai chiến với các dân tộc Phi châu để cướp tài sản của họ và bắt họ làm tôi mọi.

3/ Calixte III (1455-1458)và 4/ Pie II (1458-1464) có rất nhiều con không chánh thức, công khai nói về các phương pháp mình dùng để cám dỗ phụ nữ, khuyến khích thanh niên phóng túng, và thậm chí đề nghị dạy họ những cách thức phóng túng.

5/ Paul II (1464-1471): "Nhà đức Giáo Hoàng đầy dẫy vợ bé." Giáo hoàng Paul II vừa là con vừa là cháu của Giáo Hoàng Eugene IV từ sự loạn luân của Giáo hoàng với người chị ruột của ông ta. Và cũng là cháu ngoại bất hợp pháp của Giáo hoàng Gregory XII. Ông là người thường xuyên tổ chức những buổi truy hoan, là giáo hoàng bị cáo buộc đã lên cơn đau tim chết trong khi đang hoan lạc với nguời tình đồng tính, đồi bại về đạo đức vì giữ những nô lệ tình dục trong tu viện.

6/ Sixte IV (1471-1484) phê chuẩn Tôn giáo Pháp đình thiết lập tại Tây ban nha; ký sắc lịnh tuyên bố rằng tiền bạc sẽ giải cứu linh hồn khỏi nơi luyện tội; dùng chức vị Giáo hoàng để làm giàu cho mình và bà con mình; phong cho 8 người cháu làm Hồng y Giáo chủ trong lúc một số người ấy còn là thiếu nhi; phóng túng, chơi bời ngang với các hoàng đế La-mã (Sê-sa).

7/ Innocent VIII (1484-1492) có 16 con do mấy phụ nữ đã có chồng; gia tăng rất nhiều chức vị trong Giáo hội, đem bán lấy những số tiền lớn; ra sắc lịnh tuyệt diệt giáo phái Vaudois và cử binh đi đánh họ; cử tên Thomas de Torquemada hung bạo làm trưởng đoàn chánh phẩm Tôn giáo Pháp đình ở Tây ban nha, và truyền lịnh hết thảy quan quyền phải nộp kẻ theo tà giáo cho tên ấy; cho phép bò mộng đấu với người tại công trường Thánh Phi-e-rơ...

8/ Alexandre VI (1492-1503) hư hoại nhất trong số các Giáo hoàng của thời Phục hưng Văn nghệ; phóng túng, biển lận, bại hoại, vô luân, tàn bạo.

9/ Jules II (1503-1513) đã mua chức vị Giáo hoàng, vì ông là Hồng y Giáo chủ giàu nhất, thâu lợi tức rất lớn do nhiều địa phận Giám mục và nhiều bất động sản của Hội Thánh. Lúc làm Hồng y Giáo chủ, tuy độc thân nhưng lối sống rất phóng túng.

10/ Léon XIII (1513-1521) - trả giá để được chức vị Giáo hoàng; hết thảy chức vị trong Giáo hội đều đem bán lấy tiền, và còn đặt ra nhiều chức vị mới nữa; cử nhiều con nít mới lên 7 tuổi làm Hồng y Giáo chủ; duy trì triều đình xa hoa và phóng đãng nhất Âu châu; các Hồng y Giáo chủ của ông ganh đua với vua chúa trong những cung điện huy hoàng và những cuộc hoan lạc, có rất đông tôi tớ hầu hạ; nhưng con người dâm đãng ra sắc lịnh tuyên bố rằng mọi người phải đầu phục Giáo hoàng La-mã thì mới được cứu rỗi; cấp phát phiếu ân xá để lấy những số tiền đã được ấn định; tuyên bố việc giáo hội thiêu sống kẻ theo tà giáo là do Ðức Chúa Trời chỉ định.

11/ Adrien VI (1522-1523); 12/ Clément VII (1523-1534) và 13/ Paul III (1534-1549) đều là các giáo hoàng có nhiều con cái ngoại hôn...

Bài liên quan:
[*] Trao đổi với hội thánh tin lành - Văn Biền